Danh mục

  • 4 Chủ Đề
    10 Bài Viết
    adminA
    Đà lạt đang mùa hồng ...
  • Thư giãn sau những giờ phút mệt mỏi cùng những món ăn tinh thần bổ ích.

    4 Chủ Đề
    5 Bài Viết
    adminA
    Tổng hợp 260 từ ngữ thông dụng của dân Saigon xưa nói riêng & người miền Nam ngày nay nói chung ! À nha = thường đi cuối câu mệnh lệnh dặn dò, ngăn cấm (không chơi nữa à nha) Áo thun ba lá, áo ba lỗ = Áo may ô Ăn coi nồi, ngồi coi hướng = Ăn trông nồi, ngồi trông hướng Âm binh = phá phách (mấy thằng âm binh = mấy đứa nhỏ phá phách) Bà chằn lửa = người dữ dằn (dữ như bà chằn) Ba ke, Ba xạo Bá Láp Bá Xàm Bá chấy bù chét Bà tám = nhiều chuyện (thôi đi bà tám = đừng có nhiều chuyện nữa, đừng nói nữa) Bà quại = bà ngoại Bang ra đường = chạy ra ngoài đường lộ mà không coi xe cộ, hoặc chạy ra đường đột ngột, hoặc chạy nghênh ngang ra đường Bạt mạng = bất cần, không nghĩ tới hậu quả (ăn chơi bạt mạng) Bặc co tay đôi = đánh nhau tay đôi Bặm trợn = trông dữ tợn, dữ dằn Bất thình lình = đột ngột Bẹo = chưng ra (gốc từ cây Bẹo gắn trên ghe để bán hàng ở chợ nổi ngày xưa) Bẹo gan = chọc cho ai nổi điên Bề hội đồng = hiếp dâm tập thể Bển = bên đó, bên ấy (tụi nó đang chờ con bên bển đó!) Biết đâu nà, biết đâu nè = biết đâu đấy Biệt tung biệt tích = không thấy hiện diện Biểu (ai biểu hổng chịu nghe tui mần chi! – lời trách nhẹ nhàng) = bảo Bình thủy = phích nước Bình-dân = bình thường Bo bo xì = nghỉ chơi không quen nữa (động tác lấy tay đập đập vào miệng vừa nói của con nít) Bỏ qua đi tám = cho qua mọi chuyện đừng quan tâm nữa (chỉ nói khi người đó nhỏ vai vế hơn mình) Bỏ thí = bỏ Bùng binh = vòng xoay Bội phần = gấp nhiều lần Buồn xo = rất buồn ( làm gì mà coi cái mặt buồn xo dậy? ) Bữa = buổi/từ đó tới nay (ăn bữa cơm rồi về/bữa giờ đi đâu mà hổng thấy qua chơi?) Cà chớn cà cháo = không ra gì Cà chớn chống xâm lăng -Cù lần ra khói lửa. Cà kê dê ngỗng = dài dòng. Cà Na Xí Muội Cà rá = chiếc nhẫn Cà nhỗng = rảnh rỗi không việc gì để làm (đi cà nhỗng tối ngày) Cà nghinh cà ngang = nghênh ngang Cà rem = kem Cà rịt cà tang = chậm chạp. Cà tàng = bình thường, quê mùa,… Cái thằng trời đánh thánh đâm Càm ràm = nói tùm lum không đâu vào đâu/nói nhây Coi được hông? Cù lần, cù lần lữa = từ gốc từ con cù lần chậm chạp, lề mề, chỉ người quá chậm lụt trong ứng đối với chung quanh … (thằng này cù lần quá!) Cụng = chạm Cứng đầu cứng cổ Chà bá , tổ chảng, chà bá lửa = to lớn, bự Chàng hãng chê hê = banh chân ra ngồi ( Con gái con đứa gì mà ngồi chàng hãng chê hê hà, khép chưn lại cái coi! ) Cha chả = gần như từ cảm thán “trời ơi! ” (Cha chả! hổm rày đi đâu biệt tích dzậy ông?) Chả = không ( Nói chả hiểu gì hết trơn hết trọi á!) Chả = thằng chả / thằng cha kia Chậm lụt = chậm chạp, khờ Chém vè (dè)= trốn Chén = bát Chèn đét ơi, mèn đét ơi, chèn ơi, Mèn ơi = ngạc nhiên Chết cha mày chưa! có chiện gì dậy? = một cách hỏi thăm xem ai đó có bị chuyện gì làm rắc rối không Chì = giỏi (anh ấy học “chì” lắm đó). Chiên = rán Chịu = thích, ưa, đồng ý ( Hổng chịu đâu nha, nè! chịu thằng đó không tao gả luôn) Chỏ = xía, xen vào chuyện người khác Chổ làm, Sở làm = hãng, xưởng, cơ quan công tác Chơi chỏi = chơi trội, chơi qua mặt Chùm hum = ngồi bó gối hoặc ngồi lâu một chổ không nhúc nhích, không quan tâm đến ai (có gì buồn hay sao mà ngồi chùm hum một chổ dậy?) Chưn = chân Chưng ra = trưng bày Có chi hông? = có chuyện gì không? Dạ, Ừa (ừa/ừ chỉ dùng khi nói với người ngang hàng) = Vâng, Ạ Dạo này = thường/nhiều ngày trước đây đến nay (Dạo này hay đi trễ lắm nghen! /thường) Dấm da dấm dẳng Dây = không có dây dzô nó nghe chưa = không được dính dáng đến người đó Dễ tào = dễ sợ Dì ghẻ = mẹ kế Dĩa = Đĩa Diễn hành, Diễn Binh= diễu hành, diễu binh (chữ diễu bây giờ dùng không chính xác, thật ra là “diễn” mới đúng) Diễu dỡ = làm trò Dỏm (dởm), dỏm đời, dỏm thúi, đồ lô (sau 1975, khi hàng hóa bị làm giả nhiều, người mua hàng nhầm hàng giả thì gọi là hàng dởm, đồ “lô” từ chữ local=nội địa) Dô diên (vô duyên) = không có duyên (Người đâu mà vô diên thúi vậy đó hà – chữ “thúi’ chỉ để tăng mức độ chứ không có nghĩa là hôi thúi) Du ngoạn = tham quan Dù = Ô Dục (vụt) đi = vất bỏ đi (giọng miền nam đọc Vụt = Dục âm cờ ít đọc thành âm tờ, giống như chữ “buồn” giọng miền nam đọc thành “buồng”) Dùng dằng = ương bướng Dữ hôn và …dữ …hôn…= rất ( giỏi dữ hén cũng có nghĩa là khen tặng nhưng cũng có nghĩa là đang răn đe trách móc nhẹ nhàng tùy theo ngữ cảnh và cách diễn đạt của người nói ví dụ: “Dữ hôn! lâu quá mới chịu ghé qua nhà tui nhen”, nhưng “mày muốn làm dữ phải hôn” thì lại có ý răn đe nặng hơn ) Dzìa, dề = về (thôi dzìa nghen- câu này cũng có thể là câu hỏi hoặc câu chào tùy ngữ điệu lên xuống người nói) Dzừa dzừa (vừa) thôi nhen = đừng làm quá Đá cá lăn dưa = lưu manh Đa đi hia = đi chỗ khác. Đài phát thanh = đài tiếng nói Đàng = đường Đặng = được (Qua tính vậy em coi có đặng hông?) Đen như chà dà (và) = đen thui, đen thùi lùi = rất là đen Đền = bồi thường Đêm nay ai đưa em dìa = hôm nay về làm sao, khi nào mới về (một cách hỏi) – từ bài hát Đêm nay ai đưa em về của NA9 Đi bang bang = đi nghênh ngang Đi cầu = đi đại tiện, đi nhà xí Đó = đấy , nó nói đó = nó nói đấy Đồ già dịch = chê người mất nết Đồ mắc dịch = xấu nết tuy nhiên, đối với câu Mắc dịch hông 93. nè! có khi lại là câu nguýt – khi bị ai đó chòng ghẹo Đờn = đàn Đùm xe = Mai-ơ Được hem (hôn/hơm) ? = được không ? chữ hông đọc trại thành hôn, hem hoặc hơm Ghẹo, chòng ghẹo = chọc quê Ghê = rất – hay ghê há tùy theo ngữ cảnh và âm điệu thì nó mang ý nghĩa là khen hoặc chê Gớm ghiết = nhìn thấy ghê, không thích Giục giặc, hục hặc = đang gây gổ, không thèm nói chuyện với nhau (hai đứa nó đang hục hặc!) Hãng, Sở = công ty, xí nghiệp Hay như = hoặc là Hậu đậu = làm việc gì cũng không tới nơi tới chốn Hết = chưa, hoặc chỉ nâng cao mức độ nhấn mạnh (chưa làm gì hết) Hết trơn hết trọi = chẳng, không – “Hết Trọi” thường đi kèm thêm cuối câu để diễn tả mức độ (Ở nhà mà hổng dọn dẹp phụ tui gì hết trơn (hết trọi) á! ) Hồi nảo hồi nào = xưa ơi là xưa Hổm rày, mấy rày = từ mấy ngày nay Hổng có chi! = không sao đâu Hổng chịu đâu Hổng thích à nhen! Hột = hạt (hột đậu đen, đỏ) miền nam ghép cả Trứng hột vịt thay vì chỉ nói Trứng vịt như người đàng ngoài Hợp gu = cùng sở thích Ì xèo = tùm lum, … năn nỉ ỉ ôi Kẻo = coi chừng Kể cho nghe nè! = nói cho nghe Kêu gì như kêu đò thủ thiêm = kêu lớn tiếng, kêu um trời,…. Lanh chanh Làm (mần) cái con khỉ khô = không thèm làm Làm (mần) dzậy coi được hông? Làm dzậy coi có dễ ưa không? = một câu cảm thán tỏ ý không thích/thích tùy theo ngữ cảnh Làm gì mà toành hoanh hết zậy Làm nư = lì lợm Làm um lên: làm lớn chuyện Lặc lìa = muốn rớt ra, rời ra nhưng vẫn còn dính với nhau chút xíu Lần = tìm kiếm (biết đâu mà lần = biết tìm từ chổ nào) Lần mò = tìm kiếm, cũng có nghĩa là làm chậm chạm (thằng tám nó lần mò cái gì trong đó dậy bây?) Lắm à nhen = nhiều, rất (thường nằm ở cuối câu vd: thương lắm à nhen) Lẹt đẹt = ở phía sau, thua kém ai ( đi lẹt đẹt! Lảm gì (làm cái gì) mà cứ lẹt đẹt hoài vậy) Lao-tổn (cách dùng từ của Ông Nguyễn Văn Vĩnh có gạch nối ở giữa) Lao-cần (cách dùng từ của Ông Nguyễn Văn Vĩnh có gạch nối ở giữa) Lên hơi, lấy hơi lên = bực tức (Nghe ông nói tui muốn lên hơi (lấy hơi lên) rồi đó nha! Liệu = tính toán Liệu hồn = coi chừng Lô = đồ giả, đồ dỡ, đồ xấu (gốc từ chữ local do một thời đồ trong nước sản xuất bị chê vì xài không tốt) Lộn = nhầm (nói lộn nói lại) Lộn xộn = làm rối Lụi hụi = ???? (Lụi hụi một hồi cũng tới rồi nè!) Lùm xùm = rối rắm, Lụt đục = không hòa thuận (gia đình nó lụt đục quài) Má = Mẹ Ma lanh, Ma le Mã tà = cảnh sát Mari phông tên = con gái thành phố quê mùa Mari sến = sến cải lương Mát trời ông địa = thoải mái Máy lạnh = máy điều hòa nhiệt độ Mắc cười = buồn cười Mắc dịch = Mất nết, không đàng hoàng, lẳng lơ, xỏ lá, bởn cợt. Mặt chù ụ một đống, mặt chầm dầm Mần ăn = làm ăn Mần chi = làm gì Mậy = mày ( thôi nghen mậy = đừng làm nữa) Mét = mách Miệt, mai, báo, tứ, nóc… chò = 1, 2, 3, 4, 5…. 10. Mình ên = một mình (đi có mình ên, làm mình ên) Mò mẫm rờ rẫm sờ sẩm (hài) = mò Mồ tổ! = câu cảm thán Mả = Mồ Muỗng = Thìa, Môi Mút mùa lệ thủy = mất tiêu Nam Tàu Bắc Đẩu Nào giờ = từ trước tới nay Niềng xe = vành xe Ngang tàng = bất cần đời Nghen, hén, hen, nhen Ngoại quốc = nước ngoài Ngon bà cố = thiệt là ngon Ngộ = đẹp, lạ (cái này coi ngộ hén) Ngồi chồm hổm = ngồi co chân ….chỉ động tác co gập hai chân lại theo tư thế ngồi … Nhưng không có ghế hay vật tựa cho mông và lưng … (Chợ chồm hổm – chợ không có sạp) Ngủ nghê Nhan nhản = thấy cái gì nhiều đằng trước mặt Nhắc chi chuyện cũ thêm đau lòng lắm người ơi! = đừng nhắc chuyện đó nữa, biết rồi đừng kể nữa – trích lời trong bài hát Ngày đó xa rồi Nhậu = một cách gọi khi uống rượu, bia Nhiều chiện = nhiều chuyện Nhìn khó ưa quá (nha)= đôi khi là chê nhưng trong nhiều tình huống lại là khen đẹp nếu thêm chữ NHA phía sau Nhóc, đầy nhóc : nhiều Nhột = buồn Nhựt = Nhật Nón An toàn = Mũ Bảo hiểm Ổng, Bả, Cổ, Chả = Ông, Bà, Cô, Cha ấy = ông đó ổng nói (ông ấy nói) Phi cơ, máy bay = tàu bay Quá cỡ thợ mộc…= làm quá, Qua đây nói nghe nè! = kêu ai đó lại gần mình Qua bên bển, vô trong trỏng, đi ra ngoải, Quá xá = nhiều (dạo này kẹt chiện quá xá! ) Quá xá quà xa = quá nhiều Quê một cục Quê xệ Rành = thành thạo, thông thạo, biết (tui hổng rành đường 189; này nhen, tui hổng rành (biết) nhen) Rạp = nhà hát(rạp hát), dựng một cái mái che ngoài đường lộ hay trong sân nhà để cho khách ngồi cho mát (dựng rạp làm đám cưới) Rân trời = um sùm Rốp rẽng (miền Tây) = làm nhanh chóng Rốt ráo (miền Tây) = làm nhanh chóng và có hiệu quả Ruột xe = xăm Sai bét bèng beng = rất sai, sai quá trời sai! Sai đứt đuôi con nòng nọc = như Sai bét bèng beng Sạp = quầy hàng Sến = cải lương Sến hồi xưa là người làm giúp việc trong nhà. Mary sến cũng có nghỉa là lèn xèn như ng chị hai đầy tớ trong nhà. Sên xe = xích Sếp phơ = Tài xế Sườn xe = khung xe Tà tà, tàn tàn, cà rịch cà tang = từ từ Tàn mạt = nghèo rớt mùng tơi Tàng tàng = bình dân Tào lao, tào lao mía lao, tào lao chi địa, tào lao chi thiên,… 208. chuyện tầm xàm bá láp = vớ vẫn Tàu hủ = đậu phụ Tầm xàm bá láp Tầy quầy, tùm lum tà la = bừa bãi Té (gốc từ miền Trung)= Ngã Tèn ten tén ten = chọc ai khi làm cái gì đó bị hư Tía, Ba = Cha Tiền lính tính liền, tiền làng tàn liền …! Tòn teng = đong đưa, đu đưa Tổ cha, thằng chết bầm Tới = đến (người miền Nam và SG ít khi dùng chữ đến mà dùng chữ tới khi nói chuyện, đến thường chỉ dùng trong văn bản) Tới chỉ = cuối Tới đâu hay tới đó = chuyện đến rồi mới tính Tui ưa dzụ (vụ) này rồi à nhen = tui thích việc này rồi ( trong đó tui = tôi ) Tui, qua = tôi Tụm năm tụm ba = nhiều người họp lại bàn chuyện hay chơi trò gì đó Tức cành hông = tức dữ lắm Tháng mười mưa thúi đất Thắng = phanh Thằng cha mày, ông nội cha mày = một cách nói yêu với người dưới tùy theo cách lên xuống và kéo dài âm, có thể ra nghĩa khác cũng có thể là một câu thóa mạ Thấy ghét, nhìn ghét ghê = có thể là một câu khen tặng tùy ngữ cảnh và âm điệu của người nói Thấy gớm = thấy ghê, tởm (cách nói giọng miền Nam hơi kéo dài chữ thấy và luyến ở chữ Thấy, “Thấy mà gớm” âm mà bị câm) Thèo lẽo = mách lẻo ( Con nhỏ đó chuyên thèo lẽo chuyện của mầy cho Cô nghe đó! ) Thềm ba, hàng ba Thí = cho không, miễn phí, bỏ ( thôi thí cho nó đi!) Thí dụ = ví dụ Thiệt hôn? = thật không? Thọc cù lét, chọc cù lét = ??? làm cho ai đó bị nhột Thôi đi má, thôi đi mẹ! = bảo ai đừng làm điều gì đó Thôi hén! Thơm = dứa, khóm Thúi = hôi thối Thưa rĩnh thưa rãng = lưa thưa lác đác Trà = Chè Trăm phần trăm = cạn chén- (có thể gốc từ bài hát Một trăm em ơi – uống bia cạn ly là 100%) Trển = trên ấy (lên trên Saigon mua đi , ở trển có bán đồ nhiều lắm) Trực thăng = máy bay lên thẳng Um xùm Ứa gan Ứa gan = chướng mắt Vè xe = chắn bùn xe Vỏ xe = lốp Xả láng, sáng về sớm, Xà lỏn, quần cụt = quần đùi Xài = dùng, sử dụng Xảnh xẹ, Xí xọn = xảnh xẹ = làm điệu Xe cam nhông = xe tải Xe hơi = Ô tô con Xe nhà binh = xe quân đội Xe đò = xe chở khách, tương tự như xe buýt nhưng tuyến xe chạy xa hơn ngoài phạm vi nội đô (Xe đò lục tỉnh) Xe Honda = xe gắn máy ( có một thời gian người miền Nam quen gọi đi xe Honda tức là đi xe gắn máy – Ê! mầy tính đi xe honda hay đi xe đạp dậy?) Xẹp lép = lép xẹp, trống rổng ( Bụng xẹp lép – đói bụng chưa có ăn gì hết) Xẹt qua = ghé ngang qua nơi nào một chút (tao xẹt qua nhà thằng Tám cái đã nghen – có thể gốc từ sét đánh chớp xẹt xẹt nhanh) Xẹt ra – Xẹt vô = đi ra đi vào rất nhanh Xí = hổng dám đâu/nguýt dài (cảm thán khi bị chọc ghẹo) Xí xa xí xầm, xì xà xì xầm, xì xầm= nói to nhỏ Xía = chen vô (Xí! Cứ xía dô chiện tui hoài nghen! ) Xiên lá cành xiên qua cành lá = câu châm chọc mang ý nghĩa ai đó đang xỏ xiên mình ???? (gốc từ bài hát Tình anh lính chiến- Xuyên lá cành trăng lên lều vải) Xiết = nổi ( chịu hết xiết = chịu hổng nổi = không chịu được) Xỏ lá ba que = giống như chém dè (vè), tuy nhiên có ý khác là cảnh báo đừng có xen vào chuyện của ai đó trong câu: “đừng có xỏ lá ba que nhe mậy” Xỏ xiên = đâm thọt, đâm bị thóc chọc bị gạo,… (ăn nói xỏ xiên) Xưa rồi diễm = chuyện ai cũng biết rồi (gốc từ tựa bài hát Diễm xưa ) -Tony- Sài Gòn trước 1975
  • 2 Chủ Đề
    2 Bài Viết
    adminA
    Đà Lạt khi xưa, đoạn này là dốc đá ( Phù đồng thiên vương giao đường Lý Nam Đế, giờ là Ký Túc Xá đại học đà lạt) [image: 1761904515383-dalat.jpg]
  • Tất cả các bài viết mang tính chất quảng cáo xin vui lòng post ở đây.

    1 Chủ Đề
    1 Bài Viết
    Điêu ThuyềnĐ
    Đạo Phật - Đức Phật luôn khuyến khích con người sống một lối sống lành mạnh, bằng cách thay đổi tư duy về ăn uống, nghỉ ngơi và làm việc để có một thân thể quân bình cả thân lẫn tâm. Về ăn uống Ăn uống một cách vô độ không những không giúp ích gì mà là nguyên nhân chính đưa đến tàn phá cơ thể, như người xưa có câu: “Bệnh tùng khẩu nhập”. Thời Phật tại thế, bữa ăn của vua Pasenadi rất thịnh soạn, nhưng không được Đức Phật đánh giá cao về vấn đề cung cấp những dưỡng chất cần thiết cho cơ thể, dẫn đến sức khỏe không được tốt. Đức Phật dạy vua Pasenadi về cách ăn uống rằng: “Con người thường chánh niệm Được ăn, biết phải chăng Chừng mực, cảm thọ mạnh Già chậm, tuổi thọ dài.” Sau khi nghe lời chỉ dạy của Đức Phật, vua biết tiết chế trong ăn uống. Sau một thời gian, thân thể nhà vua trở nên khỏe mạnh và nói lên lời cảm hứng như sau: “Ôi, thật sự Thế Tôn đã thương tưởng nghĩ đến lợi ích cho ta, cả hai đời hiện tại và vị lai. Qua câu chuyện đó, có thể thấy bữa ăn của vua chúa xưa nay tuy rất thịnh soạn nhưng không đồng nghĩa với việc tốt cho sức khỏe. Vì vậy, những bậc Quân vương ngày xưa tuổi thọ ngắn. Ngày nay, thời đại có phát triển hơn, việc nhận thức trong ăn uống được quan tâm hàng đầu qua những tin tức phổ cập trên các phương tiện truyền thông, nhưng hầu như ít người quan tâm đến vấn đề này. Thực hành thói quen ăn uống lành mạnh bằng cách ăn uống với số lượng chừng mực nhằm duy trì sự quân bình giữa tứ đại, sự trao đổi chất và hấp thu dễ dàng, cho phép sinh lực lưu hành không chút cản trở qua toàn cơ thể. Hãy xem thực phẩm như thuốc chữa bệnh, để hỗ trợ cơ thể, trị cơn đói, dịu cơn khát và ngăn ngừa bệnh tật. Giống như con ong hút nhụy, chúng chỉ tiêu thụ những gì cần thiết, nhưng không phạm đến toàn bộ cánh hoa. Từ đó, ngăn ngừa các chứng bệnh về tiêu hóa và các vấn đề sức khỏe khác, giúp cho tinh thần sáng suốt, minh mẫn, tuổi thọ được kéo dài. Đặc biệt, Đức Phật còn lưu ý sau khi ăn cần phải đi kinh hành, bởi một trong năm lợi ích của kinh hành là: “Đưa đến tiêu hóa tốt đẹp các đồ được ăn, được uống, được nhai, được nếm”. Kinh hành đơn giản là đi bộ một cách chánh niệm. Việc kinh hành sau khi ăn vừa giúp cho cơ thể tiêu hóa sau khi ăn, tránh các căn bệnh về đường ruột, vừa giúp cho chúng ta rèn luyện tính kiên nhẫn, điều hòa cơ thể, bền bỉ, dẻo dai. Về ngủ nghỉ Ngủ nghỉ cũng là một trong những nhu cầu quan trọng trong đời sống hằng ngày. Ngủ đủ giấc rất quan trọng, nhưng ngày nay, chứng thiếu ngủ đang xảy ra trầm trọng trên mọi lứa tuổi. Chứng thiếu ngủ đến từ việc chúng ta quá mải mê vào công việc hoặc áp lực từ cuộc sống với cái tâm đổ đầy những mối lo toan về học tập, mưu sinh, công việc,… và đem những toan tính đó vào trong tận giấc ngủ của mình, khiến tâm thức phải làm việc quá sức dẫn đến khó đi vào giấc ngủ hoặc ngủ không ngon. Đức Phật đã gợi ý muốn có một giấc ngủ an lành thì cần phải trú niệm tỉnh giác qua câu kinh sau: “Này các Tỳ kheo, có năm lợi ích này đối với người trú niệm, tỉnh giác rơi vào giấc ngủ. Thế nào là năm? Ngủ một cách ngon lành; thức dậy một cách ngon lành; không thấy ác mộng; được chư Thiên phòng hộ; bất tịnh không chảy ra. Trú niệm tỉnh giác là nếp sống với tâm hoàn toàn tỉnh táo và sáng suốt, rõ biết về các hoạt động của thân thể. Ví dụ, khi ăn biết rõ đang ăn, khi ngồi biết rõ đang ngồi, khi làm việc biết đang làm việc,… mà không để lọt vào tư tưởng tà vậy. Cũng vậy, trước khi đi ngủ, trú niệm tỉnh giác giúp cho chúng ta biết sắp đi ngủ mà gác lại những lo toan nhằm mục đích thư giãn đầu óc, làm trong sạch nội tâm, khiến cho tâm thức trở nên định tĩnh, vắng lặng, quân bình, không dao động, từ đó mà ta có một giấc ngủ nhẹ nhàng. Nếu liên tục thực hành thói quen biết trú niệm tỉnh giác trước lúc ngủ thì sẽ ngăn ngừa sự gia tăng bệnh tật và tăng chất lượng cuộc sống. “Trước ngủ tâm, sau ngủ mắt”, chính là đạo lý về giấc ngủ của Phật giáo. Ngoài ra, tư thế nằm trong khi ngủ cũng được Đức Phật chú trọng, bởi nó liên hệ đến sự an ổn của thân tâm và sức khỏe. Đức Phật dạy có 04 cách nằm ngủ: Nằm ngửa, nằm nghiêng trái, nằm nghiêng phải và cách nằm của Như Lai trú bốn tầng thiền. Trong các kinh điển Ngài thường nằm theo dáng nằm nghiêng phải: “Rồi Thế Tôn, sau khi đã đi kinh hành ngoài trời một phần lớn của đêm, khi đêm đã gần mãn, Ngài rửa chân, bước vào tịnh xá và nằm xuống phía hông bên phải theo thế nằm của con sư tử, hai chân gác lên nhau, chánh niệm tỉnh giác và nghĩ đến lúc thức dậy”. Ngày nay, tư thế nằm nghiêng bên phải cũng được khoa học giải thích rằng tư thế này có tác dụng giúp hạ huyết áp, nhịp tim ổn định, rất tốt cho những người mắc các bệnh về tim mạch. Còn theo các nhà nghiên cứu tại Đại học Stony Brook ở Mỹ, việc ngủ nghiêng người về bên phải sẽ giúp giải phóng chất thải trong vỏ não, tủy sống, hệ thần kinh, có thể ngăn ngừa bệnh Alzheimer và các bệnh về thoái hóa thần kinh khác. Bên cạnh đó, theo kết quả một cuộc nghiên cứu của Thổ Nhĩ Kỳ được đăng tải trên Tạp chí Sleep and Hypnosis phát hiện 40,9% những người có thói quen ngủ nghiêng về bên trái thường xuyên gặp ác mộng, trong khi đó chỉ có 14,6% cảm thấy như vậy trong số những người nằm nghiêng về bên phải. Với phương pháp về việc ngủ nghỉ mà Đức Phật đã dạy, đây là cách nhanh chóng xóa tan mệt mỏi, sức khỏe được phục hồi nhanh chóng và chúng ta sẽ có tâm trạng vui vẻ, tươi tắn, tạo ra sảng khoái, làm thăng hoa tinh thần. Khi làm việc Sau hai vấn đề quan trọng là ăn uống và ngủ nghỉ thì làm việc là một trong những sinh hoạt cần thiết trong đời người. Phương pháp làm việc hiệu quả, giúp người làm việc luôn duy trì trạng thái khỏe mạnh và gia tăng tuổi thọ được Đức Phật khuyên: “Làm việc thích đáng, biết vừa phải trong việc thích đáng”. Trong đoạn kinh trên, Đức Phật khuyên hãy làm việc thích đáng, tức Ngài đề cập đến Chánh mạng trong Bát chánh đạo. Chánh mạng là sinh sống với tài năng chân chánh, nghề nghiệp lương thiện, không bóc lột, xâm hại đến lợi ích chung của người khác. Khi làm việc vừa với khả năng, chúng ta mới có thể tập trung vào những điều quan trọng mà thỏa sức sáng tạo, chứ không nên làm việc một cách quá sức rồi xem công việc như gánh nặng. Bởi thái độ gánh nặng sẽ khiến mình mệt mỏi, căng thẳng tinh thần, chỉ khiến công việc thêm muộn phiền, bề bộn hơn mà thôi. Người làm việc thích đáng và biết vừa phải trong công việc là người đó có sự tỉnh thức. Nhờ sự tỉnh thức này mà giúp ta giải quyết công việc một cách ổn thỏa, chính xác, làm cho công việc ngày một phát triển. Trong xã hội hiện đại, con người phải làm việc rất áp lực, lo lắng, suy ngẫm về rất nhiều vấn đề, nhằm tránh những sai lầm không đáng có. Nhưng không phải lúc nào lo lắng cũng là tốt, bởi có những mối lo lắng không cần thiết. Để tăng khả năng tập trung hoàn thành tốt công việc được giao, tránh xao lãng tạo điều kiện cho các phiền não, lậu hoặc kéo theo tăng trưởng, Đức Phật khuyên: “Không lo lắng những việc không đáng lo lắng và lo lắng những việc đáng lo lắng. Ở đây, Ngài muốn nhấn mạnh vào sự tập trung khi làm việc. Trong lúc làm việc, ta hãy chú tâm vào công việc được giao để hoàn thành tốt nhiệm vụ, tránh vừa làm việc này lại xao lãng vào những việc khác. Nhờ vậy kịp thời giải quyết những khó khăn, bất trắc, năng suất lao động nâng cao và công việc được hoàn thành đúng thời gian hoặc trước thời hạn. Việc duy trì thói quen lo lắng những việc đáng lo lắng và không lo lắng những việc không đáng lo lắng sẽ dạy cho chúng ta chánh niệm trong giây phút hiện tại. Chính chánh niệm bảo vệ bản thân chúng ta kiểm soát được công việc, khoanh vùng những điều phải tập trung giải quyết và không đi ngoài những điều đó. Nhờ vậy sẽ giúp cho ta giảm bớt căng thẳng, quá tải khi làm việc, nâng cao bình an nơi tâm hồn. Xem thêm: Đệ Tử Quy
Đang online