Hoa đà Lạt- Du Lịch Và Vấn đề Thị Trường Tiêu Thụ
-
**THƯƠNG MẠI HOA CẮT CÀNH THẾ GIỚI **
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA VIỆT NAM
Phạm Xuân Tùng
Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau & Hoa
Viện Khoa học Kỹ thuật miền Nam
Mở đầu
Công nghiệp hoa cắt cành thế giới là một ngành hàng có giá trị nhiều tỷ đô-la (USD) và vô cùng năng động. Sự da dạng về chủng lọai hàng, công nghệ sản xuất-tiếp thị, nguồn cung ứng, thị trường tiêu thụ, … tất cả đều sôi động và thay đổi thường xuyên, liên tục tạo ra những thách thức lớn cho các đối tác tham gia vào ngành hàng này. Cho dù còn nhiều hạn chế về vốn, công nghệ sản xuất, cơ sở hạ tầng, … các nước chậm phát triển đang nhanh chóng trở thành những đối tác lớn tham gia thị trường hoa cắt cành thế giới. Colombia, Equador, Zimbabwe, Kenia là những nước xuất khẩu hoa được nhanh chóng xác lập từ thập niên 1990 và đã trở thành những nhà xuất khẩu có vai vế. Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Hàn Quốc, Malaixa, Malawi, Zambia, Nam Phi, Mexico, … đang dần trở thành những đối thủ cạnh tranh đầy tham vọng trên thị trường xuất khẩu hoa. Với thị trường tiêu thụ lớn nhất vẫn là Châu Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản, khỏang cách vận chuyển lớn và tính dễ hư hao cùa hàng hoa tạo ra những khó khăn đáng kể về kho vận mà các nước này cần phải giải quyết. Tuy vậy, các thành viên mới trỗi dậy này vẫn có thể, và thực sự đã và đang cạnh tranh với các đối thủ tại chỗ một cách gay gắt.
Những năm giữa thập kỷ 1990 đánh dấu một sự khởi đầu mới của nghề sản xuất hoa Việt Nam. Sản xuất hoa và cây cảnh bùng nổ trước tiên xung quanh các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Tp Hồ Chí Minh và lan rộng sang các vùng khác. Ở Đà Lạt, sản xuất mở rộng nhanh chóng, gia tăng hàng chục lần về quy mô chỉ trong vài năm do nhu cầu gia tăng của thị trường tiêu dùng. Những chuyển biến này chính là hệ quả của i) nhu cầu thay đổi cơ cấu cây trồng từ sản xuất các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu nhưng giá trị thấp sang những mặt hàng có giá trị cao; ii) việc triển khai, hiện thực hóa Nghị quyết của Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt nam lần VIII về đa dạng hoa sản phẩm nông nghiệp và iii) nhu cầu tiêu dùng của nhân dân đối với các hàng hóa xa xỉ hơn, trong đó có hoa và cây cảnh, nhờ thu nhập được cải thiện đáng kể của người dân. Nghề sản xuất hoa và cây cảnh đã thay da đổi thịt với một diện mạo mới và đã trở thành một nghề sinh lợi lớn cho một bộ phận đáng kể các nông hộ.
Quyết định số 182 QĐ/TTg, ngày 3/9/1999, phê duyệt Dự án “Phát triển sản xuất rau, hoa, quả giai đọan 1999-2010” khẳng định chủ trương lớn của Nhà nước trong việc đẩy mạnh phát triển nghề vườn nói chung và ngành hàng hoa nói riêng. Những mục tiêu lớn của Dự án gồm: i) đáp ứng nhu cầu tiêu dùng rau, hoa, quả của nhân dân; ii) tạo ra khỏang 5 triệu việc làm, và iii) đưa kim ngạch xuất khẩu rau, hoa, quả lên 01 tỷ USD. Để đạt được mục tiêu đó, nhiều chương trình, dự án phát triển đã được triển khai, nhiều chính sách hỗ trợ phát triển đã được áp dụng.
Cũng như với lĩnh vực nghề vườn nói chung, phát triển sản xuất hoa cắt cành theo hướng công nghiệp công nghệ cao và hướng tới xuất khẩu là một định hướng lớn thu hút mối quan tâm và chi phối mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư từ phía Nhà nước, các doanh nghiệp và người sản xuất. Tuy vậy, cho đến nay, mặc dù sản xuất đã có bước phát triển đáng kể về quy mô diện tích và sản lượng, hoa cắt cành Việt Nam vẫn được coi là có chất lượng thấp với trên 95 % sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường nội địa, vốn được coi là một thị trường non trẻ. Gần 5% sản lượng xuất khẩu được chủ yếu do một số doanh nghiệp nước ngòai có sẵn công nghệ, vốn và thị trường thực hiện.
Trong khi tiềm năng phát triển có thể coi là còn rất lớn, hiện trạng sản xuất cho thấy còn nhiều vấn đề cần phải được giải quyết nhằm khai thác triệt để các lợi thế cạnh tranh, tăng cường chất lượng và năng lực cạnh tranh để hoa cắt cành Việt Nam có thể thâm nhập vào thị trường thế giới. Báo cáo này tổng quan bối cảnh sản xuất, thương mại hoa cắt cành thế giới và những vấn đề của ngành hàng này ở Việt Nam.
**1.**Sản xuất và thương mại hoa cắt cành thế giới
Nhu cầu tiêu dùng
### Nhu cầu tiêu thụ hoa cắt cành thế giới gia tăng với mức 6-9 % mỗi năm. Năm 1985, giá trị tiêu dùng là 12,5 % tỷ USD, năm 1990 khỏang 25 tỷ, năm 1995 khỏang 31 tỷ và ước tính sẽ đạt 35 tỷ trong 10 năm tiếp theo (de Groot 1998). Ở quy mô tòan cầu, Tây Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản là những khu vực tiêu thụ hoa cắt cành nhiều nhất. Chỉ riêng 25 nước thuộc Liên minh châu Âu (European Union - EU) đã chi trung bình 13,5 tỷ USD/năm trong giai đọan 2001-2005 (CBI, 2006) cho tiêu dùng hoa cắt cành, chiếm gần 50 % tổng mức tiêu dùng hoa thế giới. Năm 2005, tiêu dùng nhiều nhất là Đức (4,03 tỷ USD), Liên hiệp Anh (2,8 tỷ), Pháp (2,4 tỷ), Ý (2,6 tỷ) (CBI, 2006). Người Mỹ chi khỏang một 11 tỷ USD mỗi năm (Flower Council of Holland-FCH, 2006), Nhật Bản 2,9 tỷ (JETRO, 2001). ###Tổng mức tiêu dùng của Tây Âu giai đọan 2001-2005 giảm khỏang 3,2 %, trong đó Ý 5,9%. Sự suy giảm này một phần do sự bão hòa ở một số thị trường, phần khác do suy thóai kinh tế và sức mua của người tiêu dùng (CBI, 2006). Trong khi đó, cùng với sự tăng trưởng kinh tế và thu nhập của người dân, tiêu dùng hoa cắt cành có xu hướng gia tăng ở một số nước Đông Âu, Châu Á và Mỹ Latin. Trung Quốc nhanh chóng trở thành quốc gia có quy mô sản xuất và tiêu dùng lớn nhất thế giới với mức tăng trưởng 15 % mỗi năm. Riêng ở Bắc Kinh, tỷ lệ người tiêu dùng hoa cắt cành cho nhu cầu cá nhân từ 2,3 % năm 1985 tăng lên 29% năm 2004 (GADINFOcenter, 2006) vượt qua tỷ lệ này ở Mỹ (28%) (FCH, 2006). Ấn Độ, với 300 triệu dân thuộc tầng lớp trung lưu và khá giả, có mức tăng trưởng về tiêu dùng hoa 40 % mỗi năm (Nishimura, 2006). Từ 1985 đến 1996, tiêu dùng hoa cắt cành ở Hàn Quốc tăng 18,9% trong khi thu nhập bình quân tăng 15,1 % (http://www.krei.re.kr/ krei/korea /kreireport/zb). Đây cũng là xu thế chung xuất hiện ở nhiều nước có nền kinh tế có mức tăng trưởng cao, thu nhập của người dân được cải thiện nhanh chóng.
Theo FCH (2006), Hà Lan có mức tiêu dùng tính trên đầu người cao nhất trong giai đọan 2001-2005 (trung bình 56 euro/năm), Áo đứng thứ hai (45 euro/năm). Trung bình của các nước thuộc EU giai đọan này là 28 euro/người/năm, tương đương với mức tiêu dùng của người Nhật (29 euro/người/năm)(ITC, 2006), 4,3 lần mức của người Đài Loan (RIRDC, 1999) và 37 lần mức trung bình của người Trung Quốc (FCH, 2006). Mức tiêu dùng tính trên đầu người ở EU trong giai đọan này giảm 7,1 % do các nguyên nhân suy thóai kinh tế và thu nhập thực tế của cá nhân. Người Mỹ chi trung bình 31 USD/ người/năm cho tiêu dùng hoa. Châu Á cùng với Trung Quốc được dự báo sẽ là thị trường hoa lớn nhất trong vài thập kỷ tới.
**Sản xuất **
### Tòan cầu có trên 300.000 ha sản xuất hoa, phân bố trên 27 nước chủ yếu. EU chia sẻ 12 %, trong khi các nước châu Á và Thái Bình Dương chiếm 70 % diện tích này, trong đó Trung Quốc 40 % (EC, 2006) (120.000 ha, People’s Daily Online, 2001) và Ấn Độ 15 % (45.000 ha, AIC,2006). Nhật Bản, Thái Lan và Đài Loan là những nước sản xuất hoa quan trọng ở vùng này với tổng diện tích chiếm 10%. Mỹ (7%), Mexico (5%), Brazil (2%) và Colombia (2%) là các nước sản xuất hoa chủ yếu ở châu Mỹ, chiếm tổng số 16 % diện tích hoa của thế giới (EC, 2006). ###Chỉ 25 nước thuộc EU đã sản xuất 42 % giá trị tổng sản lượng tòan cầu (8.634 triệu euro), trong đó, Hà Lan chiếm qúa nửa. Mỹ sản xuất 6 %, Nhật Bản 13%, Trung Quốc 7%, Canada và Colombia mỗi nước 3% giá trị sản lượng tòan cầu (EC, 2006).
EU, chiếm 12% tổng diện trồng hoa thế giới nhưng tạo 42 % ra giá trị tổng sản lượng, là khu vực có trình độ thâm canh cao nhất. Công nghệ nhà kính là yếu tố quan trọng tạo ra hiệu quả sản xuất cao trong ngành hàng hoa thế giới. Giá trị sản lượng trên một hectare của từng nước tương ứng với tỷ lệ diện tích sản xuất trong nhà kính (EC, 2006). Đan Mạch và Thụy Điển với tỷ lệ diện tích sản xuất hoa trong nhà kính tương ứng là 65 và 92 % tạo ra năng suất hàng hóa trên 600 ngàn euros/ha/ năm. Hà Lan với tỷ lệ 69 %, sản xuất 430 ngàn euros/ha/năm. Trung bình toàn EU, tỷ lệ hoa sản xuất trong nhà kính là 31% và năng suất trung bình là 120 ngàn euros/ha/năm. Trong khi đó, Trung quốc và Nhật Bản có tỷ lệ hoa trong nhà kính tương ứng là 17% và 51 %, năng suất trung bình tương ứng là 10 và 140 ngàn euros/ha/năm (EC, 2006).
Thương mại
Nhập khẩu**:**
### Thị trường nhập khẩu hoa cắt cành tòan cầu có giá trị 4 tỷ USD (ITC, 2001) với tốc độ gia tăng 0,7 % mỗi năm. Tốc độ gia tăng nhập khẩu không lớn tương ứng với nhu cầu tiêu dùng do bản thân các nước nhập khẩu hầu hết đều tự sản xuất hoa. Bên cạnh đó, chi phí vận chuyển cao (chủ yếu qua đường hàng không) là yếu tố hạn chế gia tăng nhập khẩu. Các nước chậm phát triển chiếm lĩnh được chỉ một phần rất nhỏ trên thị trường này. Mặc dù vậy, nhập khẩu từ các nước đang phát triển vẫn tiếp tục gia tăng nhờ các ưu thế cạnh tranh về nguồn nhân công rẻ và điều kiện khí hậu thuận lợi. Năm 1995, kim ngạch nhập khẩu từ các nước chậm phát triển chỉ là 18 triệu USD, năm 1999 là 45 triệu (ITC, 2001), năm 2003 trên 640 triệu (DFAA, 2004) và năm 2005, chỉ riêng EU đã nhập 643 triệu (CBI, 2006). ###EU là thị trường nhập khẩu hoa cắt cành lớn nhất với tổng kim ngạch 3,3 tỷ euros năm 2005, với mức tăng trưởng 3,3 % /năm từ 2001 đến 2005, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế chậm lại và sức mua của người tiêu dùng suy giảm (CBI, 2006). Đức và Anh là các nước nhập lớn nhất chiếm tương ứng 25 % và 23 % tổng kim ngạch nhập khẩu của EU. Hà Lan và Pháp đứng thứ ba và thứ tư với với thị phần tương ứng là 14 và 13 %. Tuy vậy, 78 % sản phẩm nhập khẩu của EU là trong nội bộ các nước thuộc EU và chỉ 22 % được nhập từ bên ngòai. Hà Lan là nước đứng đầu EU về nhập khẩu từ bên ngòai, chiếm 56 % thị phần này. Một phần lớn hoa nhập khầu vào Hà Lan được tái xuất sang các nước khác trong khối. Cùng với Hà Lan, nguồn cung ứng từ bên ngòai chủ yếu là các nước chậm phát triển như Kenya (8%), Colombia (3%), Equador (3%), và Israel (3%) (CBI, 2006).
Bắc Mỹ là thị trường nhập khẩu lớn thứ hai. Riêng Mỹ nhập khẩu 10 % (de Groot, 1998) cho nhu cầu tiêu dùng 11 tỷ USD mỗi năm. ### Nguồn nhập của Mỹ chủ yếu từ Mexico (24%), Hà Lan (10%), Thái Lan (8%), Colombia (6%), Equador (5%), Costa Rica (4%) (USDA, 2004). Nhật Bản là thị trường nhập khầu hoa lớn nhất châu Á với kim ngạch nhập khẩu 179 triệu USD năm 2006, tăng 40% so với năm 2000. Nguồn nhập hoa chủ yếu của Nhật Bản là Hà Lan, Thái Lan, New Zealand, Australia, Trung Quốc, Malaysia, Colombia, Đài Loan và Hàn Quốc (Nishimura, 2007). Hà Lan và Thái Lan mỗi nước chiếm 16-17 % thị phần nhập khẩu Nhật Bản, tiếp theo là New Zealand và Hàn Quốc (14-15%), Australia và Colombia (6-7%) (JETRO, 2001).
Xuất khẩu**: **
### EU là khu vực xuất khẩu mạnh nhất với tổng kim ngạch năm 2005 đạt 2,7 tỷ euros và mức tăng trưởng 1,1 % trong giai đọan 2001-2005 (CBI, 2006). Hà Lan chiếm ưu thế với 88 % tổng kim ngạch xuất khẩu trong khu vực này. Xuất khẩu hoa của EU diễn ra chủ yếu trong nội bộ EU (86%). Đức là thị trường lớn nhất của Hà Lan, chiếm 26 % thị phần với kim ngạch nhập khẩu 679 triệu euros/năm (CBI, 2006). Liên hiệp Anh chiếm 19%, Pháp 14%, Ý 5%. Thị trường quan trọng ngòai EU bao gồm Thụy Sỹ (4%), Nga (3%) và Mỹ (3%).###Mỹ Latin là khu vực xuất khẩu hoa mạnh thứ hai với kim ngạch 750-800 triệu USD. Trên 60 % sản phẩm hoa của khu vực này được xuất vào Bắc Mỹ. Các nước xuất khẩu chủ yếu là Colombia, Equador, Mexico và Costa Rica. Xét về xuất khẩu ra ngòai vùng thì Mỹ Latin đứng đầu.###
Trong một thời gian ngắn, châu Phi đã nhanh chóng xác lập vị trí của mình trên thị trường xuất khẩu hoa cắt cành. Kenya, Zimbabwe, Uganda, Nam Phi, Tanzania là các nước xuất khẩu chủ yếu của châu Phi. Năm 2005, chỉ riêng Kenia, Zimbabwe và Uganda đã xuất hoa qua các sàn đấu giá Hà Lan trị giá 290 triệu USD, trong đó Kenya chiếm trên 70% (CBI, 2006). Israel là nước xuất khẩu hoa chủ yếu của Trung Đông chiếm 3% thị trường nhập khẩu của EU trong năm 2005.###
Châu Á có vai trò không đáng kể trên thị trường xuất khầu hoa thế giới. Xuất khẩu của các nước châu Á diễn ra chủ yếu giữa các nước trong vùng. Xuất khẩu ngòai vùng sang châu Âu và Mỹ chỉ có Thái Lan (chủ yếu là phong lan) và Trung quốc (chủ yếu là hoa khô).
Lợi thế cạnh tranh
### Các nước hoặc khu vực xây dựng khả năng cạnh tranh của mình trên cơ sở hạ giá thành sản xuất, đầu tư chiều sâu, phát huy sức sáng tạo hoặc ưu thế cạnh tranh về địa lý và từ xuất phát điểm có sẵn. Những nước cạnh tranh trên cơ sở phát huy sức sáng tạo là những nước có khả năng cạnh tranh mạnh. Những nước này không phụ thuộc hòan tòan vào việc hạ giá thành hoặc đầu tư công nghệ của nước ngòai mà có đủ sức mạnh để tự sáng tạo về công nghệ và chiến lược kinh doanh. Sự sáng tạo này chính là sự phối hợp hài hòa giữa các yếu tố sản xuất, điều kiện kinh tế xã hội, nhu cầu thị trường nội địa và mạng lưới kinh doanh.###Trong ngành hàng hoa thế giới, Hà Lan là nước duy nhất xây dựng đựơc khả năng cạnh tranh của mình dựa trên sự năng động sáng tạo. Sự năng động sáng tạo đựơc quan tâm cho cả cung và cầu. Để đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng và những người bán lẻ, Hà Lan đã tạo được tính thống nhất theo chiều sâu trong nhiều vần đề lớn như hệ thống kho vận, chất lượng sản phẩm và các công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường (de Groot, 1998). Những hạn chế như giá nguyên liệu và nhân công cao, khí hậu bất thuận được bù đắp bằng năng suất, chất lượng sản phẩm cao, hệ thống phân phối có hiệu quả và sự đa dạng phong phú của các sản phẩm hoa. Vị trí địa lý thuận lợi ở trung tâm châu Âu, cơ sở hạ tầng tốt, khả năng đầu tư và sự hiểu biết tòan diện là các nhân tố cơ bản tạo ra sức sáng tạo năng động của Hà Lan. Mặc dù cũng cạnh trên lĩnh vực giá, Hà Lan không phụ thuộc vào việc cắt giảm các chi phí về nhân công, vật liệu và vốn đầu tư. Sức mạnh cạnh tranh của đất nước này là khả năng sáng tạo cái mới, thể hiện ở năng suất, chất lượng, sự đa dạng sản phẩm, trình độ chuyên môn và trình độ công nghệ.
Tuy vậy, ở những thị trường mà giá thánh hạ là vấn đề quan trọng thì Hà Lan sẽ vấp phải những đối thủ cạnh tranh quyết liệt như một số nước châu Phi (Kenya, Zambabwe, Zambia, Nam Phi) và Mỹ Latin (Colombia, Equador). Các nước châu Phi có lợi thế cạnh tranh ở các yếu tố cơ bản như khí hậu thuận lợi, giá đất, nhân công và nước tưới rẻ. Ngược lại, họ thiếu những yếu tố kích thích sáng tạo công nghệ, thiếu hệ thống phân phối và thị trường trong nước. Bên cạnh đó, họ cũng thiếu vốn để phát triển trình độ chuyên môn và công nghệ cao trên diện rộng. Vì vậy, các nước này chỉ sản xuất những mặt hàng hoa ít yêu cầu trình độ công nghệ cao và cung cấp cho thị trường thế giới một khối lượng đáng kể các sản phẩm này với giá thành hạ. Sự thống nhất ngành dọc và sự điều phối tốt từ phía các nhà cung cấp cũng là một ưu thế đáng kể, tạo cho các nước sản xuất hoa ở châu Phi sức mạnh về khối lượng và giá thành.
Các nước Mỹ Latin có được lợi thế cạnh tranh dựa vào nhiều yếu tố, trong đó đầu tư chiều sâu về công nghệ là yếu tố cơ bản. Diện tích sản xuất hoa tăng nhanh chóng nhờ thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngòai. Với những điều kiện cơ bản thuận lợi về tự nhiên, sự hỗ trợ của Nhà nước và lợi thế về quy mô sản xuất, họ sản xuất được những sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng cao cung cấp cho thị trường quốc tế. Colombia là một ví dụ điển hình. Colombia ngày nay là nước xuất khẩu hoa cắt cành đứng thứ hai trên thế giới với kim ngạch xuất khẩu trên 550 triệu USD mỗi năm (Batt, 2000). Trong vòng 30 năm, sản xuất hoa cắt cành của Colombia phát triển ngọan mục và chiếm lĩnh 10% thị trường thế giới. Những yếu tố cơ bản tạo nên sự phát triển vượt bậc đó là: i) điều kiện khí hậu đặc biệt thuận lợi cho sản xuất các loại hoa cắt cành ôn đới; ii) chi phí sản xuất thấp (chi phí nhà kính và lao động, cước phí vận chuyển đến thị trường Mỹ), iii) gần thị trường Mỹ, iv) sự hỗ trợ tối đa của Chính phủ. Hệ thống phân phối hòan hảo do các nhà xuất khẩu Colombia và các đối tác Mỹ thiết lập được thực sự là một sức mạnh của ngành hàng hoa xuất khẩu Colombia. Hiệp hội những nhà xuất khẩu hoa Colombia (Ascolflores), hình thành năm 1986 (Batt, 2000), tạo nên sức mạnh rất đáng kể của ngành hàng. Các hội viên được chia sẻ những nguồn lợi chung về kỹ thuật, tài chính và hành chính của Hiệp hội. Đại diện cho các thành viên, Ascolflores đứng ra thương thảo cước phí vận chuyển với các hãng vận chuyển hàng không, thiết lập và điều hành hệ thống dịch vụ bảo quản, xử lý hoa lạnh tại Miami. Ngày nay, Ascolflores họat động rất mạnh mẽ trong quảng bá thương hiệu hoa Colombia, hỗ trợ kinh phí nghiên cứu phát triển, đào tạo nguồn nhân lực và các họat động xã hội khác. Sự tác động mạnh mẽ của Chính phủ cũng là một động lực quan trọng để ngành hàng hoa xuất khẩu Colombia phát triển. Chính phủ tác động thông qua các chính sách i) cho vay vốn với lãi xuất ưu đãi (dài hạn và ngắn hạn), ii) thuế trực tiếp ưu đãi (từ 15% còn 0,1% cho hoa xuất khẩu vào Mỹ), iii) giảm đáng kể thuế xuất nhập khẩu với các mặt hàng nguyên liệu chuyên dụng cho sản xuất hoa, iv) hỗ trợ chương trình hiện đại hóa, v) hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng và vi) khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu phát triển và bảo đảm sở hữu trí tuệ cho các công nghệ mới (Batt, 2000).
Các nước phát triển sản xuất hoa (Bắc Mỹ, EU, Nhật Bản và Australia) có ưu thế chủ yếu là nguồn tài chính dồi dào, cơ sở hạ tầng tốt, một nền công nghiệp hỗ trợ phát triển và thị trường nội địa mạnh. Tuy nhiên, chi phí sản xuất cao luôn là yếu tố hạn chế năng lực cạnh tranh trên thị trường hoa thế giới. Vì vậy, đã xuất hiện xu thế giảm sản xuất trong nước và chuyển dịch vốn đầu tư sang các nước đang phát triển có ưu thế về điều kiện khí hậu và nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực rẻ hơn. Ở khu vực châu Á, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia và Việt Nam là những nước sản xuất và xuất khẩu hoa còn nhiều tiềm năng và ưu thế cạnh tranh chưa được khai thác. Thái Lan và Malaysia ít nhiều đã góp mặt trên thị trường Nhật Bản, châu Âu và Bắc Mỹ. Trong thập kỷ 1990, Thái Lan xuất 21-28 triệu USD hoa (chủ yếu là phong lan) mỗi năm cho thị trường Nhật Bản và một lượng tương đương cho Bắc Mỹ và Châu Âu. Malaysia xuất 3,5 – 4 triệu USD/năm, chủ yếu cho thị trường Nhật Bản (JETRO, 2001). Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam đang bước những bước khởi đầu. Lợi thế cạnh tranh của các nước đang phát triển châu Á chủ yếu là điều kiện khí hậu thuận lợi, nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân công rẻ. Kinh nghiệm, hiểu biết, trình độ công nghệ và cơ sở hạ tầng thấp kém là những hạn chế cơ bản của các nước này. Mặc dù vậy, tham gia thị trường hoa thế giới luôn là tham vọng kích thích đầu tư phát triển. Trung Quốc xây dựng kế họach phát triển Vân Nam thành một trung tâm xuất hoa cắt cành lớn nhất châu Á và là một trong những vùng sản xuất hoa cắt cành quan trọng nhất của thế giới . Theo kế họach này, các mục tiêu chính sẽ là:
i)### Ngắn hạn, đến 2007: đưa diện tích hoa cắt cành từ 4000 ha năm 2002 lên 8000 ha, với năng suất 375.000 tệ/ ha (tăng 35%) đạt sản lượng 4,5 tỷ cành hoa trị giá 3 tỷ nhân dân Tệ (375 triệu USD) (tăng trưởng 22%/năm); xuất khẩu 20%, đạt kim ngạch 50 triệu USD;###
ii)### Trung hạn, đến 2010: đưa diện tích hoa cắt cành lên 10.000 ha, sản xuất 5,7 tỷ cành, với năng suất 450.000 tệ/ha (tăng 20% so với 2007), đạt giá trị tổng sản lượng 9 tỷ Tệ; xuất khẩu 30% đạt kim ngạch 100 triệu USD;
iii)### Dài hạn, đến 2020: đạt giá trị tổng sản lượng 20 tỷ Tệ (chiếm 20% sản lượng cả nước), xuất khẩu 50%, đạt kim ngạch 700 triệu USD (Yunnan KeYi flower Co.,Ltd).###
Chính phủ Trung Quốc đã tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng và khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất, công nghệ và thương mại hoa ở Vân Nam. Với sự hỗ trợ tư vấn và kỹ thuật của ITC và hỗ trợ tài chính của Chính phủ Thụy Sỹ (500 ngàn USD) Vân nam đã đưa được ngành hàng hoa cắt cành từ 16 ha năm 1991 lên 10.600 ha với giá trị tổng sàn lượng 415 triệu USD và kim ngạch xuất khẩu 30 triệu USD vào năm 2004 (mục tiêu của năm 2010 (ITC, 2004). Năm 2003, Vân Nam cũng đã xây dựng được sàn đấu giá hoa quốc tế tại Côn Minh (Kunming International Flora Austion Co. Ltd. – KIFA)(Costa et al., 2004) trên diện tích 11 ha với tổng mức đầu tư 11,87 triệu euros gồm hai bảng giao dịch điện tử và 300 chỗ ngồi cho khách hàng (Evans, 2007). Hệ thống đấu giá của KIFA được áp dụng theo phuơng thức của sàn Aalsmeer Flower Austion (VBA) của Hà Lan (Evans, 2007). Trong giai đọan đầu, VBA đóng vai trò cố vấn cho các hoat động của KIFA. Họat động kinh doanh của KIFA tập trung vào các loại hoa cắt cành có chất lượng cao nhất với khối lượng lớn và các dịch vụ cung ứng đầy đủ trước và sau bán hàng. Trung Quốc đang dần trở thành một đối thủ cạnh tranh thực sự mạnh trên thị trường hoa cắt cành thế giới.
-
**2.**Sản xuất và thương mại hoa cắt cành ở Việt Nam 2.1. Tiềm năng và hiện trạng
Sản xuất hoa cắt cành của Việt Nam hiện nay tập trung ở xung quanh một số đô thị lớn. Xung quanh Hà Nội có trên 1000 ha, tập trung chủ yếu ở các huyện Từ Liêm, Đông Anh và huyện Mê Linh, Vĩnh Phú. Các lọai hoa cắt cành chủ yếu là hồng, cúc, đào, lay-ơn, cẩm chướng, ... Hải Phòng với trên 300 ha, cung cấp một lượng đáng kể (chủ yếu là hoa lay-ơn) cho thị trường tại chỗ, Hà Nội và một số tỉnh lân cận phía Bắc. Sapa là địa bàn có tiềm năng đối với một số hoa ưa lạnh, nhưng sản xuất còn ở quy mô nhỏ với một số hecta trồng hoa hồng. Một số tỉnh duyên hải miền Trung bắt đầu phát triển sản xuất hoa cắt cành theo hước hàng hóa, chủ yếu để phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ, với chủng lọai tương đối hạn chế. Ở phía Nam, không kể Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh có các huyện Hooc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp, Thủ Đức và các tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp là nguồn cung cấp hoa (và cây cảnh) đáng kể. Tuy nhiên, các địa bàn này chỉ sản xuất chủ yếu một số lọai hoa nhiệt đới (phong lan, cúc móng rồng, cúc đại đóa, huệ, mai, ...). Lượng hoa cắt cành truyền thống (hồng, cúc, cẩm chướng, đồng tiền, ...) sản xuất được rất hạn chế với chất lượng thấp.
Nhìn chung, sản xuất hoa cắt cành truyền thống tại các vùng đồng bằng, cả ở phía Bắc và phía Nam, bị hạn chế rất lớn về thời vụ do điều kiện khí hậu không thích hợp. Ở phía Bắc, hầu hết các lọai hoa cắt cành truyền thống (hồng, cúc, cẩm chướng, đồng tiền, lay-ơn, ...) chỉ có thể sản xuất được với chất lượng khá trong vụ Đông –Xuân. Mùa hè nóng bức, nhiệt độ và độ ẩm quá cao là yếu tố khó có thể khắc phục của vùng đồng bằng để có thể sản xuất hoa cắt cành truyền thống đạt yêu cầu chất lượng và hiệu quả kinh tế. Khí hậu ở miền Trung và miền Nam càng ít thuận lợi hơn ngay cả trong mùa mát nhất. Sapa là cung có khí hậu mát lạnh, nhưng không ôn hòa, mùa đông qúa lạnh, mùa hè mưa quá nhiều (3000mm/năm) tạo những bất thuận lớn cho sản xuất nông nghiệp nói chung và hoa cắt cành nói riêng.
Lâm Đồng hiện có khỏang 2200 ha sản xuất hoa cắt cành truyền thống, tập trung chủ yếu ở Đà Lạt và các huyện Lạc Dương, Đức Trọng, Đơn Dương và sản xuất mỗi năm khỏang 740 triệu cành hoa, trị giá 296 tỷ đồng (PCTTI, 2006). Riêng Đà Lạt sản xuất mỗi năm 600 triệu cành hoa trên diện tích 1400 ha. Các chủng lọai hoa chủ yếu là cúc (57%), hồng (15%), lay-ơn (15%), đồng tiền (3%), cẩm chứơng (2%), địa lan (1%) (ước tính diện tích).
Với nhiệt độ trung bình ban ngày 25oC, nhiệt độ ban đêm hiếm khi xuống quá 10oC, Đà Lạt và vùng ven có điều kiện lý tưởng cho sản xuất thâm canh quanh năm các lọai hoa cắt cành ôn đới truyền thống. Khỏang cách gần với thành phố Hồ Chí Minh, sự thuận thiện về vận tại đường bộ và hàng không là thuận lợi lớn để hoa Đà Lạt có thể đền được các thị trường trong nước và quốc tế. Các yếu tố thuận lợi đó cùng với giá lao động rẻ hiện nay tạo cho Lâm Đồng những lợi thế so sánh rất đáng kể so với những vùng sản xuất hoa khác ở Đông và Đông Nam Á kề cả người khổng lồ Vân Nam, Trung Quốc. Vì vậy, nhiều nhà đầu tư nước ngòai đã thành lập các trang trại trồng hoa tại Đà Lạt. Hasfarm, Bonnie Farm và Florama là những công ty lớn đã gặt hái nhiều thành công.
Trong những năm qua, do có khá nhiều nông dân chuyển từ sản xuất rau sang sản xuất hoa, cung có xu hướng vượt cầu, làm cho giá hoa và thu nhập của người trồng hoa suy giảm đáng kể. Xuất khẩu hoa trở thành một nguyện vọng, một mục tiêu bức súc của những người trồng hoa và thu hút được nhiều sự quan tâm của Nhà nước và đầu tư của các doanh nghiệp. Đã có nhiều cố gắng nhằm cải thiện trình độ công nghệ, quảng bá hình ảnh của ngành hàng hoa Đà lạt, xây dựng thương hiệu và thử nghiệm xuất khẩu, nhưng cho đến nay, ngòai một số doanh nghiệp nước ngòai có sẵn vốn, công nghệ và thị trường, vẫn chưa có kênh xuất khẩu chính thức nào thực sự thành công đáng kể. Trên 95 % sản lượng hoa Đà lạt vẫn được tiêu thụ trong nước. Chỉ khỏang 5 % lượng hoa được xuất chính thức thông qua các công ty có 100% vốn đầu tư nước ngoài, chủ yếu là Hasfarm, công ty lớn nhất đảm đương 95 % lượng hoa xuất khẩu của cả nước năm 2006 (BTM, 2007), đạt kim ngạch 8,179 triệu USD, gấp 3,36 lần năm 2000 (PCTTI, 2006).
**2.2.****Những vấn đề **
### Kết quả từ một số nghiên cứu gần đây (Poulish et al., 2003; P. X. Tùng et al., 2004) cho thấy i) còn thiếu nhận thức tốt về yêu cầu chất lượng trong tất cà các khâu trong dây chuyền cung ứng, ii) hầu hết những người trồng hoa còn thiếu kỹ năng cần thiết để sản xuất những cành hoa có chất lượng cao thực sự, iii) rất ít người sản xuất có khả năng đầu tư công nghệ cần thiết, iv) thiếu năng lực bảo quản, vận chuyển lạnh, v) rất ít người sản xuất, kinh doanh hoa áp dụng kỹ thuật xử lý sau thu họach, vi) hầu hết người sản xuất hoa có hiều biết tốt về thị trường và, vii) thiếu thông tin ngành hàng nagy tại các cơ quan chức năng của Nhà nước để hỗ trợ lập kế họach và tiếp thị. ###Trong những năm gần đây, một số doanh nghiệp tư nhân đã rất có gắng đề tiếp cận thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, xuất khẩu vẫn là vấn đề khó tiếp cận đối với hầu hết các doanh nghiệp này và cũng chưa có doanh nghiệp nào thực sự thành công như những nhà xuất khẩu chính ngạch ổn định và vững vàng. Trong rất nhiều nguyên nhân kỹ thuật và xã hội, thiếu giống hoa thích hợp với thị trường đối tác, thiếu công nghệ sản xuất thích hợp, thiếu quy trình kiểm sóat chất lượng thích hợp, thiếu điều kiện xử lý, bảo quản và thiếu nguồn cung ứng hoa là những nguyên nhân cơ bản nhất (Poulish et al., 2003; P. X. Tùng, 2004 và P. X. Tùng et al., 2004).
Từ những kết quả nghiên cứu, những vấn đề hạn chế xuất khẩu có tính chiến lược của ngành hàng hoa Việt Nam được xác định là:
i.### Thiếu hệ thống tiếp thị hợp tác;###
ii.### Thiếu cơ sở hạ tầng hỗ trợ (kho vận lạnh, kho bãi xử lý hoa, giao thông nội vùng);###
iii.### Thiếu những người sản xuất (nông hộ hoặc doanh nghiệp) có năng lực xuất khẩu (bao gồm thiếu hiểu biết thị trường và quan hệ với thị trường xuất khẩu, chất lượng hoa thấp, thiếu chiến lược quan lý kinh doanh và sản xuất nhỏ lẻ, không đủ nguồn cung ứng hoa).
**3.**Thay cho lời kết
### Thị trường hoa cắt cành thế giới là một thị trường năng động, mang tính cạnh tranh găy gắt nhưng cũng là thị trường rộng mở và có khuynh hướng phát triển mạnh trong những thập kỷ tới. Sản xuất hoa cắt cành có xu hướng dịch chuyển về phía các nước đang phát triển để tận dụng các lợi thế cạnh tranh từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực rẻ và các chính sách ưu đãi đầu tư. Các nước đang phát triển, mặc dù chỉ chia sẻ một phần nhỏ thị trường hoa thế giới, nhưng với những lợi thế cạnh tranh của mình đang dần trở thành những nhà cung cấp và xuất khẩu hoa có vai vế trên thị trường quốc tế. ###Việt Nam có nhiều lợi thế so sánh để có thể trở thành một nước sản xuất và xuất khẩu hoa có tẩm cỡ trong khu vực và trên thế giới. Nhờ có điều kiện đặc biệt thuận lợi về khí hậu, đất đai, Lâm Đồng nói chung và Đà Lạt nói riêng có tiềm năng lớn để trở thành trung tâm sản xuất và xuất khẩu hoa cắt cành của cả nước. Sản xuất quanh năm với chất lượng hoa tốt là một lợi thế cạnh tranh lớn cần được khai thác. Hoện trạng sản xuất và tiêu thụ hao cắt cành của Đà Lạt, lâm Đồng cho thấy để có thể phát triển một ngành hàng hoa cắt cành phục vụ xuất khẩu cần có những thay đổi phù hợp về chính sách đầu tư phát triển ngành hàng như như ITC (2001) khuyến cáo nhằm phát triển tòan diện cả hệ thống các dịch vụ hỗ trợ cho sản xuất, kinh doanh hoa cắt cành. Sự phát triển vượt bậc của ngành hàng hoa Vân Nam, Trung Quốc là một mô hình cần nghiên cứu, học tập.
-
Tài liệu tham khảo
### GANDIFOcenter (Guangxi Agriculture Information Center), 2006. Beijing becomes ### the consumer market of largest flowers. ### **http://www.Gxny.gov.cn**ITC (International Trade Center), UNCTAD/WTO, 2001a. Product profile: Cut flower & Foliage. Business sector round table discussion document. Third UN Conference on the Least Development Countries, Brussel, 16 May 2001.
ITC (International Trade Center), UNCTAD/WTO, 2001b. Cut Flowers in Yunnan Province of China - ITC experience in technical cooperation for export diversification. ### Regional Workshop on Commodity Export Diversification and Poverty Reduction in South and South-East Asia (Bangkok, 3-5 April, 2001). ### Organized by ### UNCTAD### in cooperation with ### ESCAP.###
ITC (International Trade Center), UNCTAD/WTO, 2006. Market News Service (MNS) No 2/2006 - Cut flowers and plants: European and Asian Markets.
ITC (International Trade Center), UNCTAD/WTO, 2004. From China, saying it with flowers. Press Release No 219, 22 April 2004, Geneva.
FCH (Flower Council of Holland), 2006. Flower consumption in the US. http://www.flowercouncil.org/us/marketinformation/)###
Nishimura, K. K., 2007. Flower import on the rise in Japan. IFEX special report. http://www.ifex-jp/english###
AIC (Agribusiness Information Centre), 2006. Indian Floriculture Industry Present Status & Scope. Federation of Indian Chambers of Commerce & Industry (FICCI). ### http://www.ficciagroindia.com/###
JETRO (Japan External Trade Organzation), 2001. Japanese Market Report No58 (Ag-83)- Cut Flowers.
RIRDC (Rural Industries Research & Development Corporaion), 1999. A stuty of the Taiwan flower market. RIRDC publication No 99/40, 1999.
EC (European Commission), 2005. Commission staff on the situation of the flowers and ornamental plants sector, Working document. Directorate General for Agriculture and Rural Development. ###
DFAA (Dutch Flower Auction Association), 2004. Annual Report 2004. ### http://www.vbn.nl/###
USDA (United State Department of Agriculture), 2004. Economic Research Service, Briefing Room- Floriculture crops: Trade. 2004.###
Batt, P., 2000. Strategic lessons to emmerge from an analysis of selected flower export nations. J. Internat. Food & Agribusiness Marketing, No. 11(3).
De Groot, 1998. Floriculture worldwide – Trade and consumption patterns. Proc. World Conference on Horticultural Research, 17-20 June 1998, Rome, Italy.###
Costa, J. M., N. Borden và A. Vander Ploeg, 2004. ornamental production in China. FlowerTech 2004, vol. 7/No 3, p 18-21.
Evans, A., 2007. Flower austions around the world. Floraculture International Online, Nay 2007 issue.
TT TM-DL-ĐT (Trung tâm Hỗ trợ Thương mại, Du Lịch và Đầu tư Lâm Đồng), 2006. Báo cáo tổng quan tình hình sản xuất chè, rau và hoa, tháng 11/2006.###
Yunnan KeYi flower Co., Ltd, 2007.### Development Planning For Yunnan Flower Industry### . ### http://www.kmflower.com.cn.
Chào bạn! Có vẻ như bạn quan tâm đến cuộc trò chuyện này, nhưng bạn chưa có tài khoản.
Bạn cảm thấy mệt mỏi vì phải cuộn qua cùng một bài đăng mỗi lần truy cập? Khi đăng ký tài khoản, bạn sẽ luôn quay lại đúng vị trí bạn đã xem trước đó và có thể chọn nhận thông báo về các bình luận mới (qua email hoặc thông báo đẩy). Bạn cũng có thể lưu lại các bài đăng yêu thích và bình chọn cho các bài đăng để thể hiện sự ủng hộ của mình đối với các thành viên khác trong cộng đồng.
Với sự đóng góp của bạn, bài viết này sẽ còn tuyệt vời hơn nữa 💗
Đăng ký Đăng nhập