Bỏ qua nội dung
📖 Trang viết

Bác sĩ Yearsin - Đặt chân lên cao nguyên LANGBIAN

  • adminA

    Iii. Từ Tánh Linh đến Phan Rang

    Trước khi đến Phan Rang bằng một con đường khác con đường vừa đi qua, tôi có ý định xuống thung lũng La Ngà, men theo hữu ngạn dòng sông để thử tìm xem con đường qua ngả này có tiện hơn không?
    Tôi khởi hành vào ngày 22 tháng 5. Chuyến thám hiểm này có thể khó khăn vì mùa mưa đã đến. Chúng tôi qua sông ở Bác Nui, rồi theo con đường đi về hướng Tây. Đường mòn dẫn đến Blu rất tốt, nhưng từ làng này, hay nói đúng hơn từ Đạ Cai (Ba Kai) (gần Blu) đến Cao Cang không có con đường nào khác hơn là La Ngà. Cả cánh đồng đều bị ngập lụt. Tuy nhiên, dân làng cam đoan với tôi nếu đi vòng lên hướng Bắc sẽ qua khỏi cánh đồng và đến Cao Cang.
    Tôi đi theo lộ trình của ông Néis và Umann đi ngang qua các làng Mê Pu (Mé P’hou), B’ Sar (Bassar), Gu Mo (Goumor) trên sông Đạ Hu-oai (Da Oui), một trong những nhánh sông lớn của sông Đồng Nai.
    Từ Gu Mo, tôi đi theo một con đường khác tiến về hướng Tây, rồi về hướng Nam. Tôi gặp những bộ tộc độc lập không đóng thuế cho ai cả. Khắp nơi, họ tiếp đãi tôi rất ân cần nhưng hành trình cực kỳ vất vả vì đường dốc và mới mở, vắt lại rất nhiều. Ở vài nơi, đi được 20 bước phải dừng lại một lần để bắt cả một tá con vắt. Thật đúng là một cực hình! Tôi đi ngang qua các làng: Mouur, Pron, Cone Hô, M’Srang, v.v...
    Người Thượng dệt vải làm mền, khố, áo ngắn. Họ chỉ trồng lúa rẫy. Chủ làng tiếp khách, mời khách uống rượu và nghe nhạc cồng chiêng. Bảy người Thượng mỗi người cầm một cái cồng xếp hàng theo kiểu Ấn Độ rồi đi chậm chậm trong lều, dùng nắm tay phải đánh theo nhịp điệu. Hoà âm rất khéo và cảm động!
    Ngày 20 tháng 5, dân làng cam đoan với tôi chiều nay sẽ đến Cao Cang. Chúng tôi còn đi qua các làng Chang Muong, Con Hine. Trong vài giờ, dưới cơn mưa, chúng tôi đi trong một khu rừng đầy vắt, và cuối cùng chúng tôi đến... Đạ Cai, nơi tôi đã khởi hành cách đây 4 ngày! Rõ ràng không có con đường nào khác con đường sông nối liền Đạ Cai với Cao Cang.
    Tôi đành phải đi theo lối này.
    Đạ Cai cách La Ngà khá xa, nhưng cánh đồng đã bị ngập lụt, chúng tôi có thể rời bến ở một địa điểm gần buôn và chèo thuyền đi giữa những đám cỏ cao trong vài giờ. Dòng sông uốn khúc quá nhiều nên phải mất một ngày chèo thuyền từ buôn này đến buôn khác.
    Ông Néis đã thăm Cao Cang và mô tả tỉ mỉ Da Bakua, một tảng đá khổng lồ mà dân trong vùng tôn sùng như Thượng đế.
    Ở Cao Cang, người Thượng không nói tiếng Mạ mà dùng một thổ ngữ rất gần với tiếng Khơ-me. Tôi nhận xét thấy từ Đạ Cai đến Cao Cang có những bộ tộc khác nhau.
    Cao Cang nối liền với Dong Ly - một làng nằm gần hợp lưu sông La Ngà và Đồng Nai - bằng một con đường có thể đi xe trâu vào mùa khô, vào mùa này đường bị ngập nước.
    Ngày 23 tháng 5, trong một ngày, tôi đi từ Cao Cang trở về Tánh Linh. Tôi chèo thuyền từ Cao Cang đến Võ Đắt (Vio Deuk), rồi đi bộ từ Võ Đắt đến Tánh Linh.
    Từ chuyến thám hiểm này, tôi rút ra một kết luận là đi theo hữu ngạn sông La Ngà không có lợi, cả vùng là một cánh đồng ngập nước từ những trận mưa đầu mùa và có rất ít dân cư sinh sống.
    Ngày 30 tháng 5, tôi trả về Phan Thiết con voi, các quản tượng và một người Việt, tất cả đều bị sốt rét nặng không còn giúp tôi được nữa. Tôi lại lên đường, tính men theo tả ngạn sông La Ngà lên tận Con Rum. Tôi muốn con đường đi qua đây thay vì vượt sông La Ngà hai lần ở Bác Nui và Con Rum như tôi đã đi đến Tánh Linh theo hữu ngạn.
    Từ Tánh Linh đến Ja Con phải mất nguyên một ngày đường. Chúng tôi đi vòng núi Ông, leo lên những hoành sơn cuối cùng ở hướng Bắc rồi đi vào vùng đồng bằng.
    Ja Con nằm trong một thung lũng có núi Snoung bao bọc ở ba phía. Dòng suối chảy qua thung lũng là một nhánh sông Phan Thiết.
    Từ Ja Con, chúng tôi vượt đèo đến Cà Dòn (Ca Yon). Trong vùng có rất nhiều voi. Một anh thợ săn người Việt bắn chết vài con voi rất đẹp.
    Line Yan ở độ cao 430m. Đây là một trong nhiều làng kiểu Thượng - Mã Lai nằm trong thung lũng tuyệt đẹp Da Ross, một dòng sông nhỏ nước chảy mạnh như thác nhập vào sông La Ngà cách đó khá xa.
    Từ Line Yan đến Con Rum, đoạn đường đi thật vất vả. Chúng tôi phải vượt qua vô số đồi núi hiểm trở, không ngừng lên xuống dốc.
    Tôi không dừng lại ở Con Rum, nơi tôi đã biết. Dân làng nói rằng từ hôm tôi đi cọp còn vồ mất hai người Thượng! Như vậy tất cả là năm người!
    Từ Con Rum, tôi qua bên hữu ngạn sông La Ngà trên một chiếc cầu còn tốt mặc dầu nước sông dâng cao. Ý định của tôi là men theo hữu ngạn dòng sông lên thung lũng La Ngà. Tôi đi ngang qua nhiều làng mang tên Tố La, lên dốc xuống đèo, rồi lại xuống đèo lên dốc, cuối cùng đến Tia Lao có ghi trên bản đồ của Umann.
    Tia Lao cao 300m là một điểm ngoạn mục. Tôi có thể ghi chính xác hình dáng toàn vùng và đánh dấu nhiều điểm quan trọng. Tôi đặc biệt chú ý một ngọn núi cao hình như hoàn toàn lẻ loi ở hướng Bắc. Đó là núi Tà Đung (Ta Doum). Dưới chân núi, sông Đồng Nai chảy theo hướng Đông Tây; xa hơn, dòng sông uốn khúc chuyển xuống hướng Nam. Vì thế tôi quyết định đến Tà Đung.
    Ngày 9 tháng 6, tôi ngủ ở B’ Sar (Bassar), một làng trên cao nguyên gần Yane, chỉ cách Yane bằng một thung lũng nhỏ của sông Đa Rê-am (nhánh sông lớn của La Ngà). Cả vùng rất đông dân và giàu có. Đi trong một giờ, tôi gặp rất nhiều buôn làng. Đất đai thật thích hợp cho chăn nuôi!
    Từ B’ Sar (Bassar) đến Bross, chúng tôi đi mất hai ngày đường trong một vùng tuyệt đẹp. Khắp nơi chúng tôi đều thấy buôn làng và nương rẫy. Bross nằm trong một thung lũng sâu có núi Tà Đung hùng vĩ án ngữ về hướng Bắc. Dòng sông Đồng Nai chảy qua thung lũng này.
    Tôi có ý định leo núi Tà Đung. Nhìn từ xa, ngọn núi giống như một cái nón lá lớn chụp trên cao nguyên. Khi đến gần, chúng tôi nhìn thấy rất nhiều đỉnh núi cao và thung lũng sâu, phía dưới những thác nước lạnh ngắt gầm vang. Chúng tôi có cảm tưởng như đang ở trong vùng núi Alpes (An-pơ).
    Tôi bảo người Thượng ở Yane dẫn tôi lên đỉnh núi cao nhất. Chuyến leo núi mất 2 ngày. Không có đường, chúng tôi phải ngủ lại đêm trên núi, gần đỉnh núi ở độ cao 2.000m. Những con vắt nhỏ nhung nhúc ở chân núi không còn xuất hiện ở đây nữa. Lúc nào chúng tôi cũng thật khổ cực vì phải ở trong mây và mưa. Tôi lợi dụng ánh sáng của tia chớp để leo lên đỉnh núi cao nhất (2.100m). Nơi đây rừng rậm rạp đến nỗi để nhìn cho rõ tôi phải leo lên cây. Chân trời bao la nhưng khắp nơi màn mưa dày đặc ngăn cản không cho tôi xác định vị trí chính xác được.
    Tôi xuống núi nhanh, trong cùng ngày tôi đến Con Tan, nơi tôi đã qua khi đi từ Phan Rí đến Tánh Linh.
    Từ Con Tan đến Ri-ông, tôi đi theo một con đường khác con đường tôi đã đi tháng trước. Việc này giúp tôi ghi được nhiều làng mới trên bản đồ.
    Cuối cùng, tôi để đồ đạc lại ở Ri-ông và cùng với bốn người khuân vác thám sát Lang Bi-an, ngọn núi cao ở thượng nguồn sông Đồng Nai.
    Lang Bi-an ở phía Bắc Ri-ông cách hai ngày đường. Cao nguyên nhấp nhô và cao dần từ 900m đến 1.200m. Từ 15 đến 20km trước khi đến chân núi, tôi ra khỏi rừng và đứng trên một vùng hoàn toàn trơ trụi và đầy cỏ. Núi đồi nhấp nhô khiến tôi có ấn tượng như đang đi trên một đại dương xao động vì những ngọn sóng khổng lồ. Núi Lang Bi-an đứng sừng sững ở giữa như một hòn đảo và hình như càng xa dần khi tôi đến gần. Người ta dễ tính sai khoảng cách trên những cánh đồng bao la này. Dưới chỗ trũng, đất màu đen và đầy than bùn. Những đàn nai lớn để yên cho tôi đến gần vài trăm mét, rồi vụt chạy ra xa, ngoái cổ lại tò mò nhìn chúng tôi.

    *Dân cư trong vùng thưa thớt, vài làng người Lạch (M’ Lates) tập trung ở chân núi. Họ trồng lúa nước rất tốt. Chúng tôi qua sông Đồng Nai, chỉ là một con suối rộng 3 mét, và đến Đăng Gia (Lang Ya hay Dan Ya) có chánh tổng trú ngụ. *
    *Người Lạch nói cả tiếng Chăm và tiếng Mạ. Phụ nữ có vành tai khoét một lỗ lớn và đặt vào đó những chiếc vòng to treo lủng lẳng những sợi dây thiếc hình xoắn ốc rất nặng. *
    *Tôi được tiếp trong nhà chung. Mỗi chức sắc trong làng mang đến một ché rượu. Trước mặt tôi có cả thảy 6 dãy ché. Rất may, họ không đòi hỏi tôi uống lần đầu hết tất cả. *
    *Tôi chỉ ngủ lại đêm ở Đăng Kia, rồi trở về Ri-ông dưới một cơn mưa tầm tã. Trời mưa khiến cho sườn dốc rất trơn trợt và biến những dòng suối nhỏ thành những dòng sông thật sự, rất nguy hiểm khi vượt qua. *
    Trong thời gian tôi đi vắng, một con cọp cố vồ lấy một trong những con ngựa của tôi đứng ngay trong hàng rào của trại. Anh thợ săn người Việt mà tôi để lại ở Ri-ông tổ chức chiến đấu. Anh ta chỉ bắn bị thương con cọp. Con thú dữ này trong khi chạy trốn đã vồ hai người Thượng bị thương nặng...”
    **

    *Rời Ri-ông, Yersin men theo thung lũng sông Đa Nhim và vượt sông Phan Rang.
    Từ ngày 19 tháng 7, Yersin lên miền núi tỉnh Khánh Hoà và Đắc Lắc để hoà giải những vụ xung đột giữa các bộ tộc người Thượng.
    Thống đốc Nam Kỳ mong muốn Yersin thực hiện một chuyến đi trong mùa mưa trên con đường Yersin đã đi qua trong mùa khô, nhân tiện nhận xét thêm về phần đất bị ngập lụt và tầm quan trọng của các dòng sông.
    Ngày 8 tháng 9, Yersin rời Nha Trang và đi theo con đường cái quan đến Phan Rang. Một lần nữa, Yersin từ Phan Rang lên cao nguyên.
    Yersin đi ngang qua các làng Đi-ôm, Bô Kran, K’ Dòn, Lao Gu-an, Ta-la, v.v...
    Khắp nơi Yersin được tiếp đãi ân cần như trong chuyến đi vừa qua. Đồng lúa tươi tốt hứa hẹn được mùa lớn.
    Đến Tánh Linh, Yersin thấy cả vùng bị ngập lụt. Nếu xây dựng một con đường từ Tánh Linh phải nâng mặt đường cao hơn mặt ruộng, rất tốn kém. Về sau, con đường từ Sài Gòn qua Tánh Linh đến bờ biển miền Trung không thực hiện được. Thay vào đó là con đường Sài Gòn - Phan Thiết đi ngang qua Túc Trưng - Long Khánh - Hàm Tân như hiện nay. [47, 166 - 205]
    *

  • adminA

    Khảo Sát đầu Tiên Cao Nguyên Lang Bi-an

    Trong hai năm 1942 - 1943, tạp chí Đông Dương (Indochine) đã dành 9 số để đăng hồi ký của bác sĩ Yersin viết về những chuyến đi lên Tây Nguyên, Căm-pu-chia và Hạ Lào từ năm 1891 đến năm 1894: Nha Trang - Phan Rang - Phan Rí - Djiring - Phan Thiết (1891); Ninh Hoà - Đắc Lắc - Xtưng Treng (1892); Biên Hoà - Lang Bi-an - Phan Rang; Ninh Hoà - Đắc Lắc - Nha Trang- Tánh Linh - Biên Hoà (1893); Ninh Hoà - Đắc Lắc- Công Tum - Gia Lai - A-tôpơ - Đà Nẵng (1894).
    Sau đây là bản dịch chương Khảo sát đầu tiên cao nguyên Lang Bi-an:
    *“Năm 1893, tôi thám hiểm miền Thượng ở phía Đông dãy Trường Sơn giữa hai vĩ tuyến của Phan Thiết và Nha Trang và cố gắng thiết lập một bản đồ. *
    *Tôi mang theo một máy kinh vĩ và một áp kế giúp tôi tính toán các toạ độ địa lý để xác định các điểm đáng chú ý. Tôi lặn lội khắp vùng trong 5 tháng (từ tháng 3 đến tháng 7), ghi các dòng sông, vị trí những nơi có dân cư sinh sống, hình dáng những ngọn núi. *
    *Chính trong lần khảo sát này, ngày 21-6-1893, tôi tiếp xúc lần đầu với cao nguyên Lang Bi-an. Lộ trình đi gần giống như lộ trình về sau được chọn để thiết lập một trong những con đường lên cao nguyên đi ngang qua Phi Nôm, Pren để đến Đà Lạt. *
    *Vừa ra khỏi rừng thông, ấn tượng của tôi thật sâu sắc khi đứng trước một vùng cao nguyên mênh mông, hoang vắng và trơ trụi, gợi nhớ lại cảnh biển động vì một đợt sóng khổng lồ màu xanh dâng lên. Núi Lang Bi-an sừng sững ở chân trời phía Tây Bắc cao nguyên, làm tăng thêm vẻ đẹp của cảnh quan và tạo nên một hậu cảnh tuyệt mỹ. *

    Tôi đi ngang qua cao nguyên để đến làng Thượng Đăng Kia, tôi xuống cao nguyên Đrăn - Djiring ở phía dưới bằng một lộ trình khác đi ngang qua Ăn Krô-ét và một chuỗi làng mang tên chung là Ri-ông.
    Về sau, tôi có dịp lên cao nguyên Lang Bi-an theo những con đường khác và đặc biệt biết được con đường nối liền các đỉnh núi từ Đrăn lên Đà Lạt qua Trạm Hành (Arbre Broyé), Cầu Đất (Entrerays), Trạm Bò (Le Bosquet) và cao nguyên Lang Bi-an nhỏ (Petit Lang Bian) mà viện Pasteur cách đây vài năm đã thiết lập một trạm thử nghiệm cây canh-ki-na”. [50, 42 - 43]


    Yersin năm 1893

  • adminA

    đáp Từ Của Yersin

    Ngày 28-6-1935, trong buổi lễ khánh thành trường trung học Yersin và phát thưởng trọng thể cuối năm học 1934 - 1935, sau lời phát biểu của Paul Duvernoy (Pôn Đuy-vẹc-nôi) - học sinh lớp 2A’, Yersin đã đọc đáp từ sau:

    *### “Tôi rất cảm động về cảm tình các em dành cho tôi. Các em hãy tin chắc rằng tôi rất quý mến các em. *
    *### Các em tập họp quanh tôi làm cho tôi trẻ lại và gợi nhớ đến thời xa xưa. Ngày ấy, là một học sinh trẻ tuổi, tôi thường táo bạo mơ mộng đến một tương lai đầy mạo hiểm mà hoàn cảnh cho phép tôi thực hiện. *
    *### Các em khiến tôi hồi tưởng lại sự phát hiện cao nguyên Lang Bi-an vào tháng 6 năm 1893 trong một chuyến đi khảo sát với mục đích thám hiểm vùng rừng núi Nam Trung Kỳ lúc bấy giờ hoàn toàn chưa ai biết đến. *
    *### Ấn tượng của tôi thật sống động khi vừa ra khỏi rừng thông, tôi đứng trên bờ của một cao nguyên mênh mông, trơ trụi và mấp mô có ba đỉnh núi Lang Bi-an chế ngự. Mặt đất nhấp nhô khiến tôi liên tưởng đến biển cả xao động vì một ngọn sóng khổng lồ như thường thấy trên bờ biển miền Trung vào lúc trời sắp giông bão. *
    ### Không khí mát mẻ làm cho tôi quên đi nỗi mệt nhọc và tôi nhớ lại niềm vui được chạy lên chạy xuống hết tốc lực trên những ngọn đồi xanh tươi như một cậu học trò nhỏ...” [49, 11]

  • adminA

    Bút Tích Của Yersin

    Một năm sau khi Yersin qua đời, Tập san của Hội Nghiên cứu Đông Dương* (Bulletin de la Société des Études Indochinoises), bộ XIX, số 1, xuất bản vào* quý I năm 1944, có đăng nhiều bài viết về Yersin, đặc biệt hai trang in lại trang 117 và 118 nhật ký của Yersin viết về ngày 21 và 22 tháng 6 năm 1893:


Chia sẻ
Đang online
Hết trang — Đà Lạt Hoa
Nhật ký cộng đồng · Powered by NodeBB