Ii. Từ Phan Rí đến Tánh Linh
Từ Phan Thiết, tôi đi trên con đường cái quan đến Nha Trang để trình diện với công sứ Lenormand rồi trở về Phan Rí. Tôi dự định lại đi từ Phan Rí vào xứ Thượng để tìm con đường tốt nhất nối liền Phan Rí với Tánh Linh. Tôi dẫn theo một con voi của thành Khánh Hoà để chuyên chở đồ đạc và nhiều con ngựa.
Ở Phan Rí, các ông quan biết tôi có chích thuốc ngừa (1) xin tôi chích cho trẻ con trong vùng. Trong hai ngày, người Kinh và Chăm dẫn 1.200 em bé đến cho tôi chích thuốc.
Ngày 8 tháng 4, từ sáng sớm, chúng tôi khởi hành lên miền núi. Đoàn lữ hành của chúng tôi khiến cho dân chúng ven đường rất ngạc nhiên. Họ chưa bao giờ thấy một đoàn nào như vậy: 80 người khuân vác, 6 con ngựa, và nhất là voi!
Từ Phan Rí, tôi đến Ca-long Ma-đai (Kalon-Madai) ở chân núi. Đây là một làng Chăm ở Bình Thuận mà người Kinh và người Thượng thường lui tới để buôn bán và trao đổi hàng hoá.

**
Ở Ca-long có rất nhiều công. Vào lúc hoàng hôn, một khúc nhạc lạc điệu vang lên. Đây là thời điểm tốt nhất để bắn vài con công.
Có 2 nẻo đường từ Ca-long lên cao nguyên: một nẻo đi ngang qua Ta-ly đến Ta-la (2 ngày đường) và một nẻo khác đến Lao Gu-an (Lao-Gouan) (1 ngày đường). Tôi đã biết con đường thứ nhất. Hai năm về trước, tôi đã đi trên con đường này trong chuyến lên miền Thượng đầu tiên. Lúc bấy giờ, thời tiết rất xấu. Tôi còn nhớ mãi tôi đã vượt hai ngọn đèo cao 900 và 1.200m trong một cơn mưa tầm tã.
Chúng tôi thử đi trên nẻo đường khác.
Đường mòn từ Ca-long đến Lao Gu-an lúc nào cũng lên dốc, trong khi trên nẻo đường Ta-ly - Ta-la có nhiều đoạn lên xuống liên tục.
Đường dốc rất đứng. Người quản tượng không bao giờ thấy cảnh tượng như vậy bèn giao cho những người khuân vác mang hộ cả bành voi. Trong thực tế, đoạn đường dốc chỉ kéo dài 2 giờ rưỡi, nhưng rất đứng vì chúng tôi leo từ 50m lên 950m. Từ độ cao 600m, chúng tôi đi vào rừng thông.
Từ đỉnh núi, chúng tôi nhìn thấy chân trời bao la. Ở phía Đông Nam, một cánh đồng đầy bụi rậm giới hạn bởi những cồn cát trắng xoá, rồi Biển Đông một màu xanh nhạt hoà với màu xanh của bầu trời ở chân trời xa. Về phía Tây Bắc là cao nguyên miền Thượng với những rừng thông và bãi cỏ. Xa hơn nữa là dãy núi mờ nhạt.
Từ đỉnh đèo đến làng Lao Gu-an đi mất 5 phút. Làng có một loạt xóm nhỏ nằm giữa ruộng lúa. Mỗi gia đình sống trong một nhà sàn nhỏ.
Nhờ tiếp xúc thường xuyên với người Chăm ở chân núi, dân làng Lao Gu-an cũng như các làng nằm trên đỉnh núi giữa Phan Rí và Phan Rang (Lao Gu-an, K’Dòn, R’Lôm, Bô-kran, M’Lọn, Đi-ôm) không còn mang tính chất thuần tuý miền Thượng, nói cả hai thứ tiếng Mạ và Chăm.
Khách không được tiếp trong nhà của chủ làng mà trong nhà làng cất tại một nơi hơi cách xa làng. Dân làng mang đến cho chúng tôi nước, lửa, chiếu và quà tặng cho khách. Đặc biệt, quà gồm có gà, trứng, chuối và một ché rượu. Cũng như tại các nơi khác trên miền Thượng, chủ làng cử hành một nghi lễ tôn giáo trong khi khách uống rượu cần. Người Thượng không thờ Phật, thần linh chính của họ hình như là Yàng. Chủ làng đưa cho tôi một cái cần trúc để tôi cắm vào ché rượu. Trong thời gian tôi uống rượu, chủ làng quỳ cạnh tôi cầu nguyện Yàng phù hộ cho tôi. Người uống càng lâu thì những lời cầu nguyện càng dài. Sau đó, rượu được hút ra tách và chuyền cho nhau uống xoay vòng.
Nơi đây không có giàn cồng chiêng như ở phía Bắc. Tuy nhiên, trong những ngày trọng đại, hai người Thượng đeo mỗi người một cái chiêng trên vai trái, bàn tay trái giữ lấy chiêng và dùng bàn tay mặt đánh vào chiêng, nghiêng người về phía trước và lần lượt quay đầu sang hai bên. Một người Thượng ngồi trước một cái trống nhỏ hoà âm theo.
Ở Lao Gu-an, ông Tong Vit Ca đi theo tôi. Đây là một người Kinh có nhiệm vụ thu thuế người Thượng trong các tổng thuộc Phan Rí. Ông ta khuyên tôi đi vòng sang hướng Bắc thay vì đi thẳng theo con đường Tánh Linh và ông đi cùng tôi đến Ta-la.
Ngày 14 tháng 4, chúng tôi lên đường theo hướng Bắc, đi xuyên qua những khu rừng thông rất đẹp trong vài giờ. Gần làng Ya, chúng tôi phải vượt sông Đạ Đờng (Da Dong), một dòng sông rất rộng và là một trong hai nhánh sông thượng nguồn sông Đồng Nai. Chúng tôi dừng lại ở Ri-ông nằm sát bên sông Đạ Đờng. Giữa Lao Gu-an và Ri-ông phải mất một ngày đường. Chúng tôi đi qua các làng Ya, Con Ta-ét, Đa Huynh (Du-u-in) trên dòng Cam Ly (Da Kem-lê) và Ê-a.
Người Thượng ở Ri-ông thuần thục hơn người Thượng ở Lao Gu-an và chỉ nói tiếng Mạ. Kiến trúc cũng khác: không còn là nhà sàn, mái rơm thấp sát mặt đất, cửa không đặt ở hai bên hông mà bên cạnh nhà. Người Thượng làm nghề rèn; hầu như cả làng khai thác và rèn sắt, sản xuất được dao, rìu và các đồ dùng gia đình.
Khi uống rượu, người Thượng bắt đầu lấy một ít gạo lên men trong ché rượu rồi chà lên cột nhà khẩn cầu Yàng. Tiếng Thượng gọi nghi lễ này là kép-ca.
Người Thượng mê tín rất kỳ lạ: nếu trong cơn giông bão, người ta đặt cạnh quả xoài một miếng thịt bò hay heo, những thực phẩm này chắc chắn sẽ kéo sấm sét đến! Một ngày kia, tôi muốn thử nghiệm xem sao. Người Thượng sợ hãi chạy trốn. Tôi phải trấn an họ và hứa không làm như vậy nữa!
Cao nguyên chung quanh Ri-ông trơ trọi có vô số đàn nai. Tôi săn được rất nhiều thú rừng và chia thịt cho dân làng.
Từ Ri-ông, nếu chúng tôi tiếp tục đi về hướng Bắc, địa hình rất dốc, cao dần đến tận Lang Bi-an. Hai ông Néis (Nê-ítx) và Umann (Uy-man) đã biết đến ngọn núi này cao hơn 2.000m. Sông Đồng Nai bắt nguồn từ đây. Tôi dời chuyến thám sát Lang Bi-an sang thời gian sau, và hiện nay, Tong Vit Ca hướng dẫn tôi đi về hướng Tây Nam. Trên đường đi, tôi dừng lại vài ngày ở ba làng lớn: Kla Ka, Con Tan, La-ra nằm giữa cao nguyên trơ trụi đầy cỏ cao. Ở Kla Ka, dân làng đốt cháy đồng cỏ, tổ chức săn bắn để chào mừng tôi. Đây là một trong những cảnh tượng đẹp nhất tôi được xem.
Người Thượng đốt lửa tạo thành một vòng tròn lớn dài hàng kilômét. Lửa cháy dần vào bên trong, dồn thú rừng lại. Thỉnh thoảng, một chú nai, một con bò rừng, một con cọp nhảy qua bức tường lửa tìm cách trốn chạy, nhưng không thoát khỏi những viên đạn của tôi. Những con chó càng làm cho cuộc săn bắn thêm hăng say kỳ lạ.
Ở Con Tan, cả đoàn đều bị sốt rét mặc dầu đã uống thuốc phòng bệnh. Những người Việt đều mắc bệnh nặng nhưng tôi chỉ bị sốt nhẹ. Tôi chỉ bị sốt rét một lần trong suốt chuyến đi này.
Từ Con Tan đến La-ra, chúng tôi phải vượt sông Đồng Nai chảy trong một thung lũng hẹp và rất sâu. Cao nguyên ở độ cao 950m, sông Đồng Nai chảy ở độ cao 650m.
Ở La-ra, trong đêm tối, một con cọp lẻn vào trong trại cố mang đi một người. Nhờ báo động kịp thời, người Thượng thoát nạn nhưng sợ quá nên bị câm trong vài tiếng đồng hồ.
Tong Vit Ca nói với tôi có thể xem mộ của một vua Chăm gần làng. Tôi yêu cầu ông ta dẫn tôi đến nơi. Chúng tôi đi cùng với 20 người Thượng. Mộ nằm ở một nơi nào đó trên một ngọn đồi nhỏ đầy cây cối cách làng 1 giờ đi bộ. Chúng tôi khảo sát ngọn đồi đủ mọi phía. Công việc thật không đơn giản vì dây leo chằng chịt và vắt lúc nhúc trong khu rừng ẩm ướt. Sau 2 giờ tìm kiếm, người Thượng nói với tôi có lẽ ngôi mộ đã chìm vào lòng đất và tôi phải làm phù phép để ra lệnh cho ngôi mộ xuất hiện. Vì tôi không tin chắc lắm vào tài nghệ phù thuỷ của mình, tôi ra lệnh trở về làng cũ. Rất có thể ngôi mộ nổi tiếng này chỉ là một tảng đá có hình dạng kỳ lạ nhưng trí tưởng tượng của Tong Vit Ca đã biến hoá nó thành mộ của vua Chăm.
Ngày 25 tháng 4, tôi đến Ta-la, cảnh quan cao nguyên đã thay đổi. Rất nhiều ngọn đồi chia cắt cao nguyên thành những thung lũng nhỏ với ruộng nương hay thảm cỏ mịn, rậm rạp và rất tươi mặc dầu vào cuối mùa khô.
Đồi núi đầy thông cao từ 30 đến 50m trên cao nguyên ở độ cao 900m.
Làng mạc rất nhiều, bố trí thật ngoạn mục trên sườn đồi. Chánh tổng ở tại Ta-la. Nơi đây cũng có nhà chung cho khách. Dòng suối lớn Đa Rê-am (Da Ri-am) - một nhánh của sông La Ngà - chảy rất gần Ta-la, quanh đồi núi, cung cấp nước và giúp cho ruộng nương thêm màu mỡ.
Người Thượng ở vùng này rất giàu. Họ sở hữu những đàn trâu rất đông có hàng trăm con. Vào những dịp lễ lớn, người Thượng giết một số trâu. Đối với mỗi con trâu bị hạ, họ dựng cạnh lều một cây nêu bằng tre, cao 20m có những vật trang trí bằng mây kết thành băng dài. Trong vài làng, tôi đếm được 30 cây nêu. Từ xa, người ta tưởng như nhìn thấy một đoàn tàu bỏ neo trong hải cảng.
Tôi dừng lại vài ngày ở Ta-la. Nhân dịp này, tôi cưỡi ngựa chạy khắp vùng.
Trong một chuyến dạo chơi, người Thượng chỉ cho tôi một mỏ thiếc đẹp ở gần làng Ia Lone. Mỏ thiếc ở ngay dưới dòng thác, nước chảy làm cho thiếc lộ ra. Tôi lấy vài mẫu thiếc.
Tôi để Tong Vit Ca ở lại Ta-la rồi tiếp tục lên đường đi Phan Thiết. Yan là một làng quan trọng cuối cùng trên cao nguyên. Chúng tôi phải xuống thung lũng La Ngà và xuôi dòng đến gần Tánh Linh. Thung lũng La Ngà rất sâu. Đường đi chạy ngang qua một vùng rất mấp mô có một tộc người Mạ khác sinh sống. Làng mạc cũng khác, không còn nhìn thấy những căn nhà dài dùng cho cả làng ở chung. Mỗi gia đình có một nhà sàn vuông ngăn vách ở bên trong. Đây đó chúng tôi nhìn thấy các chuồng bồ câu cất trên một cây trụ, trên lớp mái nhỏ là những hình hoa văn bằng sắt. Tôi tưởng như đang đi vào một làng người Gia-va vì người dân ở đây cũng thuộc chủng tộc Mã Lai, họ quấn xà-rông và khăn đóng trong khi người Thượng quấn khố ngang thắt lưng. Màu da của họ trắng hơn người Thượng, nét mặt cũng hoàn toàn khác. Đây là một bộ tộc sống lẻ loi, không hoà đồng với các bộ tộc lân cận.
Thung lũng La Ngà là xứ sở của voi. Tôi bận quan sát thiên văn không thể đi săn được nên giao cho Bếp - một người Việt - đi săn hộ tôi với khẩu súng ca-líp 8, vũ khí đặc biệt dành cho loài thú to lớn này mà ông Vetzel đã ân cần cho tôi mượn.
Con Rum (Droum) là buôn Thượng - Mã Lai đầu tiên chúng tôi gặp từ cao nguyên xuống. Buôn ở trên độ cao 650m.
Một ngày trước khi tôi đến, vào giữa trưa, cọp đã vồ mất hai người đang trên đường đi làm rẫy. Cọp ăn thịt và mang một tử thi vào rừng xé xác. Tôi đến tận nơi cách làng chỉ 10 phút. Xác tử thi còn nằm cạnh đường mòn có vài cành cây phủ lên. Không thể nào đuổi theo cọp trong một khu rừng dày đặc, tôi ít khi thấy nơi nào thảo mộc lại rậm rạp như ở đây.
Từ Con Rum đến Tố La phải vượt sông La Ngà. Người Thượng bắc một chiếc cầu tre dài 90m cho tôi cưỡi ngựa đi qua.
Vài năm trước, trong chuyến đi thám hiểm thượng nguồn sông La Ngà, ông Umann đã viếng Tố La. Có khoảng hơn một chục buôn Tố La cách nhau khá xa.
Ở La-ya tôi gặp lại Bếp. Tối hôm qua, anh ta bắn bị thương vào đầu hai con voi, nhưng những con vật này sau khi ngã xuống lại chồm dậy rồi lẩn trốn vào trong lùm tre. Tôi nghĩ rằng tốt hơn hết nên nhắm bắn vào vai voi, chắc chắn voi sẽ bị thương nặng và chết.
Pè Ton là làng Thượng - Mã Lai cuối cùng trong thung lũng La Ngà. Thung lũng mở rộng ra thành cánh đồng La Ngà. Tôi lại đi ngang qua khúc sông này gần Bác Nui (Barth-Nui), và sau 3 giờ đi bộ, tôi trở về Tánh Linh với những người dân hiếu khách.



