Bỏ qua nội dung
📖 Trang viết

Nét khái quát về thơ Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật

  • adminA

    Thơ thất ngôn bát cú là loại thơ mỗi bài có 8 câu và mỗi câu 7 chữ, tức là chỉ có 56 chữ trong một bài thơ thất ngôn bát cú.
    Thơ thất ngôn bát cú có thể được làm theo hai luật: luật bằng và luật trắc. Về vần thì có hai loại: vần bằng và vần trắc.
    Tuy nhiên, các thi nhân thường hay làm theo vần bằng, tức là luật bằng vần bằng và luật trắc vần bằng.

    1. LUẬT BẰNG VẦN BẰNG:

    • Luật bằng vần bằng là bài thơ mà tiếng thứ hai của câu đầu là tiếng bằng và các tiếng ở cuối các câu 1-2-4-6-8 phải vần với nhau và đều là vần bằng.

    2. LUẬT TRẮC VẦN BẰNG:

    • Luật trắc vần bằng là bài thơ mà tiếng thứ hai của câu đầu là tiếng trắc và các tiếng ở cuối các câu 1-2-4-6-8 phải vần với nhau và phải là vần bằng.

    BỐ CỤC BÀI THƠ BÁT CÚ:

    • Câu số 1 dùng để mở bài (gọi là phá đề), câu số 2 dùng để chuyển tiếp vào bài (gọi là thừa đề). Hai câu này có tên là hai câu đề.
    • Hai câu 3 và 4 dùng để giải thích đề tài cho rõ ràng. Hai câu này có tên là hai câu trạng (có nơi gọi thuật hay thực).
    • Hai câu 5 và 6 dùng để bàn rộng nghĩa đề tài và được gọi là hai câu luận.
    • Hai câu 7 và 8 dùng để tóm ý nghĩa cả bài và được gọi là hai câu kết.

    Sau đây là bảng luật thơ:

    1. LUẬT BẰNG VẦN BẰNG:

    B - B - T - T - T - B - B (vần)
    T - T - B - B - T - T - B (vần)
    T - T - B - B - B - T - T (đối câu 4)
    B - B - T - T - T - B - B (vần) (đối câu 3)
    B - B - T - T - B - B - T (đối câu 6)
    T - T - B - B - T - T- B (vần) (đối câu 5)
    T - T - B - B - B - T - T
    B - B - T - T - T - B - B (vần)

    2. LUẬT TRẮC VẦN BẰNG:

    T - T - B - B - T - T - B (vần)
    B - B - T - T - T - B - B (vần)
    B - B - T - T - B - B - T (đối câu 4)
    T - T - B - B - T - T - B (vần) (đối câu 3)
    T - T - B - B - B - T - T (đối câu 6)
    B - B - T - T - T - B - B (vần) (đối câu 5)
    B - B - T - T - B - B - T
    T - T - B - B - T - T - B (vần)

    Bài thơ thí dụ làm mẫu để minh họa:

    1. LUẬT BẰNG VẦN BẰNG:

    TRUNG THU

    Trăng thu toả sáng nhớ xa xăm
    Tháng tám chờ trông đến bữa rằm
    Mẹ dán lồng đèn chơi suốt sáng
    Cha làm trống ếch đánh quanh năm
    Xa rồi cảnh cũ lòng se lạnh
    Tiếc mãi ngày xưa lệ ướt dầm
    Chiếc lá chao mình trong gió sớm
    Nghe chừng vọng lại thoáng dư âm

    Thứ Lang

    **
    2. LUẬT TRẮC VẦN BẰNG:**

    TRĂNG THỀ VƯỜN THÚY

    Xót phận hồng nhan một Thúy Kiều
    Trâm thề quạt ước lỗi hương yêu
    Thanh lâu lịm kín đời xuân sắc
    Kỷ viện vùi sâu nét diễm kiều
    Gió Sở không vơi niềm tịch mịch
    Mưa Tần chẳng bớt nỗi cô liêu
    Xa xôi cách trở Kim lang hỡi
    Có thấu lòng em tủi hận nhiều

    Thứ Lang

    -----o0o-----

    Ghi chú thêm:

    LUẬT BẤT LUẬN TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT

    Người làm Thơ Đường Luật phải tuân theo những luật lệ bắt buộc rất gắt gao nghiêm ngặt. Mà đã là luật rồi thì không thể sai phạm, có như thế bài thơ mới chính thống. Nếu không sẽ bị lai căng thành ra một loại thơ tạp giống như thơ "tự do" ngày nay (nhái theo thơ Cổ phong ngày xưa).
    Trong những luật lệ bắt buộc nói trên, có luật bằng trắc là cách sắp xếp âm điệu của bài thơ để nghe cho suông sẻ, êm tai, du dương, trầm bổng. Nếu không tuân theo luật nầy thì bài thơ đọc lên nghe rất chỏi tai, trắc trở, không hay. Tuy nhiên, để cho bớt gò bó trong việc tìm từ, kẹt ý ... thí dụ như gặp phải những từ kép hay những danh từ riêng chỉ nhân danh, địa danh, điển tích ... chúng ta không thể nào sửa đổi dấu giọng (bằng trắc) được. Do đó người xưa đã đặt ra Luật Bất Luận để "cởi trói" bớt cho người làm thơ. Theo bảng luật bất luận nầy thì:

    • Các tiếng ở vị trí thứ 2-4-5-6-7 của mỗi câu bắt buộc phải tuân theo luật bằng trắc (chính luật) mà bảng luật đã ấn định.
    • Các tiếng ở vị trí thứ 1 & 3 của mỗi câu không nhất thiết phải tuân theo luật bằng trắc mà bảng luật đã định. Tuy nhiên nên chú ý rằng mặc dù đã có luật bất luận nhưng tiếng nào theo luật định là trắc mà chúng ta làm bằng thì được, trái lại tiếng nào theo luật định là bằng mà chúng ta làm trắc thì không nên, đôi khi phạm phải lỗi "Khổ Độc" nữa. Vạn bất dắc dĩ, không tìm được tiếng nào hay hơn để thay thế thì chúng ta cũng có thể giữ y mà vẫn có thể chấp nhận được. Khi làm thơ càng cố gắng giữ đúng luật (chính luật) thì bài thơ càng hay về âm điệu. Bài thơ được đánh giá hay hay dở phần lớn là căn cứ vào các luật thơ, vì Thơ Đường Luật là Thơ Luật nghĩa là thơ phải làm theo luật. Bài thơ Đường Luật nếu bị sai luật dù cho nội dung, ý tứ, từ ngữ có hay cách mấy đi nữa thì cũng bỏ đi, không được chấp nhận.

    Sau đây là Bảng Luật Bất Luận:

    BẢNG LUẬT BẤT LUẬN THƠ THẤT NGÔN BÁT CÚ ĐƯỜNG LUẬT

    1. LUẬT TRẮC:

    t - T - b - B - T - T - B
    b - B - t - T - T - B - B
    b - B - t - T - B - B - T
    t - T - b - B - T - T - B
    t - T - b - B - B - T - T
    b - B - t - T - T - B - B
    b - B - t - T - B - B - T
    t - T - b - B - T - T - B

    2. LUẬT BẰNG:

    b - B - t - T - T - B - B
    t - T - b - B - T - T - B
    t - T - b - B - B - T - T
    b - B - t - T - T - B - B
    b - B - t - T - B - B - T
    t - T - b - B - T - T- B
    t - T - b - B - B - T - T
    b - B - t - T - T - B - B

    Ghi chú: chữ b-t là không cần giữ đúng luật, chữ B-T là bắt buộc phải giữ đúng luật.

    Ngoài ra Thơ Đường Luật là loại thơ "Độc Vận", nghĩa là chỉ gieo một âm vần duy nhất xuyên suốt cả bài thơ, không nên chen lẫn vào dù chỉ một âm vần khác, hay dở là ở chỗ nầy. Tóm lại Thơ Đường Luật nên gieo vần theo Chính Vận mà không nên dùng Thông Vận, vì toàn bài thơ chỉ có 5 vần thôi, đâu đến đổi khó tìm. Tuy nhiên trong những trường hợp bất khả kháng, người làm thơ vẫn có thể được phép dùng thông vận, nhưng càng ít càng tốt.

    (st.)

  • adminA

    CÁC THỂ THỨC HỌA THƠ ĐƯỜNG LUẬT

    Có 2 thể thức họa thơ Đường luật là: Họa Hạn Vận và Họa Phóng Vận.
    **

    1. HỌA HẠN VẬN:**
      Họa hạn vận là phải theo sự hạn định trước. Người ta ra đề và cho vần nào thì mình phải dùng vần ấy. Thể Họa Hạn Vận nầy khác với thể Họa Phóng Vận, vì họa hạn vận không có bài xướng để dựa theo mà họa, hơn thế nữa, ta phải:
    • Diễn tả ý thơ theo đầu đề đã ra sẵn.
    • Dùng đúng 5 vần hạn định (trong 8 câu) và phải hạ vần đúng theo thứ tự đã hạn định.
      Thí dụ: Cuộc thi thơ do học giả Phan Kế Bính tổ chức như sau:
      a. Ðầu đề (nội dung) là:

    Trống treo ai dám đánh thùng
    Bậu không ai dám dở mùng chun vô

    b. Năm vần hạn định theo thứ tự là: xô - cô - vô - ô - rô.
    Bài thơ sát với đầu đề, hạ đúng 5 vần hạn định, được giải nhất mà tác giả lại là một thiền sư chân tu !!! ... như sau đây:

    Nào phải là ai dám giục
    Thuận tình trước hết tự nơi
    Có cho mới dám trao dùi đánh
    Không hẹn nào ai đẩy cửa
    Mảng sướng kể gì thân lễ nghĩa
    Ham vui quên hết chuyện dâm ô
    Thói hư thuần thước xưa còn lạc
    Đừng học làm chi gióng nhảy

    2. HỌA PHÓNG VẬN
    Họa Phóng Vận là phỏng theo vần của bài xướng để họa lại mà các vần trong bài họa phải theo y như các vần trong bài xướng, còn ý nghĩa thì hoặc phụ theo cho rộng thêm, hoặc trái hẳn lại (phản đề).
    Họa phóng vận còn chia ra 3 hình thức là: Họa Nguyên Vận, Họa Đảo Vận và Họa Hoán Vận.
    a. Họa Nguyên Vận: là họa đúng 5 vần của bài xướng và hạ vần cũng đúng y theo thứ tự như cách hạ vần của bài xướng. Trong cách họa nguyên vận thường thì có bao hàm họa ý (hoặc đối ý) và đối luật với bài xướng. Nếu không đối luật được thì cũng có thể họa luật.
    b. Họa Đảo Vận: là họa ngược thứ tự của 5 vần từ dưới lên trên, thay vì họa nguyên vận là họa từ trên xuống còn họa đảo vận là họa từ dưới lên.
    c. Họa Hoán Vận: là thay đổi thứ tự vị trí các vần của bài xướng tùy theo ý người họa, sắp xếp lại sao cho vần điệu nghe êm tai hơn cách sắp xếp của bài xướng.

    CHÚ Ý QUAN TRỌNG: Trong thể thức Họa Vận, không được dùng trùng từ thứ 6 trong các câu có vần của bài xướng. Tức là không được dùng lại từ đứng trước của 5 vần bài xướng. Nói dễ hiểu là không được dùng lại chữ thứ 6 ở các câu 1-2-4-6-8 của bài xướng. Càng tránh dùng trùng từ trong toàn bài của bài xướng càng tốt, ngoại trừ những từ đặc biệt không thể tránh được.

    Những bài thơ minh họa cho các thể thức Họa Thơ.

    1. HOẠ HẠN VẬN:
    Thí dụ:

    • Hạn đề:
      "Trống treo ai dám đánh thùng
      Bậu không ai dám dở mùng chun vô"

    • Hạn vận:
      Xô - Cô - Vô - Ô - Rô

    Bài họa:

    Nào phải là ai dám giục xô
    Thuận tình trước hết tự nơi cô
    Có cho mới dám trao dùi đánh
    Không hẹn nào ai đẩy cửa vô
    Mảng sướng kể gì thân lễ nghĩa
    Ham vui quên hết chuyện dâm ô
    Thói hư thuần thước xưa còn lạc
    Đừng học làm chi giống nhảy rô

    2. HỌA PHÓNG VẬN:
    Thí dụ 1:

    a. Họa nguyên vận:

    Bài xướng:

    TÔN PHU NHÂN QUI THỤC

    Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng
    Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông
    Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc
    Về Hán trau tria mảnh má hồng
    Son phấn thà cam dày gió bụi
    Đá vàng chi để thẹn non sông
    Ai về nhắn với Châu Công Cẩn
    Thà mất lòng anh được bụng chồng

    Tôn Thọ Tường

    Bài họa (họa vần họa ý đối luật):
    **
    TÔN PHU NHÂN QUI THỤC**

    Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng
    Mặt ngã trời chiều biệt cõi Đông
    Ngút tỏa đồi Ngô ùn sắc trắng
    Duyên về đất Thục đượm màu hồng
    Hai vai tơ tóc bền trời đất
    Một gánh cương thường nặng núi sông
    Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết
    Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng

    Phan Văn Trị

    Thí dụ 2:

    Bài xướng:
    **
    TRÁI SẦU RIÊNG**

    Xót thương thân phận trái sầu riêng
    Trôi dạt lênh đênh khắp mọi miền
    Trong ruột ngọt ngào hương quyến rũ
    Ngoài da gai góc nét oan khiên
    Bốn mùa nuốt lệ đau quằn quại
    Tám tiết ôm tình hận đảo điên
    Chẳng biết bao giờ mong đổi kiếp
    Ngàn thu ôm ấp mối tình riêng

    Hồng Hoa

    Bài họa (họa vần, họa ý):
    **
    TRÁI SẦU RIÊNG**

    Ai ưa loại quả có mùi riêng
    Da lởm chởm gai bán mọi miền
    Ít thịt nặng cân xem nghịch lý
    Ngọt lòng xấu vỏ rõ oan khiên
    Hương thơm để hận vơi cay đắng
    Vị ngọt cho tình bớt đảo điên
    Vẫn biết đời chìm trong mộng ảo
    Sao còn giữ mãi nỗi niềm riêng

    Hoàng Thư

    Bài xướng:

    TRÁI VÚ SỮA

    Nhõng nhẻo trên cành úp mở khoe
    Đến mùa căng mộng hẹn trăng thề
    Lòng trinh phảng phất hương ngào ngạt
    Da tím mượt mà sắc rủ rê
    Liếc mắt nhìn qua gây chếnh choáng
    Với tay vò nhẹ khoái mân mê
    Vườn xuân tròn quả sương vừa ngậm
    Ong bướm đê mê lạc lối về

    Hồng Hoa

    Bài họa:

    TRÁI VÚ SỮA

    Vú sữa trên tay chẳng dám khoe
    Có duyên được quả vẹn câu thề
    Trên cành lấp loáng hình khêu gợi
    Dưới lá tròn căng dáng rủ rê
    Kẻ thích ngon cơm thường nắn bóp
    Người ưa ngọt sữa thích mân mê
    Hương hoa mời gọi đàn ong bướm
    Ai nhắn bầy chim biết kéo về

    Hoàng Thư

    Bài xướng:

    HỎI CÔ BÁN CHIẾU

    Ả ở đâu mà bán chiếu gon
    Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn
    Xuân thu nay độ bao nhiêu tuổi
    Đã có chồng chưa được mấy con

    Nguyễn Trãi

    Bài họa (họa vần, đối ý - phản đề):
    **
    TRẢ LỜI**

    Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon
    Can chi ông hỏi hết hay còn
    Xuân thu vừa độ trăng tròn lẻ
    Chẳng có chồng sao hỏi đến con

    Nguyễn thị Lộ

    b. Họa đảo vận:

    Thí dụ:

    Bài xướng:

    NỬA VẦNG TRĂNG

    Bóng nguyệt soi nghiêng chếch đỉnh đầu
    Vầng trăng nửa mảnh lạc về đâu
    Năm canh nến đốt năm canh lệ !
    Sáu khắc đèn chong sáu khắc sầu !
    Má phấn giờ phai màu liễu úa
    Môi hồng đã nhạt sắc hoa ngâu
    Cao xanh sao nỡ hờn duyên kiếp
    Giam hảm đời ai chốn biệt lầu ...

    Thùy Linh

    Bài họa:

    TƯƠNG TƯ

    Đêm đêm thao thức vọng khuê lầu
    Ấp ủ khăn hồng thấm giọt ngâu
    Nức nở hồn thơ ngàn nỗi nhớ
    Rưng rưng ngấn lệ cả trời sầu
    Tương tư gởi mộng về phương ấy
    Tâm sự ru hồn tận chốn đâu
    Một tấm chân tình ai có biết
    Thương em tự thuở buổi ban đầu

    Hoàng tử lừa dối

    c. Họa hoán vận:
    Thí dụ:

    Bài xướng:

    NỬA VẦNG TRĂNG

    Bóng nguyệt soi nghiêng chếch đỉnh đầu
    Vầng trăng nửa mảnh lạc về đâu
    Năm canh nến đốt năm canh lệ
    Sáu khắc đèn chong sáu khắc sầu
    Má phấn giờ phai màu liễu úa
    Môi hồng đã nhạt sắc hoa ngâu
    Cao xanh sao nỡ hờn duyên kiếp
    Giam hảm đời ai chốn biệt lầu

    Thùy Linh

    Bài họa:

    GIAI NHÂN

    Lặng lẽ giai nhân đứng tựa lầu
    Mơ người quân tử biết tìm đâu
    Môi hồng má thắm hờn duyên tủi
    Mắt biếc mi thanh trách phận sầu
    Dáng liễu hao gầy thương dáng liễu
    Cành ngâu héo úa xót cành ngâu
    Làm thân con gái trời cho khổ
    Lỡ mối duyên thơ lỡ mộng đầu

    Hoàng tử lừa dối

    Thí dụ tóm tắt cho 3 cách họa nguyên vận, đảo vận và hoán vận:

    Bài xướng:

    NỬA VẦNG TRĂNG

    Bóng nguyệt soi nghiêng chếch đỉnh đầu
    Vầng trăng nửa mảnh lạc về đâu
    Năm canh nến đốt năm canh lệ
    Sáu khắc đèn chong sáu khắc sầu
    Má phấn giờ phai màu liễu úa
    Môi hồng đã nhạt sắc hoa ngâu
    Cao xanh sao nỡ hờn duyên kiếp
    Giam hảm đời ai chốn biệt lầu

    Thùy Linh

    - Bài họa nguyên vận:

    VẦNG TRĂNG

    Biển vắng hoàng hôn sóng bạc đầu
    Hai bờ thương nhớ biết nàng đâu
    Từng đêm khắc khoải từng đêm mộng
    Mỗi bước bâng khuâng mỗi bước sầu
    Tưởng bóng giai nhân dài tóc liễu
    Mơ hình thục nữ ngát hương ngâu
    Vầng trăng bên ấy cho ta gởi
    Một khối tương tư đến vọng lầu

    Hoàng tử lừa dối

    **

    • Bài họa đảo vận:**

    TƯƠNG TƯ

    Đêm đêm thao thức vọng khuê lầu
    Ấp ủ khăn hồng thấm giọt ngâu
    Nức nở hồn thơ ngàn nỗi nhớ
    Rưng rưng ngấn lệ cả trời sầu
    Tương tư gởi mộng về phương ấy
    Tâm sự ru hồn tận chốn đâu
    Một tấm chân tình ai có biết
    Thương em tự thuở buổi ban đầu

    Hoàng tử lừa dối

    - Bài họa hoán vận:

    GIAI NHÂN

    Lặng lẽ giai nhân đứng tựa lầu
    Mơ người quân tử biết tìm đâu
    Môi hồng má thắm hờn duyên tủi
    Mắt biếc mi thanh trách phận sầu
    Dáng liễu hao gầy thương dáng liễu
    Cành ngâu héo úa xót cành ngâu
    Làm thân con gái trời cho khổ
    Lỡ mối duyên thơ lỡ mộng đầu

    Hoàng tử lừa dối

  • adminA

    **Giao mùa cảm tác

    **Thoáng bóng giao mùa khắp cỏ may
    Phôi phai cảnh trí nét hao gầy
    Chàng ve tiễn hạ về nơi đó
    Nàng nguyệt dìu thu đến chỗ này
    Phượng đã lìa cành bao bữa trước
    Cúc đà trổ nụ mấy ngày nay
    Sao ngừng con tạo vần xoay lại
    Ngẫm nghĩ cuộc đời vốn lạ thay

    LL

  • adminA

    Hi LL, sori lỡ hẹn nhé, hôm qua về trễ mệt quá khò luôn :kis:

    Jas đã đọc đi đọc lại những bài thất ngôn của LL, quả thật về niêm luật không chê chỗ nào được, cả ý tứ cũng thuộc hàng cao thủ. Không biết vì đâu mà LL lạc chân đến đây vậy? Thường những hàng cao thủ như LL phải tới "động Đường Luật" mới thấy á :biggrin:

  • adminA

    Jasmin;24350:
    Hi LL, sori lỡ hẹn nhé, hôm qua về trễ mệt quá khò luôn :kis:

    Jas đã đọc đi đọc lại những bài thất ngôn của LL, quả thật về niêm luật không chê chỗ nào được, cả ý tứ cũng thuộc hàng cao thủ. Không biết vì đâu mà LL lạc chân đến đây vậy? Thường những hàng cao thủ như LL phải tới "động Đường Luật" mới thấy á :biggrin:

    LL hong phải là cao thủ gì đâu Jasmin ui, LL cũng còn đang mò mẫm loại thơ này mà. Jasmin ui, thấy bạn đăng lý thuyết thơ đường của anh Hoàng Thứ Lang, bạn là môn đồ của anh sao ? ( Có lẽ lý do này đã dẫn LL đến đây đó… )

Chia sẻ
Đang online
Hết trang — Đà Lạt Hoa
Nhật ký cộng đồng · Powered by NodeBB