CÁC THỂ THỨC HỌA THƠ ĐƯỜNG LUẬT
Có 2 thể thức họa thơ Đường luật là: Họa Hạn Vận và Họa Phóng Vận.
**
- HỌA HẠN VẬN:**
Họa hạn vận là phải theo sự hạn định trước. Người ta ra đề và cho vần nào thì mình phải dùng vần ấy. Thể Họa Hạn Vận nầy khác với thể Họa Phóng Vận, vì họa hạn vận không có bài xướng để dựa theo mà họa, hơn thế nữa, ta phải:
- Diễn tả ý thơ theo đầu đề đã ra sẵn.
- Dùng đúng 5 vần hạn định (trong 8 câu) và phải hạ vần đúng theo thứ tự đã hạn định.
Thí dụ: Cuộc thi thơ do học giả Phan Kế Bính tổ chức như sau:
a. Ðầu đề (nội dung) là:
Trống treo ai dám đánh thùng
Bậu không ai dám dở mùng chun vô
b. Năm vần hạn định theo thứ tự là: xô - cô - vô - ô - rô.
Bài thơ sát với đầu đề, hạ đúng 5 vần hạn định, được giải nhất mà tác giả lại là một thiền sư chân tu !!! ... như sau đây:
Nào phải là ai dám giục xô
Thuận tình trước hết tự nơi cô
Có cho mới dám trao dùi đánh
Không hẹn nào ai đẩy cửa vô
Mảng sướng kể gì thân lễ nghĩa
Ham vui quên hết chuyện dâm ô
Thói hư thuần thước xưa còn lạc
Đừng học làm chi gióng nhảy rô
2. HỌA PHÓNG VẬN
Họa Phóng Vận là phỏng theo vần của bài xướng để họa lại mà các vần trong bài họa phải theo y như các vần trong bài xướng, còn ý nghĩa thì hoặc phụ theo cho rộng thêm, hoặc trái hẳn lại (phản đề).
Họa phóng vận còn chia ra 3 hình thức là: Họa Nguyên Vận, Họa Đảo Vận và Họa Hoán Vận.
a. Họa Nguyên Vận: là họa đúng 5 vần của bài xướng và hạ vần cũng đúng y theo thứ tự như cách hạ vần của bài xướng. Trong cách họa nguyên vận thường thì có bao hàm họa ý (hoặc đối ý) và đối luật với bài xướng. Nếu không đối luật được thì cũng có thể họa luật.
b. Họa Đảo Vận: là họa ngược thứ tự của 5 vần từ dưới lên trên, thay vì họa nguyên vận là họa từ trên xuống còn họa đảo vận là họa từ dưới lên.
c. Họa Hoán Vận: là thay đổi thứ tự vị trí các vần của bài xướng tùy theo ý người họa, sắp xếp lại sao cho vần điệu nghe êm tai hơn cách sắp xếp của bài xướng.
CHÚ Ý QUAN TRỌNG: Trong thể thức Họa Vận, không được dùng trùng từ thứ 6 trong các câu có vần của bài xướng. Tức là không được dùng lại từ đứng trước của 5 vần bài xướng. Nói dễ hiểu là không được dùng lại chữ thứ 6 ở các câu 1-2-4-6-8 của bài xướng. Càng tránh dùng trùng từ trong toàn bài của bài xướng càng tốt, ngoại trừ những từ đặc biệt không thể tránh được.
Những bài thơ minh họa cho các thể thức Họa Thơ.
1. HOẠ HẠN VẬN:
Thí dụ:
-
Hạn đề:
"Trống treo ai dám đánh thùng
Bậu không ai dám dở mùng chun vô" -
Hạn vận:
Xô - Cô - Vô - Ô - Rô
Bài họa:
Nào phải là ai dám giục xô
Thuận tình trước hết tự nơi cô
Có cho mới dám trao dùi đánh
Không hẹn nào ai đẩy cửa vô
Mảng sướng kể gì thân lễ nghĩa
Ham vui quên hết chuyện dâm ô
Thói hư thuần thước xưa còn lạc
Đừng học làm chi giống nhảy rô
2. HỌA PHÓNG VẬN:
Thí dụ 1:
a. Họa nguyên vận:
Bài xướng:
TÔN PHU NHÂN QUI THỤC
Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông
Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc
Về Hán trau tria mảnh má hồng
Son phấn thà cam dày gió bụi
Đá vàng chi để thẹn non sông
Ai về nhắn với Châu Công Cẩn
Thà mất lòng anh được bụng chồng
Tôn Thọ Tường
Bài họa (họa vần họa ý đối luật):
**
TÔN PHU NHÂN QUI THỤC**
Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng
Mặt ngã trời chiều biệt cõi Đông
Ngút tỏa đồi Ngô ùn sắc trắng
Duyên về đất Thục đượm màu hồng
Hai vai tơ tóc bền trời đất
Một gánh cương thường nặng núi sông
Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết
Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng
Phan Văn Trị
Thí dụ 2:
Bài xướng:
**
TRÁI SẦU RIÊNG**
Xót thương thân phận trái sầu riêng
Trôi dạt lênh đênh khắp mọi miền
Trong ruột ngọt ngào hương quyến rũ
Ngoài da gai góc nét oan khiên
Bốn mùa nuốt lệ đau quằn quại
Tám tiết ôm tình hận đảo điên
Chẳng biết bao giờ mong đổi kiếp
Ngàn thu ôm ấp mối tình riêng
Hồng Hoa
Bài họa (họa vần, họa ý):
**
TRÁI SẦU RIÊNG**
Ai ưa loại quả có mùi riêng
Da lởm chởm gai bán mọi miền
Ít thịt nặng cân xem nghịch lý
Ngọt lòng xấu vỏ rõ oan khiên
Hương thơm để hận vơi cay đắng
Vị ngọt cho tình bớt đảo điên
Vẫn biết đời chìm trong mộng ảo
Sao còn giữ mãi nỗi niềm riêng
Hoàng Thư
Bài xướng:
TRÁI VÚ SỮA
Nhõng nhẻo trên cành úp mở khoe
Đến mùa căng mộng hẹn trăng thề
Lòng trinh phảng phất hương ngào ngạt
Da tím mượt mà sắc rủ rê
Liếc mắt nhìn qua gây chếnh choáng
Với tay vò nhẹ khoái mân mê
Vườn xuân tròn quả sương vừa ngậm
Ong bướm đê mê lạc lối về
Hồng Hoa
Bài họa:
TRÁI VÚ SỮA
Vú sữa trên tay chẳng dám khoe
Có duyên được quả vẹn câu thề
Trên cành lấp loáng hình khêu gợi
Dưới lá tròn căng dáng rủ rê
Kẻ thích ngon cơm thường nắn bóp
Người ưa ngọt sữa thích mân mê
Hương hoa mời gọi đàn ong bướm
Ai nhắn bầy chim biết kéo về
Hoàng Thư
Bài xướng:
HỎI CÔ BÁN CHIẾU
Ả ở đâu mà bán chiếu gon
Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn
Xuân thu nay độ bao nhiêu tuổi
Đã có chồng chưa được mấy con
Nguyễn Trãi
Bài họa (họa vần, đối ý - phản đề):
**
TRẢ LỜI**
Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon
Can chi ông hỏi hết hay còn
Xuân thu vừa độ trăng tròn lẻ
Chẳng có chồng sao hỏi đến con
Nguyễn thị Lộ
b. Họa đảo vận:
Thí dụ:
Bài xướng:
NỬA VẦNG TRĂNG
Bóng nguyệt soi nghiêng chếch đỉnh đầu
Vầng trăng nửa mảnh lạc về đâu
Năm canh nến đốt năm canh lệ !
Sáu khắc đèn chong sáu khắc sầu !
Má phấn giờ phai màu liễu úa
Môi hồng đã nhạt sắc hoa ngâu
Cao xanh sao nỡ hờn duyên kiếp
Giam hảm đời ai chốn biệt lầu ...
Thùy Linh
Bài họa:
TƯƠNG TƯ
Đêm đêm thao thức vọng khuê lầu
Ấp ủ khăn hồng thấm giọt ngâu
Nức nở hồn thơ ngàn nỗi nhớ
Rưng rưng ngấn lệ cả trời sầu
Tương tư gởi mộng về phương ấy
Tâm sự ru hồn tận chốn đâu
Một tấm chân tình ai có biết
Thương em tự thuở buổi ban đầu
Hoàng tử lừa dối
c. Họa hoán vận:
Thí dụ:
Bài xướng:
NỬA VẦNG TRĂNG
Bóng nguyệt soi nghiêng chếch đỉnh đầu
Vầng trăng nửa mảnh lạc về đâu
Năm canh nến đốt năm canh lệ
Sáu khắc đèn chong sáu khắc sầu
Má phấn giờ phai màu liễu úa
Môi hồng đã nhạt sắc hoa ngâu
Cao xanh sao nỡ hờn duyên kiếp
Giam hảm đời ai chốn biệt lầu
Thùy Linh
Bài họa:
GIAI NHÂN
Lặng lẽ giai nhân đứng tựa lầu
Mơ người quân tử biết tìm đâu
Môi hồng má thắm hờn duyên tủi
Mắt biếc mi thanh trách phận sầu
Dáng liễu hao gầy thương dáng liễu
Cành ngâu héo úa xót cành ngâu
Làm thân con gái trời cho khổ
Lỡ mối duyên thơ lỡ mộng đầu
Hoàng tử lừa dối
Thí dụ tóm tắt cho 3 cách họa nguyên vận, đảo vận và hoán vận:
Bài xướng:
NỬA VẦNG TRĂNG
Bóng nguyệt soi nghiêng chếch đỉnh đầu
Vầng trăng nửa mảnh lạc về đâu
Năm canh nến đốt năm canh lệ
Sáu khắc đèn chong sáu khắc sầu
Má phấn giờ phai màu liễu úa
Môi hồng đã nhạt sắc hoa ngâu
Cao xanh sao nỡ hờn duyên kiếp
Giam hảm đời ai chốn biệt lầu
Thùy Linh
- Bài họa nguyên vận:
VẦNG TRĂNG
Biển vắng hoàng hôn sóng bạc đầu
Hai bờ thương nhớ biết nàng đâu
Từng đêm khắc khoải từng đêm mộng
Mỗi bước bâng khuâng mỗi bước sầu
Tưởng bóng giai nhân dài tóc liễu
Mơ hình thục nữ ngát hương ngâu
Vầng trăng bên ấy cho ta gởi
Một khối tương tư đến vọng lầu
Hoàng tử lừa dối
**
- Bài họa đảo vận:**
TƯƠNG TƯ
Đêm đêm thao thức vọng khuê lầu
Ấp ủ khăn hồng thấm giọt ngâu
Nức nở hồn thơ ngàn nỗi nhớ
Rưng rưng ngấn lệ cả trời sầu
Tương tư gởi mộng về phương ấy
Tâm sự ru hồn tận chốn đâu
Một tấm chân tình ai có biết
Thương em tự thuở buổi ban đầu
Hoàng tử lừa dối
- Bài họa hoán vận:
GIAI NHÂN
Lặng lẽ giai nhân đứng tựa lầu
Mơ người quân tử biết tìm đâu
Môi hồng má thắm hờn duyên tủi
Mắt biếc mi thanh trách phận sầu
Dáng liễu hao gầy thương dáng liễu
Cành ngâu héo úa xót cành ngâu
Làm thân con gái trời cho khổ
Lỡ mối duyên thơ lỡ mộng đầu
Hoàng tử lừa dối