Bỏ qua nội dung
Đà Lạt Hoa Sân ga ký ức · 2006
  • Nhà ga
  • Các sân ga
  • Vừa đến ga
  • Hành khách
Trình vé
N
Số hành khách HK-2009-1501

Nguyễn Quân

@Nguyễn Quân
Bỏ theo dõi Theo dấu
Thông tin
Bài Viết
600
Chủ Đề
325
Chia sẻ
0
Nhóm
0
Người theo dõi
0
Đang theo dõi
0

Sổ hành trình — lời nhắn

Gần đây Tốt Tranh cãi

  • Bấp bênh đời thợ hồ...!
    N Nguyễn Quân

    Bấp bênh đời thợ hồ...!

    Những cao ốc hoành tráng, những khu đô thị sang trọng, những tòa biệt thự cao cấp đang từng ngày mọc lên trên khắp đất nước. Trong quá trình xây dựng, đã có không ít công nhân ngành xây dựng đã vĩnh viễn ra đi vì tai nạn lao động. Và những người còn lại hằng ngày vẫn miệt mài với công việc của mình, nhưng phía sau những vôi vữa, bụi bám... vẫn đầy rẫy “tai nạn”, cạm bẫy ít ai hiểu được.

    Những cái chết ít người biết

    *Lân la trong những quán cà phê vỉa hè chật cứng người vào giờ nghỉ trưa, bên khói thuốc và những tiếng chửi rủa, tiếc nuối của rất nhiều sòng bài “đánh nhanh” với hàng trăm công nhân xây dựng thuộc các công trình trên đường Nguyễn Hữu Cảnh, quận Bình Thạnh, TPHCM, tôi đã nghe kể rất nhiều chuyện về những tai nạn lao động (TNLĐ) thương tâm. *


    Lao động tại các công trường xây dựng luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro, tai nạn.

    *Trong đó, có nhiều cái chết rất ít khi được công bố, điều tra. Bởi, ngay sau tai nạn, chủ sử dụng lao động đã nhanh chóng “xử lý” hiện trường và “ giải quyết” hậu quả bằng cách riêng của mình. Người lao động do thiếu ý thức về an toàn lao động, cũng như hiểu biết hạn chế về pháp luật, nên khi xảy ra sự cố họ cũng đành “phó mặc” cho chủ doanh nghiệp (DN).

    Sự thật này cũng được đề cập trong báo cáo tình hình TNLĐ của Thanh tra Bộ LĐTB-XH: “Tình trạng DN không báo cáo TNLĐ theo quy định ngày càng nhiều, trong 6 tháng đầu năm 2007, chỉ có 4.052 (trong tổng số hàng trăm ngàn DN trên cả nước-NV) tham gia báo cáo tai nạn. TPHCM chỉ có 130 DN báo cáo, chiếm 0,12% trên tổng số 107.127 DN”.

    Một công nhân có trên 30 năm trong nghề xây dựng đã kể cho tôi nghe về những cái chết của đồng nghiệp mà anh đã từng chứng kiến. Cách đây không lâu, 3 công nhân thuộc đội thi công của anh được phân công tháo dỡ cốp-pha tầng mái và giàn giáo tại tầng 12 của công trình xây dựng tòa nhà cao tầng ở quận Tân Bình.

    Trong khi tháo dỡ các thanh thép, một trong 3 người đã té rơi khỏi khung giàn giáo, rơi xuống tầng 3 căn nhà bên cạnh, chết ngay tại chỗ. Trước đó, tại một công trình xây dựng nhà xưởng ở một huyện ngoại thành, sau khi đổ bê tông xong, công nhân tiến hành vệ sinh máy trộn bê tông mà không ngắt điện khiến cho một đồng nghiệp khác của anh chạm tay vào máy, điện giật chết ngay sau đó...

    Còn nhiều cái chết tương tự xảy ra và đều được “giải quyết” nhanh: đưa ngay về quê kèm theo một khoản tiền vài ba chục triệu đồng. Một thành viên trong Đoàn điều tra TNLĐ TPHCM thừa nhận sự thật này khi cho biết, TNLĐ trong xây dựng luôn chiếm tỷ lệ cao nhất. Khi xảy ra sự cố, nếu không bị phát hiện thì chẳng có DN nào, ông chủ nào lại đi báo cáo với cơ quan chức năng? Trong khi đó, mạng lưới nhân sự cho việc thanh tra, điều tra TNLĐ trên địa bàn TP quá mỏng, không thể kiểm soát hết tình hình.*

    Môi trường nhiều cạm bẫy

    *Công nhân xây dựng trên TPHCM này tuy đến từ nhiều vùng quê khác nhau, nhưng những câu chuyện mà họ kể cho tôi nghe, đều có những điểm chung, những bi kịch trong cuộc đời làm thợ hồ rày đây mai đó gần như giống nhau.

    Chuyện mà Nguyễn Anh Dũng (27 tuổi, quê Thanh Hóa) kể cho tôi nghe cứ ngỡ là chuyện đùa, nhưng không ít người đã từng “nếm trải”, ngậm trái đắng trong tủi hổ. Dũng tâm sự, nghề thợ hồ của những kẻ tha phương cứ lang bạt khắp nơi, từ công trình này đến công trường khác. Khi thì ăn ở ngay trong chính tòa nhà đang xây, khi thì “liên kết” nhau lại một nhóm, có khi lên tới 15-20 người, thuê chung một phòng trọ để có chỗ đặt lưng khi tối đến.

    Tuổi trẻ cứ thế trôi đi. Suốt ngày quần quật, tối mệt nhoài lăn ra ngủ, có tiền thì nhậu, không thì “ngồi đồng” ở các quán cà phê hoặc lập sòng đánh bài... Cách đây hơn 2 tháng, trong đội xây dựng của Dũng đột nhiên xuất hiện một cô gái khá xinh đẹp, đến làm phụ hồ. Dũng cũng như các đồng nghiệp trai trẻ trong đội khác bắt đầu “quan tâm”, chọc ghẹo bâng quơ.

    Thế mà cô gái không những không ngần ngại, ngược lại còn sẵn sàng làm quen và kể cho Dũng nghe tình cảnh bi thảm của mình. Cô bảo, cô tên Nhung, quê ở Bến Tre, mới đây nghe lời người quen lên TP làm công nhân may, nhưng vì tay nghề không có nên không xin được việc. Người quen bảo tạm thời đi làm phụ hồ, khi nào có việc ở xí nghiệp may sẽ đi làm...

    Nhung còn kể rất nhiều chuyện “trắc trở”, khó khăn từ gia đình cho đến bạn bè. Càng nghe, Dũng càng đồng cảm với những gì mà cô gái đang gánh chịu. Hôm sau là ngày thứ bảy, ngày “huy hoàng” nhất trong nghề xây dựng vì được nhận lương. Hết giờ làm việc, Nhung chủ động hỏi Dũng ở khu vực này có quán cà phê nào đẹp và yên tĩnh không, vì cô rất thích những nơi như vậy để thư giãn sau ngày làm việc nặng nhọc.

    Không cần phải suy nghĩ, cùng với số tiền vừa lãnh, Dũng đồng ý ngay... Hai hôm sau, mọi người trong phòng trọ không ngạc nhiên lắm khi Dũng trở về với dáng điệu thất thiểu, trong túi chẳng còn một xu, cô gái tên Nhung kia cũng biến mất...

    Một chủ nhà trọ ở phường 22, quận Bình Thạnh chứng kiến không biết bao nhiêu cuộc cãi vã, thậm chí là đánh nhau giữa những đôi vợ chồng trẻ cùng làm nghề xây dựng liên quan đến việc người chồng bị các cô gái mại dâm vào trong công trường lừa lấy hết tiền. Đã có 2 đôi ở chung với nhau “chia tay” vì lý do trên.

    Vì sao những người thợ trẻ lại dễ bị lừa? Vì sao gái mại dâm lại có thể vào được công trường? Anh Lê Tuấn Nghĩa (56 tuổi, quê Thái Bình) chua chát thừa nhận: “Tất cả đều có thể! Cuộc sống của công nhân xây dựng thiếu thốn, bấp bênh đủ thứ. Nhất là cuộc sống tinh thần, cả ngày vật lộn với vôi vữa, đêm đến không nhậu, không cà phê thì chỉ có... đánh bài. Nên khi gái mại dâm “cải trang” vào tới tận công trường thì bị lừa đâu có khó?”.

    Đây là thực trạng cần được báo động! Cô gái tên Nhung nói trên vào công trường bằng cách nào? Liệu chỉ một mình cô hay còn nhiều cô khác? Cô ta “hành xử” một mình hay có cả “đường dây”? Sự thật cũng đau lòng là nhiều người bị lừa như Dũng, nhưng chẳng ai lên tiếng, và họ chỉ xem đó như là một “tai nạn”, để rồi khi có tiền, lại tiếp tục... “vui chơi” cuối tuần!*

    Nghịch lý nghề nghiệp

    *Tiếp xúc với nhiều người, tôi nhận ra không ít người đã có hàng chục năm trong nghề, trải qua không biết bao nhiêu công trình xây dựng, nhưng cuộc sống của họ chẳng có nhiều đổi thay.

    Cuộc đời cứ trôi theo những tháng ngày với công trường, với rượu chè, bài bạc... Có không ít người đã 10 năm rồi không về quê ăn tết bởi chẳng thể dành dụm đủ tiền, hoặc nhiều lý do khác... *


    ![](Bước ra khỏi công trường, công nhân xây dựng phải đối mặt với không ít khó khăn, cạm bẫy. Ảnh: K.B)

    *Cùng với họ, không ít người đã “ra đi” vì những “tai nạn” không tránh khỏi. Uống rượu nhiều cuối tuần, đầu tuần vào làm việc trên các công trình cao tầng, không làm chủ được bản thân nên rơi, té. Qua đêm với nhiều gái mại dâm rồi nhiễm bệnh AIDS. Ăn ở chung đụng nhiều người, phát sinh mâu thuẫn, gây gổ, đâm chém nhau khi có rượu vào...

    Thực tế buồn này không ngăn được lớp thanh niên nông thôn “thoát ly” lên TP tìm kiếm công việc, trong đó một bộ phận không nhỏ gia nhập vào đội ngũ công nhân xây dựng. Ngồi tâm sự với anh Sáu Chiến (48 tuổi, quê Vĩnh Long) trong căn phòng trọ cùng với 12 công nhân khác đang nằm chèn ngủ bên nhau, tôi không khỏi băn khoăn khi biết rằng, không ít nơi ở đồng bằng sông Cửu Long đang thiếu người làm nông, nhất là vào mùa gặt lúa.

    Anh Sáu Chiến thừa nhận đó là sự thật. Bản thân anh cũng đã bỏ nghề nông lên TP làm phụ hồ, mấy năm nay trở thành thợ xây chính. Rồi anh em, con cháu họ hàng lần lượt kéo nhau lên. Vừa có kinh nghiệm nghề nghiệp, lại có mối quan hệ nhiều, nên anh đã “gom” mọi người lại, thành lập một “đội xây dựng tự do” chuyên “thầu lại” việc thi công tại nhiều công trình, vừa tạo được việc làm cho anh em, lại vừa dễ bảo ban, nhắc nhở, quản lý nhau để không bị lừa hoặc sa vào chuyện ăn chơi quá đáng. Nhờ vậy, anh em thợ hồ trong đội của anh nhiều người có tiền dành dụm gửi về quê, thu nhập cao hơn là ở nhà làm ruộng.

    Anh Sáu cho biết thêm, lên TP làm vài ba năm, anh em con cháu học được nghề, có kinh nghiệm rồi sẽ về quê tiếp tục làm xây dựng, bởi bây giờ ở đâu cũng có công trình, chứ làm nông giờ rất khó sống. Nghịch lý ở chỗ, rất nhiều người giống anh về quê nhận công trình nhưng kiếm không ra thợ, dù tiền lương trả chẳng thua kém gì. “Tụi trẻ cứ thích lên TP làm việc, trừ những đứa làm vài năm không được mới chịu quay về, nhưng chúng cũng chẳng ở lại lâu. Có dịp là tụi nó lại trở lên TP…”.*

    Đất nước sẽ tiếp tục dựng xây những công trình, TP vẫn tiếp tục mọc lên những cao ốc, điều đó đồng nghĩa với việc sẽ có nhiều người tham gia vào đội ngũ lao động tại các công trình. Nhưng với những bấp bênh, tai nạn và cả những cạm bẫy phía trước, liệu cuộc đời những người thợ hồ có tốt đẹp hơn?

    **( NGỌC LỮ ) **

    Coffee Chiều Thứ 7

  • Kính hiếu Cha Mẹ.
    N Nguyễn Quân

    Kính hiếu Cha Mẹ.
    **

    Như đã biết, nếu không có cha mẹ sanh thành dưỡng dục, thì không có chúng ta ở trên quả đất nầy. Quả thật vậy :
    Công Cha như núi Thái Sơn,
    Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra,
    Một lòng thờ Mẹ kính Cha,
    Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con…

    Ngoài ra, trong kinh Tâm Địa Quán, đức Phật cũng đã dạy về công ơn cha mẹ như sau :

    Ân cha lành cao như núi Thái,
    Đức mẹ hiền sâu tợ biển khơi,
    Dù cho dâng trọn một đời,
    Cũng không trả hết ân người sanh ta.

    Xuyên qua những lời dạy ở trên, tuy đơn sơ ngắn gọn, nhưng nó vô cùng trân quý, bởi bổn phận làm con phải biết hiếu kính với cha mẹ đã được thấm nhuần từ xa xưa của tổ tiên ông bà để lại cho ngày hôm nay. Hơn nữa, nếu xét về Dương Âm tức Trời Đất, thì người Cha tức Dương và người Mẹ tức Âm, chẳng khác nào ban ngày và ban đêm hay nói khác đi, nếu không có Thiên Địa tức Trời Đất, thì không thể tạo nên chúng sanh tức con người được, cho nên nếu không có “Cha sanh, Mẹ dưỡng” thì không thể có chúng ta. Bởi vì :

    **
    Có Cha, có Mẹ thì hơn,
    Không Cha, không Mẹ như đờn đứt dây. ()**

    (
    ) Ở đây ngụ ý nói là khi chúng ta sanh ra rồi, mà mất cha lẫn mẹ thì khốn khổ vô cùng. Người cha tuy không mang nặng đẻ đau như người mẹ, kể từ cấn thai cho đến nở nhụy khai hoa (sanh nở), mẹ phải mang nặng cái bào thai suốt trên chín tháng nặng nhọc, rồi bị hành thai, ăn uống vô cùng khó khăn, làm cho sức khoẻ của mẹ càng ngày tiều tụy, để rồi đúng ngày sanh nở phải đẻ đau. Nếu việc sanh đẻ suông sẻ, bình thường là tốt đẹp, thì xem như “Mẹ tròn Con vuông” (thành ngữ). Nếu như sanh đẻ khó khăn, đôi khi cũng nguy hiểm đến tánh mạng của mẹ, thì không khác gì người mẹ đi biển một mình, bởi đúng với câu :
    Đàn ông đi biển có đôi
    Đàn bà đi biển mồ côi một mình (tục ngữ).

    Sau khi sanh nở xong, mẹ cũng phải cận kề để lo cho con liên tục trong ba năm nhũ bộ, rồi cùng cha lo từ tấm tả, từ manh quần tấm áo, từ giấc ngủ cho đến khi đau ốm. Trái lại, nếu không có cha tạo thành cũng như lao tâm, lao lực, nhọc trí lo lắng cho con từ tinh thần đến vật chất để có sự sống và còn tiếp tay với mẹ dạy dỗ con từ tấm bé cho đến khi khôn lớn, thì không có con ngày hôm nay. Công ơn của cha mẹ đối với các con thật to lớn như trời cao, biển rộng, nào là mớm cơm cho ăn từng bửa, nào là săn sóc cho con từng giấc ngủ canh khuya, nhất là sự lo lắng lúc mọc răng, ấm đầu phải chạy lo từng liều thuốc hay giọt sữa…Để rồi, khi con khôn lớn, việc lo toan đó lại càng chồng chất nhiều hơn nữa và mong sao con sau này sẽ nên danh nên phận, hữu dụng với họ hàng, làng nước.
    Ngoài ra, trong thời kỳ mẹ mang thai dạ chửa, cha lúc nào cũng cận kề mẹ, để săn sóc, giúp đỡ mẹ từ miếng ăn, bởi vì mẹ hết thèm món này đến món nọ, nhất là những trái cây có vị chua hoặc vị ngọt hay một nồi chè thật ngon ngọt cũng nên, thay vì ăn cơm bình thường như mọi ngày. Khi con lọt lòng mẹ, cha cũng phải đỡ đần mẹ để pha từng bình sữa, giặt giũ khi mẹ còn non yếu sau khi sanh nở. Khi con được đầy tháng, cha cũng đứng ra lo liệu lễ vật nhang đèn để cúng đầy tháng cho con, cha khấn vái cầu xin mụ bà và các vị thần linh phù hộ cho con mau ăn chóng lớn, có lẽ đó là lần đầu tiên trọng đại trong đời khi cha mẹ có đứa con đầu lòng. Khi con được hai ba tháng, nằm ngữa hươ tay hươ chân, mở mắt nhìn ngơ ngác, xoay đầu sang phải, sang trái, rồi nở nụ cười vô tư hồn nhiên, nhưng làm cho cả nhà vui mừng, quả thật nụ cười của con làm cho những nụ cười rạng rỡ của các khuôn mặt người thân thương trong gia đình và xóa mờ những nếp nhăn trên trán của ông bà, bởi vì con đã biết nở nụ cười đầu đời, để rồi thời gian cứ trôi qua, con lần lượt biết lật, biết bò, biết ngồi, biết vịn tay cha mẹ đứng lên được, rồi bước những bước rụt rè. Tiếng reo vui, tiếng khuyến khích người thân trong gia đình vang lên rộn ràng đầm ấm, trong đó có lẫn tiếng của cha mẹ. Hơn nữa, cha cũng thường được phân công đút cho con những miếng ăn đầu tiên… Ôi! làm sao kể cho hết những công lao của cha dành cho con. Mỗi gia đình, mỗi cặp vợ chồng trẻ mới vừa được làm cha mẹ, sanh được đứa con đầu lòng, thì lúc nào cha mẹ cũng dành hết tình thương cho con, nhứt là cha sẵn sàng làm trò hề để cho con vui hoặc làm thân trâu ngựa để cho con cỡi, miễn sao con vui là được… Đó chính là tình thương của cha dành cho con thật vô bờ bến vậy. Khi con đến tuổi đi học vỡ lòng, cha mẹ lo lắng đưa đón cho con đến trường, thật đúng với câu : “Cha đưa, Mẹ đón” (thành ngữ). và hằng đêm cha lại dạy dỗ từng chữ để con học để nên người sau này. Do vậy, công cha đối với con cũng vô cùng to lớn như mẹ vậy, nào là lo ăn mặc, cho con ăn học, dạy dỗ cho con… bởi vì, chỉ có cha con mới sợ đòn, mà chịu nghe lời dạy bảo hơn mẹ, bởi tục ngữ :
    Mẹ đánh một trăm ()
    Không bằng cha hăm một tiếng
    (
    ) một trăm là để chỉ 100 roi.

    Công Cha như thế đó, còn công Mẹ như thế nào?
    Như chúng ta đều biết, sau khi con đã chào đời, mẹ lúc nào cũng ở cận kề con hơn cha, để cho con bú với bầu sữa mẹ mỗi khi con khát sữa, (Con không khóc, mẹ không cho con bú), trong suốt ba năm nhũ bộ, mỗi lần con mọc răng, ngứa nướu con thường cắn vú mẹ, nhưng người mẹ vẫn cam chịu đau và lại mừng thầm nữa, bởi vì, biết con đã mọc răng sữa, cho nên người mẹ mới mắng yêu rằng : “Con đã mọc răng, nói năng gì nữa” (tục ngữ). Khi con được vài tháng, mẹ bắt đầu nấu cháo hay nhai cơm cho nhuyễn với cá hay thịt, với nước miếng của mẹ làm cho dễ tiêu, rồi mớm cơm vào miệng cho con ăn. Đó là phương pháp ngày xưa, phương pháp này rất tiện và có cả tình thương của mẹ dành cho đứa con nữa, mặc dù thấy không hạp vệ sanh như ngày nay… Do những công lao của mẹ như trên, đã được trong dân gian truyền khẩu qua ca dao, tục ngữ như sau :
    Con mẹ có thương mẹ thay,
    Chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau.
    Cha mẹ sanh thành tạo hóa,
    Nhai cơm, lựa cá, nhai cá lựa xương.
    Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng biển (ca dao)

    Hay là :

    Đố ai đếm được lá rừng,
    Đố ai đếm được mấy từng trời cao,
    Đố ai đếm được những vì sao,
    Đố ai đếm được, công lao mẫu từ.

    hoặc là :
    Nhớ ơn chín chữ () cù lao,
    Ba năm nhủ bộ biết bao nhiêu tình ().
    (
    ) Trong Kinh Thi của Khổng Tử đã nói đến 9 điểm, gọi là 9 chữ cù lao dành cho người mẹ. Đó lả : Sinh (sinh nở), Cúc (nâng đỡ), Phủ (vỗ về), Dục (dạy dỗ), Súc (cho bú), Trưởng (nuôi lớn), Cố (trong nôm), Phục (nuông chiều), Phúc (che chở) .
    (
    **) Tình ở đây là tình mẹ dành cho con thật bao la, bát ngát vô tận, mỗi lần mẹ cất tiếng ru con ngủ, thì mẹ cũng nói lên nỗi niềm ấy như sau :
    Ví dầu cầu ván đóng đinh,
    Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi,
    Khó đi mẹ dắt con đi,
    Con đi trường học, mẹ đi trường đời.

    hay là :
    Cha mẹ ngoảnh đi, thì con dại,
    Cha mẹ ngoảnh lại, thì con khôn. (tục ngữ)

    Và mẹ cũng hy sanh, dành nơi khô ráo cho con nằm ngủ, mỗi khi con đái dầm hoặc những đêm vào mùa thu con không ngủ được, vì trái nắng trở trời, mẹ phải thức thâu đêm để đưa võng ru cho con ngủ, bởi có câu :
    Gió mùa thu mẹ mẹ ru con ngủ,
    Năm canh chày thức đủ năm canh.

    cho đến khi con lên ba tuổi, thì cha mẹ mới đỡ khổ. Quả đúng vậy, bởi vì :

    Ai rằng công mẹ như non,
    Thực ra công mẹ lại còn lớn hơn.

    Khi con khôn lớn, cha mẹ còn lo dựng vợ gả chồng (khi nhắc đến Đám Cưới, thông thường trong dân gian biểu tượng Rồng (Long) và Phượng (Phụng) để chỉ Chồng và Vợ hoặc là trong các nhà hàng ngày nay thường đặt tên Long Phụng. Bởi do tứ linh Long, Lân, Quy, Phụng mà ra. Nếu phân tích tứ linh së thấy : Long (dương), Lân (âm), Quy (dương), Phụng (âm), cho nên dùng tên Long Phụng cho ngắn gọn, để chỉ sự hạnh phúc bởi có trời (dương) và đất (âm) tức có chồng có vợ và trong dân gian thường chúc Đám Cưới : ).
    Nhiều khi còn phải cực khổ với đàn cháu nhỏ cho đến ngày theo ông bà, cho nên bổn phận làm con phải biết kính hiếu cha mẹ, đúng như câu ca dao dưới đây :
    Công cha ba năm tình thâm lai láng,
    Nghĩa mẹ đậm đà chín tháng cưu mang,
    Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,
    Biết lấy chi đền đáp khó khăn,
    Hai đứa mình lên non lấy đá xây lăng phụng thờ.

    Công ơn cha mẹ sâu dày như thế đó, nói làm sao hết được, chỉ khi nào :

    Lên non mới biết non cao,
    Nuôi con mới biết công lao mẫu từ (ca dao).

    Nhưng xét cho kỹ, công lao của cha mẹ đều ngang nhau, cho nên nhân mùa Vu Lan, thiết nghĩ bổn phận làm con, không những kính hiếu dành cho người mẹ bằng hoa hồng hay hoa trắng, mà phải lẫn người cha nữa. Bởi vì :
    **Con có mẹ như măng ấp bẹ (thành ngữ)

    **hay là :
    **Con có cha như nhà có nóc (tục ngữ) **
    hoặc là :
    **Còn cha gót đỏ như son,
    Đến khi cha chết, gót con đen sì. **
    hay là :
    Còn cha nhiều kẻ yêu vì,
    Một mai cha chết, ai thì yêu con (ca dao).
    Hơn nữa,
    Con có cha em đẻ,
    Không ai ở lỗ nẻ mà lên (tục ngữ) ...v.v

    Ngày nay, có nhiều chùa tổ chức lễ Vu Lan không những chỉ dành cho mẹ mà lẫn cha như : cài bông hồng cho những người nào còn mẹ hay cài bông trắng cho những người đã mất mẹ, còn đối với cha thì cài nơ màu xanh cho những người nào còn cha hay cài nơ trắng cho những người đã mất cha. Đây là một hành động vô cùng công bằng, bởi vì hằng năm đến mùa Vua Lan, cha lẫn mẹ đều được các con kính hiếu. Việc kính trọng và báo hiếu dành cho song thân, thiết nghĩ không chỉ về vật chất là đủ, mà còn tinh thần nữa. Bởi vì, nếu những người con lâm vào tình trạng nghèo khó, không đủ sinh sống hằng ngày, thì lấy đâu mua quà cáp để kính dâng cho cha mẹ những món ăn ngon vật lạ, mà chỉ có những bửa cơm đạm bạc và lo lắng sức khỏe cha mẹ khi tuổi về chiều hoặc làm cho cha mẹ vui, bởi những lời hỏi thăm hay những hành động không làm cho cha mẹ buồn lòng, cũng là việc kính hiếu vậy.
    Trái lại, những người con giàu có thì việc phụng dưỡng cha mẹ già về vật chất thì không khó khăn cho mấy, nhưng lại cho rằng : nay con đã lớn khôn, giàu có, khỏe mạnh hơn cha mẹ, xem cha mẹ không ra gì, có những hành động, lời nói vô lễ làm cho cha mẹ buồn phiền, thì việc kính hiếu của những người con đó sẽ không được trọn vẹn, đôi khi đưa đến bất kính hiếu là khác, bởi vì, chúng ta dù có giàu có, có lớn xác thì chúng ta cũng là con của cha mẹ, thì bổn phận làm con vẫn là kính hiếu cha mẹ suốt đời không bao giờ thay đổi, có như vậy việc phụng dưỡng cha mẹ mới được kính hiếu trọn vẹn.
    Hơn nữa, chúng ta đã thấy việc làm của Đức Phật đáng cho chúng ta suy nghï, vì Ngài đã có ngai vàng, điện các, ngọc ngà, chu báu, vợ đẹp, con ngoan…thế mà Ngài đã hoan hỉ xuất gia từ bỏ tất cả, để ngày nay, Ngài đã đuơc cả trên thế giới kính trọng. Bởi vi, chúng ta nên nhớ rằng : , cho nên chúng ta phải biết thương người như thể thương thân, huống chi kính hiếu cha mẹ.
    Việc kính hiếu đối với cha mẹ, không những thờ cha kính mẹ ngang nhau, bởi vì cha mẹ là người sanh thành dưỡng dục, mỗi người đều có công và trách nhiệm để lo lắng, quả đúng với câu :
    **Mẹ dạy thì con khéo,
    Cha dạy thì con khôn (tục ngữ).
    Đối với mẹ, chúng ta phải có bổn phận xem người mẹ như :
    Mẹ già như chuối ba hương,
    Như xôi nếp mật, như đường mía lau. **
    Hoặc là :
    **Mẹ già như chuối chín cây,
    Gió đưa trái rụng con rày mồ côi. **

    (Quả đúng vậy, bởi vì khi Mẹ già có khác gì , khi bị một ngọn gió Mẹ sẽ bị đau bịnh rồi chết, hơn nữa nếu nhà nào có trồng chuối nhiều, sẽ thấy buồng chuối chín cây, vì không đốn kịp, mỗi khi có ngọn gió, các trái chuối lần lượt rơi rớt, có khác gì thân Mẹ già bị ngọn gió độc vậy. Đây là, hai câu tục-ngữ rất xác-thực trong dân gian VN, đã tài tình ví tuổi già yếu đuối của Mẹ không khác Chuối chín cây).
    Mẹ già ở túp lều tranh.
    Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con (cao dao).

    hay là :
    Muốn cho gần mẹ gần cha,
    Khi vào thúng thóc, khi ra quan tiền

    Hoặc, nếu chúng ta ở gần chỉ còn có mẹ, thì phải đem món ngon vật lạ cho mẹ, ví như sau :
    Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi,
    Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già,

    hay là :
    **Đói lòng ăn đọt Chà Là,
    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng. **

    Hoặc, nếu chúng ta ở xa cha mẹ, người con hiếu kính phải gởi về quà cáp cho cha mẹ, ví như sau :
    Ai Về tôi gởi buồng cau,
    Buồng trước kính mẹ, buồng sau kinh thầy.

    hay là :

    Ai về tôi gởi đôi giày,
    Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi.

    Nếu một khi chúng ta bị lỗi với người mẹ, thì chỉ than như sau :
    **Me ơi! Đừng đánh con đau,
    Để con bắt ốc, hái rau mẹ nhờ.
    Mẹ ơi! đừng đánh con hoài,
    Để con bắt cá, hái xoài mẹ ăn (ca dao). **

    Để rồi, khi những người con gái của mẹ đến tuổi lập gia đình, nhưng vì thương cha mẹ già, các em còn thơ dại nên rất muốn ở gần, nên thốt ra những lời như sau :
    **Mẹ ơi! Đừng gả con xa,
    chim kêu vượn hú biết nhà mẹ đâu.
    Chim đa đa đậu nhánh đa đa,
    Chồng gần không lấy, lấy chồng xa.
    Một mai cha yếu mẹ già,
    Chén cơm ai xới, kỷ trà ai dâng (ca dao). **
    Thời xa xưa, cha mẹ thường có trọn quyền định đoạt mọi việc lớn nhỏ cho con cái, kể cả việc dựng vợ gả chồng. Hể cha mẹ chọn đâu thì con cái phải nghe theo, vì có câu : Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó (tục ngữ). Cho nên, có những anh chàng thất vọng vì không được cha mẹ của nàng chấp nhận, đã than thở như sau :
    **Cha mẹ biểu ưng, em đừng nói phải,
    Em nỡ lòng nào bạc đãi bỏ anh (ca dao). **
    Thế nhưng, nàng lại một mực từ chối việc bỏ nhà theo trai, nên mới thốt ra câu :
    Cha sanh mẹ đẻ, không lẽ theo anh,
    Xấu cha, xấu mẹ đôi mình tốt chi…

    **Cha mẹ tôi già như đèn cháy nhấp nhem,
    Bổn phận tôi gái, mấy em còn khờ...(ca dao) . **

    Những lời của người con gái thốt lên ở trên đối với người yêu quả thật đáng khen vì đã làm tròn bổn phận con cái cũng như giữ gì được danh giá cho gia đình đối với cha mẹ, đó cũng là cách báo đền kính hiếu cha mẹ vậy.
    Việc kính hiếu đối với cha mẹ từ xưa đến nay rất nhiều, riêng đối với Đức Khổng Tử chú trọng dạy con người, trước nhứt phải đạt được chữ Nhân nghĩa là con người phải có lòng thành thật, nhân hậu đối với những người thân cận chung quanh mình, ví như cha mẹ, anh chị em, rồi kế đến họ hàng thân tộc, bạn bè, sau cùng là trong thiên hạ. Nếu đối với cha mẹ mà chúng ta không biết kính hiếu, đối với với anh chị em không thuận hòa thì không thể nói đó là người có lòng nhân và thành thật được. Đối với cha mẹ, chúng ta phải thương và kính, bởi vì : thương mà không kính, thì không thể gọi là hiếu đạo được. Sách Luận Ngữ, Vi Chính II, kể lại câu chuyện như sau : Một hôm người học trò Tử Du hỏi Khổng Tử về chữ Hiếu. Khổng Tử đáp : Có người nói Hiếu là nuôi dưỡng cha mẹ, nhưng nếu nuôi mà không Kính, thì có khác gì nuôi súc vật, lấy gì để phân biệt. Như vậy, nuôi dưỡng cha mẹ phải cung kính, dầu ăn cơm hẩm, uống nước lã, nhưng cha mẹ vẫn vui lòng. Lúc cha mẹ còn sanh tiền, con nên sống gần gũi cha mẹ để săn sóc lo ăn uống cũng như thuốc thang mỗi khi cha em đau ốm, cho nên con không được đi xa, bởi câu : “Phụ mẫu tồn, tử bất khả viễn du” (Cha mẹ còn, con không được đi xa). Ngoài ra, trong thành ngữ cũng có câu : “Con đâu, cha mẹ đó”. Trường hợp con bắt buộc phải đi xa, thì nên cho cha mẹ biết thời gian, nơi chốn rõ ràng để cha mẹ an tâm, khỏi trông lo, bởi câu : “Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương” (Luận Ngữ, Lý Nhân IV).
    Việc hiếu đạo tức phải có Lễ Nghĩa. Lễ là theo cái Lý phải. Nghĩa la theo cái Đức phải. Nói rõ hơn, việc kính hiếu cha mẹ không có nghĩa là lúc nào cha mẹ làm điều sai trái, người con cũng phải nghe theo. Nhưng bổn phận con phải biết ngăn cản cha mẹ làm việc sai trái, xấu xa, nếu cha mẹ cứ khư khư tiếp tục làm sai trái không nghe theo, thì bổn phận con phải lựa lời nhã nhặn, từ tốn ôn hòa, rồi từ từ phân tách lẽ phải trái, bẩm thưa nhiều lần, để ngỏ hầu cha mẹ biết kịp mà tránh. Do vậy, nếu cha mẹ biểu làm điều sai trái, xấu xa mà con cứ nhắm mắt làm theo ý cha mẹ, thì con cũng phạm tội bất hiếu như thường : “Phụ hữu trách tử tức thân bất hảm ư bất nghĩa, đương bất nghĩa tắc trách chi. Tùng phụ lệnh an đắc vi hiếu”. Vì thế, con luôn luôn phải biết giữ gìn danh giá, tiết nghĩa cho cha mẹ, bằng cách nghe lời dạy bảo những điều hay lẽ phải của cha mẹ và cản ngăn cha mẹ làm những điều sai trái, xấu xa, như vậy con mới được xem là giữ tròn hiếu đạo.

    Ngoài ra, con có hiếu còn phải tiếp nối chí khí, hành động, việc làm tốt của cha mẹ đã làm, chứ đừng nhắm mắt làm càn, không chịu suy nghĩ tận tường : “Phù hiếu giả thiện kế nhân chi chí, thiện thuật nhân chi sự giả gia” (Trung Dung). Khi cha mẹ mãn phần, Đức Không Tử cũng dặn dò người con nên chú trọng đến việc thờ cúng cha mẹ, tổ tiên. Hơn nữa, con có hiếu là người còn phải kết kính trọng những người mà cha mẹ tôn trọng và yêu thương những người mà cha mẹ mến thương nữa. Do vậy, người con trước sau phải một lòng tôn kính, thương tưởng cha mẹ khi còn sanh tiền hay đã mất : “Kính kỳ sở tồn, ái kỳ sở thân, sự tử như sanh, sự vong như sự tồn (Trung Dung).. Một người con có hiếu, còn phải biết đến tuổi thọ của cha mẹ để hân hoan vui mừng khi thấy hằng năm cha mẹ tăng thêm một tuổi thọ, được sống lâu với con cháu và lo âu khi thấy sức khỏe cha mẹ càng ngày càng già yếu. Đến khi cha mẹ quá vãng, người con kính hiếu cha mẹ cũng nên nhớ ngày giổ kỵ để cúng kiến cho cha mẹ thật cho đáo. Trên đây, là những đơn cử, trích dẫn về quan niệm chữ hiếu đối với cha mẹ do Đức Khổng Phu Tử đề ra.
    Được biết, Đức Khổng Phu Tử sanh vào mùa Đông tháng 10 năm Canh Tuất, năm thứ 21 đời vua Linh Vương nhà Chu tức năm 551 trước Tây Lịch, con của ông Thúc Lương Ngột và bà Nhan Thị, Ông mất vào năm 497, thọ được 72 tuổi, mộ chôn tại Khổng Lâm, cách huyện Khúc Phụ, thuộc tỉnh Sơn Đông 2 dậm . Đức Khổng Phu Tử quả là một nhà nhân bản, một bậc thầy vĩ đại của lịch sử Trung Hoa. Trong các tác phẩm của ông và các môn đệ như : Nhan Hồi, Tăng Tử, Tử Lộ, Mạnh Tử... gồm có : Ngũ Kinh là Kinh Thi, Kinh Thơ, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu và Tứ Thư là Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử... Đức Khổng Phu Tử cũng là nhà tư tưởng Trung Hoa đầu tiên đề cập đến các quan hệ căn bản không những của nền Khổng Học mà cả nền Triết Học Trung Hoa về Tu Thân (Se Perfectionner) – Tề Gia (Diriger la famille) – Trị Quốc (Gouverner un pays) – Bình Thiên Hạ (Pacifier le monde) trong đó có Tam Cang là Quân Thần, Phụ Tử, Phu Phụ và Ngũ Thường là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín đối với nam nhi, còn nữ nhi thì phải làm tròn bổn phận Tam Tòng là “Tại gia tùng phụ, xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử” tức khi người con gái ở nhà cha mẹ phải nghe lời cha, khi lấy chồng thì phải theo chồng, khi chồng chết thì phài theo con. Ngoài ra, còn phải gìn giữ tứ đức là Công, Dung, Ngôn, Hạnh.
    Gương kính hiếu cha mẹ rất nhiều trong sách vở như : Nhị Thập Tứ Hiếu, Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên…Đặc biệt, trong Tứ Thư (Luận ngữ, Mạnh Tử) cũng có nói về vua Thuấn là người con chí hiếu, đáng cho chúng ta suy ngẫm. Vạn Chương, đệ tử của Mạnh Tử, có hỏi Mạnh Tử: Không hiểu tại sao khi ông Thuấn còn cày ruộng tại núi Lịch , thường ngó lên trời mà kêu gào khóc lóc như vậy? Mạnh Tử đáp : Ông Thuấn có lòng thán oán và luyến mộ. Phàm làm con, được cha mẹ có thương thì con vui mừng và chẳng hề quên ơn cha mẹ. Nhưng cha mẹ có ghét thì người con làm lụng cực nhọc cha mẹ và chẳng hề than oán. Vậy, tại sao ông Thuấn thán oán cha mẹ? Ông Công Minh Cao (môn đệ của Tăng Tử) cho rằng : tấm lòng của người con hiếu thảo chưa dứt sầu khổ nếu chẳng được tình thương của cha mẹ, cho nên ông Thuấn mới than! Ta đem hết sức mình ra cày ruộng, đó chẳng qua là làm tròn bổn phận làm con mà thôi, còn cha mẹ chẳng thương ta, ta có lỗi ở chỗ nào? Trong khi ông Thuấn làm lụng vất vả ở giữa đồng ruộng, nơi núi Lịch, thì vua Nghiêu sai con mình 9 trai 2 gái và bá quan phụng sự ông Thuấn, rồi lại cấp cho đủ thứ như bò trừu, kho lẫm.
    Kế đến, các nhà trí thức trong thiên hạ lại kéo nhau theo ông Thuấn rất đông, thế rồi ban đầu vua Nghiêu lập ông Thuấn lên cai trị với vua Nghiêu, để về sau nhường ngôi lại cho ông. Ông Thuấn dầu được cầm quyền nhiếp chánh và làm vua, nhưng vì chẳng được hòa thuận với cha mẹ, ông Thuấn tự coi mình như kẻ khốn khổ chẳng biết nương tựa vào ai. Ông Thuấn được các nhà trí thức trong thiên hạ hoan nghinh và quí phục, đó là ý muốn của mọi người, thế mà ông Thuấn chẳng đủ giải mối ưu sầu của ông. Hơn nữa, ông Thuấn lại còn được người đẹp hầu hạ bên ông, đó là sở dục của mọi người, sự giàu có bậc nhứt là làm thiên tử gồm cả thiên hạ mà chẳng đủ giải mối ưu sầu của ông. Duy chỉ có sự hoà thuận với cha mẹ mớí có thể giải được mối ưu sầu này. Bực đại hiếu trọn đời lúc nào cũng luyến mộ cha mẹ như lúc còn ấu thơ, chỉ thấy gương ở vua đại Thuấn mà thôi.
    Một hôm về thăm nhà, cha mẹ sai sửa lẫm lúa, khi ông ở trên nóc nhà bị rút cây thang, rồi cha là ông Cổ Tẩu liền đốt lẫm lúa, ông Thuấn nhờ cặp nách hai cái sàng tre mà bay xuống được bình an. Một lần khác, cha mẹ lại sai ông đào giếng, khi ông đào tới đáy giếng, thì ông cũng bị ông Cổ Tẩu cùng với ông Tượng là em cùng cha khác mẹ liền lấp đất lại. Nhưng ông Thuấn đã đào sẵn một đường ngách để phòng thủ, cho nên ông theo đường ngách để lên khỏi giếng. Tưởng rằng, ông Thuấn đã chết, ông Tượng bèn hô lên : “Mưu lấp giếng để chôn sống vị đô quân (ông Thuấn được thay quyền vua tại đô thành) hoàn toàn do nơi công của ta. Từ đấy bò và trừu của anh Thuấn, ta sẽ giao cho cha mẹ ta, kho lẫm của anh sẽ thuộc về ta, đồ binh khí như can và qua về phần ta, đờn cầm, cây cung có chạm cũng về ta, hai bà chị dâu sẽ dọn giường cho ta… Rồi ông Tượng bèn đi vào cung vua, thì thấy ông Thuấn đang ngồi trên giường mà khải đờn cầm, khi đó vua Thuấn nói : này bá quan và thứ dân của anh, anh sẽ giao cho em cai trị giúp anh, khi đó ông Tượng mới xấu hổ thẹn đỏ cả mặt.
    Ngoài ra, chỗ chí hiếu của người con như ông Thuấn không chỉ lớn bằng làm cho cha mẹ được tôn trọng, mà còn cha mẹ được hưởng nhiều hoa lợi, bởi vì ông Thuấn được làm vua, đương nhiên ông Cổ Tẩu là cha của thiên tử tức là ông Thuấn đã làm cho cha mẹ được tôn trọng, cao quý vậy và đem hoa lợi trong thiên hạ để phụng dưỡng cha mẹ. Đó chính là ông Thuấn đã dày công báo đáp ơn sanh dưỡng của cha mẹ.
    Trong Kinh Thi, Thiên Đại Nhã có chép : “Làm con lúc nào cũng nên nghĩ đến hiếu đạo đối với cha mẹ”, nhờ vậy làm giềng mối cho hậu thế, tức con cháu noi gương theo. Ngoài ra, trong Kinh Thơ còn ghi : “Vua Thuấn thờ cha là ông Cổ Tẩu rất kính, mỗi khi đến viếng thăm cha thì rụt rè, nễ sợ.
    Vì thế, ông Cổ Tẩu mới lần hồi được cảm hóa để trở nên hòa thuận với ông Thuấn là con ruột của mình”. Đối với vua Thuấn, quan niệm ở trên đời là cha mẹ trước nhứt, bất cứ việc gì cũng phải làm cho cha mẹ vui lòng, để cha mẹ thuận hoà, thương yêu với con. Nếu người con làm cho cha mẹ buồn phiền, thì dẫu người con đó làm vua và được mọi người trong thiên hạ kính nể, ngưỡng mộ và hết lòng sủng ái, vua Thuấn không xem quan trọng bằng cha mẹ. Hành động thờ kính cha mẹ của vua Thuấn, chỉ có vua Thuấn làm được mà thôi. Bởi thế cho nên người đời khen vua Thuấn là bậc đại hiếu trong thiên hạ vậy… (Mạnh Tử).
    Riêng về báo hiếu theo Phật Giáo, Đức Phật thường đề cặp đến chữ hiếu nhiều nhứt trong các kinh như : Vu Lan, Lễ Lục Phụng, Phân Biệt, Tăng Chi, Bảo Tạng…
    Đức Phật dạy cho chúng sanh rất rõ ràng về công ơn sanh thành dưỡng dục sâu dầy, to lớn của cha mẹ, người con phải có bổn phận phụng dưỡng về vật chất lẫn tinh thần, bằng chứng là trong kinh Lễ Lục Phụng, đã chỉ dạy người con phải có bổn phận vơí cha mẹ được tóm lược như sau : Vâng lời và giúp đỡ cha mẹ, chăm học, siêng làm, giữ gìn gia phong và danh dự gia đình, bảo vệ tài sản, khích lệ cha mẹ làm việc thiện, tu theo đạo giải thoát để khỏi khổ về sau, lúc cha mẹ già phải phụng dưỡng, đến khi cha mẹ mất, đám tang nên theo phong tục và hoàn cảnh… Ngoài ra, trong kinh Nhẫn Nhục, Đức Phật dạy rằng : “Tất cả các điều thiện, không có gì cao hơn là có hiếu, tất cả các điều ác tệ nhứt là bất hiếu”.Bởi vì, công ơn cha mẹ quá cao dày, to lớn đến nỗi như thế, nếu có người con vai mặt công cha, vai trái cõng mẹ để đi khắp cả đại địa sơn hà, rồi đấm bớp hầu hạ suốt đời, đôi lúc cha mẹ còn đại tiểu trên vai mà không chút than phiền cũng chưa đủ để đền đáp công ơn cha mẹ (Kinh Tăng Chi). Kinh này viết tiếp, người con đền đáp công ơn cha mẹ chỉ bằng cách cung phụng đủ thứ vật chất hay tiền bạc cũng chưa đủ để báo đền ơn sanh thành dưỡng dục.Ngoài ra, người con cũng nên khuyên cha mẹ tu hạnh bố thí, nếu được cha mẹ đồng ý chấp thuận, thì người con xem như trọn vẹn việc hiếu đạo đối với cha mẹ.
    Trong kinh Vu Lan mô tả quả nghiệp của mẹ ngài Mục Kiền Liên bi đoạ dày vào ngạ quỷ, vì lúc sanh tiền bà quá bỏn xẻn, tham lam. Mặc dù ngài Mục Kiền Liên đã chứng được thần thông, thấy suốt ba cõi, nhưng ngài cũng không thể tự mình cứu mẹ ra khỏi chốn âm cung, mà phải nhờ sức chú nguyện của chư tăng thập phương, nhân ngày lễ Vu Lan tự tứ. Noi gương ngài Mục Kiền Liên, người phật tử dầu bận rộn trăm bề, nhưng đến ngày lễ Vu Lan báo hiếu cũng về chùa để tụng kinh, bái sám để cầu cho những người thân, nhứt là những người đã có cha mẹ quá vãng được sớm siêu thoát tịnh độ.
    Trường hợp, nếu chúng ta có cơ hội kính hiếu mà không thực hiện được hoặc không xem việc kính hiếu là quan trọng hàng đầu hay đôi khi còn đối xử với cha mẹ một cách tệ bạc, vì nghĩ rằng bổn phận của cha mẹ là phải lo cho chúng ta suốt đời. Nếu cha mẹ vì nghèo khó mà khinh khi hoặc đôi khi buông lời trách phiền cha mẹ không cho tiền của để chúng ta có được sống sung sướng suốt đời… Chúng ta đừng quên rằng : “Không có cha mẹ sanh thành thành dưỡng dục thì không có chúng ta trên cõi đời này” để rồi không lo kính hiếu cha mẹ, đôi khi chúng ta giàu có lại hành động bất kính hiếu đối với cha mẹ lúc tuổi già, vì tập tánh : “Con đóng khố, bố cỡi truồng” (thành ngữ) thì tội nghiệp cho cha mẹ vô cùng. Bởi vậy, một khi chúng ta đã trở thành bậc làm cha mẹ, mới hiểu được công ơn cha mẹ, đúng với câu : Dưỡng tử phương tri phụ mẫu ân (Đức Khổng Tử) tức nuôi con mới biết được công ơn của cha mẹ.
    Và một khi chúng ta mất dịp kính hiếu với cha mẹ, thì sẽ phải hối hận như thầy Tử Lộ, bởi vì khi thầy Tử Lộ đã thành công trong sự nghiệp, muốn nuôi dưỡng thì cha mẹ không còn nữa, cho nên khi cha mẹ còn sống, chúng ta phải tận lực phụng dưỡng cha mẹ, thì mới có ý nghĩa đáng quý và khi cha mẹ theo ông bà, phải có bổn phận lo mồ mả, cúng kiến để vong linh cha mẹ được sớm vãng sanh về cảnh giới an lành.
    Đó là bổn phận của người con đối với cha mẹ phải biết kính hiếu thật đúng nghĩa vậy.

    (Hàn Lâm Nguyễn-Phú-Thứ (Trích dẫn trong tác phẩm Tìm Hiểu Việc Đời Đã Qua 1 của Nguyễn-Phú-Thứ).

    Trà sữa cho Tâm hồn

  • Mẹ tôi
    N Nguyễn Quân

    Bóng mẹ bóng con.

    Bóng mẹ bóng con.
    **

    **

    *Tuồng như có cái bóng tôi

    Trong hình bóng mẹ đang ngồi trước sân

    Tuồng như thông điệp thiện chân

    Trái tim mầu nhiệm mẹ phân thân vào

    Cho đêm vằng vặc trăng sao

    Cho ngày biển rộng non cao bây chừ

    Rõ ràng

    Cái bóng con như

    Khuôn nơi hình mẹ

    Đại từ đại bi

    Mẹ cho con, chẳng nói gì

    Mẹ thương con cứ như vì để thương

    Cứ như mạch nước suối nguồn

    Chảy từ vô tận miên trường thế thôi

    Tuồng như giấc ngủ ơn đời

    Êm êm muôn thuở tao nôi mẹ hiền

    Đất trời vô lượng bình yên

    Thời gian vô tận nối liền bờ vui

    Tuồng như hình mẹ bóng tôi

    Lênh đênh non nước

    Chẳng rời được nhau. *
    **
    (Hạnh Phương)
    **
    **

    Thơ sưu tầm

  • Lao động là niềm vui.
    N Nguyễn Quân

    Lao động là niềm vui.

    Tôi không lấy làm buồn trước sự nghèo nàn của ai đó; tôi chỉ thấy tiếc khi họ không có việc làm.

    *Con người vốn được mô tả như loài động vật có ngôn ngữ; biết cười đùa, biết sử dụng công cụ lao đông. Nhưng chúng ta còn là loài động vật có khả năng lao động tuyệt vời. *

    Một trò chơi nho nhỏ của con nít chính là sự mô phỏng lại những công việc mà chúng thấy người lớn làm. Những người may mắn thường dùng hết công sức và lòng tận tụy vào tron công việc giống như những đứa trẻ hết mình trong trò chơi của chúng.

    *Lao động là niềm vui - mặc dù thỉnh thoảng chúng ta cũng nguyền rủa nó. Lao động chính là một biểu hiện rất thật của tinh thần, nó tập trung sức lực của chúng ta và cho chúng ta được bình an vộ sự. *

    Có thể công việc hiện không phải là nghề nghiệp của chúng ta; có thể chúng ta sẽ thấy hài lòng khi làm nghề thợ mộc, nấu ăn hay viết lách và chúng ta nghĩ rằng những công việc này " sở thích riêng " hoặc " chỉ là chuyện nhỏ " nếu chúng ta có thể tập trung và tự hào về công việc của mình, dù đó là sửa cái chân ghế hay gói những cái bánh, chúng ta sẽ biết coi trọng những ngày làm việc của mình.

    Nghề nghiệp chúng ta làm có tầm quan trọng sâu sắc đối với hầu hết chúng ta. Khi chúng ta tìm được một công việc mà mình yêu thích và làm tốt, chúng ta đã giành được một thắng lợi lớn trong cuộc đời.

    Tôi sẽ cố gắng để có thể nói về công việc hôm nay của mình rằng: " Tôi sẽ làm công việc này thậm chí cả khi tôi không được trả lương".

    ( Helena Morley )

    Trà sữa cho Tâm hồn

  • Chúc mừng sinh nhật Caythonggia,sinhviendalat 23.3
    N Nguyễn Quân

    Chào anh Phương.
    Hôm nay SN anh, em chúc anh luôn có nhiều sức khoẻ.
    luôn gặp nhiều niềm vui,may mắn mỗi ngày và chúc cuộc sống của Anh tràn đầy Hạnh Phúc.

    Quanh đây là bạn bè, quanh đây là anh em

    Ngọn nến ấm áp thấp lên thêm một tuổi mới

    Quanh đây là nụ cười, quanh đây là niềm vui

    Ngọn nến ấm áp thấp lên niềm tin trong đời

    Sinh nhật vui trong câu chúc trao lời

    Sinh nhật vui thêm một tuổi đời mới

    Sinh nhật vui Hạnh Phúc đến bên ta.

    Thành viên diễn đàn chúc mừng sn dlh

  • Chuyện người cha lóc da mình cứu con gái bỏng nặng.
    N Nguyễn Quân

    **
    * Thế giới này thật lớn. Trong cuộc sống nhiều lúc em cũng đã được cảm nhận niềm vui là nhận được từ người khác cho mình, đó là tình thương giữa con người sống có nhân có tâm. Khi hoạn nạn mình, chính mình rất cần có ai đó quan tâm giúp đỡ vượt qua cơn khó khăn. Em vào vào diễn đàn dalathoa không được bao lâu nhưng cũng được một thời gian trong những khi tham gia hoạt động những lần off gặp gỡ có giao lưu, có được tâm sự với các anh, chị và các bạn trong diễn đàn. *
    **
    Mọi người rất thân thiện, tình thương mến khi chính em đã nhận ra và học được nhiều điều cần phải sống chín chắn và trưởng thành hơn với chính mình từ các anh, chị và mọi người trong diễn đàn.
    **
    *Em có đôi lời thật muốn nói và tâm sự : *
    Trước là muốn cám ơn chân thành đến các anh, các chị, và toàn thể các bạn trong diễn đàn dalathoa.
    **
    Em cảm thấy mình đã được cho và nhận. Diễn đàn dalathoa dần dần như ngôi nhà thứ hai của mình có anh, có chị có bạn bè bên cạnh mình.
    Diễn đàn dalathoa ôi ngôi nhà thứ hai, cảm thấy ấm áp quá, tình thương mến thương. Mọi người luôn sẵn sàng cho đi mà không cần đối lại.
    **
    Thông qua các anh,chị và mọi người trong diễn đàn đã tạo cho em nguồn vui lẫn tinh thần mà em nghĩ rằng không cần phải đi đâu xa đòi hỏi cuộc sống cho riêng mình tìm cái vui bạn bè tốt; mà là nơi đây ngôi nhà dalathoa, ngôi nhà thứ hai, Hạnh phúc và tràn đầy yêu thương mình đã nhận.
    **
    Các anh,chị biết không cuộc sống em và nhiều điều em đã thấy được tận mắt những trường hợp khó khăn, những con người thiếu may mắn; khi đó chính em đã thử cảm nhận đặt mình vào hoàn cảnh như họ.
    Ôi chao đớn đau biết chừng nào người thân mình hoạn nạn mà không giúp được gì, trông chờ ai đó cứu giúp mình thoát ra cơn nguy nan, hiểm nghèo, xui xẻo thiếu may mắn trong cuộc sống khó khăn.
    **
    Ai giúp tôi với kêu trời không thấu, chỉ biết cầu nguyện Chúa trời...
    **
    Họ, những người khó khăn. Anh, chị ơi họ cần lắm ai đó giúp mình một sự quan tâm, thương cảm.
    **
    Họ chỉ chỉ trông chờ cầu nguyện điều măy mắn xin ai đó giúp mình.
    **
    Nước mắt chảy xuôi không bào giờ chảy ngược.
    Đau đớn chính mình lúc cảm nhận, thấy mà không giup được cho họ gì cả.
    **
    Mổi ngày trôi qua em không quên lời người MẸ của chính mình căn dặn từ hồi nhỏ học cấp một: Cuộc sống của con sẽ có ích hơn nếu những hành động việc làm của con giúp được cho mọi người, mang niềm vui Hạnh Phúc đến được cho ai đó.
    Con sẽ cảm nhận được cuộc sống không chỉ có hai màu là đen và trắng, mà cuộc sống còn muôn màu sắc mỗi một ngày con lớn lên, trưởng thành màu sắc những điều sẽ hiện trong mắt con.
    **
    Con đã cảm nhận được Mẹ ơi. Con cám ơn Mẹ.
    **
    Em xin cám ơn chân thành các anh,chị và toàn thể các bạn trong diễn đàn dalathoa.
    Cám ơn các anh,chị và mọi người rất nhiều.
    Cám ơn ngôi nhà dalathoa.com
    Em xin cám ơn.

    thân: (kenlly_hu Nguyễn Trung Quân)

    Những mảnh đời thiếu may mắn

  • Chúc mừng sinh nhật Caythonggia,sinhviendalat 23.3
    N Nguyễn Quân

    Chào chị Hiếu.


    SN chúc chị mỗi ngày luôn khỏe , trẻ, đẹp. Và chúc chị thành công trong sự nghiệp của mình.Chúc chị luôn gặp nhiều niềm vui trong cuộc sống, tràn đầy HẠNH PHÚC.

    Sinh Nhật zui zẻ chị Hiếu nhé.

    Thành viên diễn đàn chúc mừng sn dlh

  • Chuyện người cha lóc da mình cứu con gái bỏng nặng.
    N Nguyễn Quân

    Mong các anh,chị và mọi người trong diễn đàn mình cùng nhau góp chút hỗ trợ cho 2 trường hợp trên: pé Út và Cô Lê Thị Phụng. Em nghĩ rằng họ rất cần đến những tấm lòng hảo tâm. Mỗi người chung một tay góp chút ích thêm tiền thuốc men.

    Nỗi lo lắng của gia đình, người thân, tiền chữa chạy thuốc men cũng đã cạn kiệt. Gia đình pé Út cũng đã cầm cố nhà cữa; Còn cô Lê Thị Phụng gia đình cũng bán hết nhà cửa đất đai ,và cô còn 2 đứa con 3 tuổi và 7 tuổi (bị teo cơ) đang ở nhà ông bà, nơi gia đình chị sẽ tá túc nếu có cơ may bình phục.

    Những tấm lòng muốn giúp đỡ có thể gửi về địa chỉ: Lê Thị Hà Tuyên - khoa Bỏng - Bệnh viện Chợ Rẫy, Tp Hồ Chí Minh.

    Những mảnh đời thiếu may mắn

  • Chuyện người cha lóc da mình cứu con gái bỏng nặng.
    N Nguyễn Quân

    http://news.zing.vn/news/xa-hoi/chuyen-nguoi-cha-loc-da-minh-cuu-con-gai-bong-nang/a61810.html

    Sáng nay tình cờ KEN vào trang wed Zing đọc được bài viết này. Thật sự rất xúc động.

    Cầm cố nhà cửa, gom góp và vay mượn tiền bạc được hơn 80 triệu đồng.

    Cô vẫn còn cần đến rất nhiều sự giúp đỡ bởi tiền thuốc hiện nay cũng phải tốn từ 1 triệu đến 1,5 triệu mỗi ngày.

    Với tình trạng bỏng nặng tới 65%

    Nếu những chuyên gia phẫu thuật của bệnh viện Chợ Rẫy không từ chối, thì có lẽ ông Tuấn đã sẵn sàng để họ lấy cả phần da từ bụng, ngực… trên người mình để đắp sang con.

    “Năm sau em sẽ lại thi tiếp, chắc chắn là như thế nếu đã điều trị khỏi. Em định thi khối C vào khoa Quan hệ công chúng và truyền thông của đại học Văn Lang. Em biết trường Báo chí tuyên truyền ngoài Hà Nội cũng có khoa này nhưng em không muốn đi học xa nhà. Hơn nữa, em nghe nói các thầy cô giáo ngoài đó cũng rất hay vào miền Nam giảng dạy nên em yên tâm thi ở đây thôi”, ‘bé Út’ nói, hai mắt cố cười dù những vết đau trên cơ thể vẫn còn hành hạ.

    Cũng ở chung phòng bệnh với ‘bé Út’ là trường hợp của chị Lê Thị Phụng, 31 tuổi. Chị Phụng sống ở vùng miền núi Bình Thuận, quanh năm chỉ đi làm mướn nương rẫy. Tháng trước, rừng cháy, chị không thể chạy kịp đành nhảy xuống sông và giờ bị nhiễm trùng máu toàn thân. Chồng chị đã bán hết nhà cửa đất đai để lấy 40 triệu cho chị chữa chạy. Đến giờ, dù ngồi hay nằm, người phụ nữ quấn băng kín mít này cũng luôn ở trong tình trạng run rẩy và kêu rên vì đau đớn. 2 đứa con chị 3 tuổi và 7 tuổi (bị teo cơ) đang ở nhà ông bà, nơi gia đình chị sẽ tá túc nếu có cơ may bình phục.

    Xin anh,chị và tất cả các mem trong diễn đàn mình chung một tấm lòng hảo tâm nhỏ thôi, mình cùng nhau góp tiền hỗ trợ cho cô pé Út thêm tiền thuốc chữa trị để cô pé Út sớm khỏi bệnh.
    Và cô Lê Thị Phụng. cùng chung phòng cũng bị bỏng nặng.

    Em nghĩ diễn đàn mình có thể giúp được phải không các anh,chị. EM đọc topic này mà thấy thương cảm quá.

    Một lần nữa xin tất cả mọi người những tấm lòng hảo tâm góp phần hỗ trợ dành cho những người thiếu may mắn này nhé.

    Những tấm lòng muốn giúp đỡ có thể gửi về địa chỉ: Lê Thị Hà Tuyên - khoa Bỏng - Bệnh viện Chợ Rẫy, Tp Hồ Chí Minh.

    Những mảnh đời thiếu may mắn

  • Chuyện người cha lóc da mình cứu con gái bỏng nặng.
    N Nguyễn Quân

    Chuyện người cha lóc da mình cứu con gái bỏng nặng.

    (Zing) - Những ngày này ở bệnh viện Chợ Rẫy (TP HCM), nhiều người chứng kiến cảnh người cha băng kín hai bên đùi chăm sóc cô con gái gầy guộc băng bó toàn thân.

    “Khỏi bệnh là em sẽ lại học ôn để thi tiếp vào trường đại học Văn Lang để đạt được ước mơ thành phóng viên”, ‘bé Út’ Lê Thị Hà Tuyên tâm sự ngay trên giường bệnh. Lẽ ra, Tuyên cũng đã cùng hàng triệu thí sinh trong cả nước tham gia vào kỳ thi đại học năm 2009 nếu không có tai họa xảy ra. Ngày 24/6, tại phòng trọ ở thành phố Tuy Hòa, nơi Tuyên học ôn, 2 bình gas loại du lịch đã phát nổ khiến Tuyên và một bạn cùng phòng bị bỏng. Với tình trạng bỏng nặng tới 65%, các bác sỹ đã dự đoán cô gái này khó có thể qua khỏi, đặc biệt là ở thời điểm sau 10 ngày nằm viện, Tuyên được chẩn đoán là bị nhiễm trùng máu khá nặng.

    Cảnh thường xuyên được thấy những ngày này ở khoa Bỏng bệnh viện Chợ Rẫy: Người cha 2 đùi băng kín chăm sóc cho cô con gái.

    Cầm cố nhà cửa, gom góp và vay mượn tiền bạc được hơn 80 triệu đồng, ông Lê Thanh Tuấn, cha của Tuyên, quyết giúp con vượt qua những giờ phút hiểm nghèo để giành lại sự sống. Hiện tiền thuốc mỗi ngày của ‘bé Út’ lên đến hơn 3 triệu đồng, khoản tiền quá lớn đối với gia đình chỉ thu nhập từ những mảnh đất thuê mướn để làm nương rẫy ở huyện miền núi Sông Hinh.
    Thương con, người cha đã năn nỉ các bác sỹ lóc da đùi của mình để cấy ghép vào phần da bị mất do bỏng của con, dù chuyện này rất có thể sẽ đem đến biến chứng nguy hiểm cho người bị huyết áp cao như ông. Nếu những chuyên gia phẫu thuật của bệnh viện Chợ Rẫy không từ chối, thì có lẽ ông Tuấn đã sẵn sàng để họ lấy cả phần da từ bụng, ngực… trên người mình để đắp sang con.
    Sự hy sinh của người cha đã được phần nào đền đáp khi sức khỏe của ‘bé Út’ dần khá hơn. Cô nữ sinh đã tỉnh táo hơn và có thể trò chuyện được đôi lời. Còn ông Tuấn, sau nhiều ngày rất khó khăn trong từng bước đi vì toàn bộ lớp da hai bên đùi đã bị lấy hết, cũng đã dần ổn định và có thể cử động được.

    Ông Lê Thanh Tuấn nhận tiền ủng hộ từ thành viên của diễn đàn

    Đến phòng bệnh tại khoa Bỏng của Bệnh viện Chợ Rẫy vào những ngày này, gần như ở thời điểm nào trong ngày, người ta cũng sẽ nhìn thấy cảnh một cô gái băng bó trắng toàn thân nằm trên giường. Bên cạnh cô là người cha bó quanh đùi bằng những sợi băng y tế bị nhuộm đỏ. Ông luôn ngồi đó, động viên chăm sóc cho cô con gái vẫn mang trong mình mong muốn được thi đại học, khối C.
    “Năm sau em sẽ lại thi tiếp, chắc chắn là như thế nếu đã điều trị khỏi. Em định thi khối C vào khoa Quan hệ công chúng và truyền thông của đại học Văn Lang. Em biết trường Báo chí tuyên truyền ngoài Hà Nội cũng có khoa này nhưng em không muốn đi học xa nhà. Hơn nữa, em nghe nói các thầy cô giáo ngoài đó cũng rất hay vào miền Nam giảng dạy nên em yên tâm thi ở đây thôi”, ‘bé Út’ nói, hai mắt cố cười dù những vết đau trên cơ thể vẫn còn hành hạ.
    “Ngành quan hệ công chúng cũng đào tạo cả những phóng viên nữa, biết đâu sau này em sẽ là đồng nghiệp của anh”, Tuyên nói vui với phóng viên.
    Chẳng nói được nhiều về cha mình, Tuyên rơm rớm: “Em có một người cha tuyệt vời”.

    "Em sẽ thi đại học vào năm sau", Tuyên quyết tâm.

    Theo lời của ông Tuấn, sau khi thay băng ngày 31/7, bác sĩ trưởng khoa bỏng Bệnh viện Chợ Rẫy Trần Đoàn Đạo đã nói da mới ghép cho Tuyên (chỉ mới được 30% da trên cơ thể) đã dính toàn bộ. Tuy nhiên, theo dự kiến, côthiếu nữ còn phải trải qua ít nhất là 2 đợt ghép da nữa mới hết được tình trạng nguy hiểm. Hiện tuy tỉnh táo nhưng Tuyên vẫn còn rất đau đớn và chưa thể ăn uống được nhiều. Cô vẫn còn cần đến rất nhiều sự giúp đỡ bởi tiền thuốc hiện nay cũng phải tốn từ 1 triệu đến 1,5 triệu mỗi ngày. Những tấm lòng muốn giúp đỡ em có thể gửi về địa chỉ: Lê Thị Hà Tuyên - khoa Bỏng - Bệnh viện Chợ Rẫy, Tp Hồ Chí Minh.

    Một trường hợp thương tâm khác: Bỏng nặng vì cháy rừng.

    Cũng ở chung phòng bệnh với ‘bé Út’ là trường hợp của chị Lê Thị Phụng, 31 tuổi. Chị Phụng sống ở vùng miền núi Bình Thuận, quanh năm chỉ đi làm mướn nương rẫy. Tháng trước, rừng cháy, chị không thể chạy kịp đành nhảy xuống sông và giờ bị nhiễm trùng máu toàn thân. Chồng chị đã bán hết nhà cửa đất đai để lấy 40 triệu cho chị chữa chạy. Đến giờ, dù ngồi hay nằm, người phụ nữ quấn băng kín mít này cũng luôn ở trong tình trạng run rẩy và kêu rên vì đau đớn. 2 đứa con chị 3 tuổi và 7 tuổi (bị teo cơ) đang ở nhà ông bà, nơi gia đình chị sẽ tá túc nếu có cơ may bình phục.

    (Nguyễn Hà - Xuân Tùng)

    Những mảnh đời thiếu may mắn

  • Mẹ tôi
    N Nguyễn Quân

    Mẹ ơi

    *Mẹ ơi *
    **

    **
    **
    **

    *Tiếng "Mẹ" con đọc thế nào?
    Mà mênh mông núi, mà cao cao trời
    Con đi dẫu trọn kiếp người
    Cũng đâu kể hết một thời gian lao

    Tiếng Mẹ biết viết làm sao?
    Khi đặt bút thấy dạt dào tình yêu
    Chưa viết được đã thương nhiều
    Khi trên tóc mẹ một chiều trắng phau

    Chữ Mẹ trừu tượng biết bao
    Con cố học, cố khát khao hiếu tình
    Có những ngày sống đơn mình
    Không bóng Mẹ thiếu cả tình bao dung

    Bông hồng trên áo thủy chung
    Con cài tưởng nhớ muôn trùng đắng cay
    Thanh xuân Mẹ đổi ngày mai
    Mong con sáng sủa tương lai... Mẹ mừng

    Đâu hay con Mẹ sầu rưng
    Đêm ngày thờ thẩn góp vần thơ đau
    Nữa đời nhìn lại còn nhau
    Xót xa lòng Mẹ, sóng chao mạng thuyền

    "Mẹ hiền" hai tiếng thiêng liêng
    Con tập viết mãi truân chuyên đời mình
    Nhưng chưa viết nổi chân tình
    Bao la thuở Mẹ tạo hình vóc con*
    **
    (Trường Phi Bảo)
    **
    **

    Thơ sưu tầm

  • Mẹ tôi
    N Nguyễn Quân

    Chuyện đời Mẹ.

    Chuyện đời Mẹ
    **

    **
    ***Con chẳng về đâu dù mưa hay nắng
    Sông Thu Bồn trăng tháng bảy còn in
    Mười năm trời con làm mây viễn xứ
    Mười năm dài biền biệt dấu chân chim

    Ngày mẹ chết con chưa tròn một tháng
    Cha tảo tần sớm nắng với chiều mưa
    Thiếu sữa mẹ đời con thành đại hạn
    Thiếu lời ru con lớn với lọc lừa

    Ngày mẹ chết con nằm trong máng cỏ
    Có hay đâu mây kéo một phương trời
    Cha vấn cho con một vành tang nhỏ
    Con mang đi, đi suốt phận con người

    Từ mẹ chết cha một đời góa bụa
    Sống âm thầm trong mái lá tường xiêu
    Xin cho con bú từng hơi sữa lạ
    Giọt mồ hôi nhỏ xuống chén cơm chiều

    Những đêm mưa con nằm nghe cha kể
    Chuyện đời cha dài như một giòng sông
    Mẹ có đẹp? Cha nhìn xa không nói
    Nhưng con nghe dao cắt ở trong lòng

    Chuyện cha mẹ gặp nhau không cưới hỏi
    Buổi giao thời xiêu lạc cả bà con
    Rượu tân hôn cha thay bằng nước vối
    Dưới hàng tre Nghi Hạ nắng hanh vàng


    Và phương ấy bao mùa mưa sẽ đến
    Nấm mồ hoang hương khói lạnh từ đây
    Cầu xin mẹ bình yên qua chín cõi

    Trên dương gian con nối cuộc lưu đày


    ( Trần Trung Đạo )

    Thơ sưu tầm

  • Phu đá
    N Nguyễn Quân

    Phu đá

    Khai thác đá vôi ở các mỏ đá ngày càng rầm rộ. Để khai thác được đá là cả một quá trình nhọc nhằn mà không thể không nhắc đến những người thợ làm nghề khoan đá, nổ mìn.

    Họ thường xuyên phải leo lên những vách núi đá dựng đứng mà ít khi có các vật dụng bảo hộ. Nhiều vụ tai nạn do lở đá, mìn nổ. Vì đồng tiền để lo cho cuộc sống hàng ngày họ vẫn bám trụ trên những núi đá cao ngất để làm việc.


    Khai thác đá ở Bái Đằng (Thạch Thành, Thanh Hóa)
    Khổ sai trên vách núi

    Thạch Thành, Nông Cống, Đông Sơn là các huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa, nơi tập trung rất nhiều mỏ đá vôi đang trong quá trình khai thác để làm nguyên liệu sản xuất ximăng, làm vật liệu xây dựng, vật trang trí làm cảnh...
    Qua 5km đường đất, dốc đến công trường khai thác đá vôi thôn Bái Đằng, xã Thạch Sơn, huyện Thạch Thành, khó khăn lắm, chúng tôi mới thuyết phục được chủ khai thác đá để được đi theo tốp thợ lên núi.
    Dẫn đầu đoàn thợ khai thác đá gồm bảy người là anh Hồ. Vừa đi anh vừa nói “Nghề này khổ lắm, không có sức khỏe và sự bền bỉ mà cứ cố leo lên vách núi thì chỉ có con đường chết mà thôi”.
    Đường lên mỏ đá cheo leo, lởm chởm phủ đầy những mảnh đá sắc nhọn. Tôi mải nhìn đường để tránh những mẩu đá sắc lẹm, khi ngẩng đầu lên thì chắn ngang trước mặt là núi đá cao sừng sững, bị mìn đánh nham nhở. Những khối đá, những hàm ếch như chực lao xuống vùi lấp tất cả làm chúng tôi phải rợn người.
    Muốn khai thác được đá từ núi thợ phải trèo lên các vách núi cheo leo, cao vút bằng dây thừng. Sau đó phải tìm những khối đá chồi ra để khoan lỗ, dụng cụ dùng để khoan là máy khoan được đấu điện trực tiếp từ mặt đất lên. Tiếp theo, nhét thuốc nổ và kíp nổ vào hốc đá.
    Xong xuôi, đặt thuốc nổ tìm chỗ nấp an toàn và ra hiệu cho phía dưới làm nhiệm vụ kích kíp nổ. Sau tiếng nổ “đùng... oàng” như trời giáng, đất đá bay tứ tung xuống chân núi thành các khối lớn nhỏ lẫn lộn.
    Thuốc nổ được những thợ tự gói để áng chừng trọng lượng cho phù hợp với mỗi lần phá đá nên khó hiểu rõ được sức công phá của nó. Anh Bùi Văn Hải là thợ đặt và kiêm gói thuốc nổ trần tình: “Chúng tôi cũng chỉ gói thuốc theo kinh nghiệm thôi. Mua thuốc nổ là do chủ thầu mỏ đá tự mua về”.


    Làm việc cật lực cả ngày chỉ được hơn bốn chục nghìn đồng

    Tại mỏ đá Bái Đằng có chín phụ nữ chuyên ôm vác, đội đá lên xe, 12 nam làm nhiệm vụ nổ và đập đá. Bụi đá quyện cùng mồ hôi nhễ nhại phủ lên những khuôn mặt cháy đen vì nắng. Thi thoảng, có ai đó kêu lên “ái, ố” vì những mảnh đá nhọn đâm vào vai, vào đầu khi đội đá lên xe.

    Chị Bùi Thị Mai, chuyên đội đá, than thở: “Chúng tôi phải đội từng thúng đá nặng từ 6 giờ sáng đến 11 giờ và chiều làm từ 13 giờ 30 đến 17 giờ. Mỗi ngày kiếm được 40 – 45 nghìn đồng”.
    Dễ bị tử thần gọi

    Đời bố mẹ mình làm phu đá, đến mình cũng thế thôi. Nhiều hôm, trời mưa to, đáng ra không được làm, nhưng nghỉ một ngày là không có tiền tiêu, con cái lại không có cơm ăn -Chị Lê Thị Huệ ở khu vực núi Vức (Đông Sơn) làm nghề bốc đá năm năm, tâm sự

    Những người làm nghề đá luôn quan niệm “mình đã lấy nghề đá để kiếm miếng cơm nuôi sống bản thân nên có chết vì đá cũng đành chấp nhận. “Tai nạn nhiều, chết cũng lắm nhưng đói thì vẫn phải liều”, ông Phạm Văn Đa, thợ khai thác đá thở dài.
    Anh Lê Văn Minh, thợ chuyên đặt thuốc mìn nổ đá đã 18 năm gắn đời mình vào nghiệp đá, tâm sự: “Có trường hợp đang khoan, trượt chân rơi từ độ cao 25 - 30 m xuống”.
    Làm cái nghề này không nói trước được điều gì. Anh Bùi Văn Thành ở thôn Đồng Hương (Thạch Thành) được coi là bậc thợ cao trong nghề. Chỉ một sai sót nhỏ trong khi khoan, anh Thành phá trúng mạch đá. Dưới sức ép của mìn, khối đá 50 m3 rời ra, kéo tuột anh xuống.
    Anh Lê Văn Việt, xã Hoàng Sơn (Nông Cống) chuyên khoan đá, đặt dây cháy chậm để kích cho mìn nổ phá đá. Trong một lần làm việc, anh châm lửa cho dây cháy chậm. Quá thời gian cháy mà đá vẫn chưa nổ. Tưởng hỏng, anh lại gần kiểm tra. Không ngờ, do hốc khoan sâu, dây cháy chậm nên, vừa đến nơi kiểm tra thì mìn nổ. Đá bắn văng làm rách bụng, phải khâu gần 30 mũi.
    Việc dưới chân núi, như khuân, vác đá, khênh đá, cũng nguy hiểm không kém. Hồi tháng 5/2009, tại khu vực núi Giàn, xã Đông Tân (Đông Sơn), chị Doãn Thị Hồng ở làng Đại Từ, xã Đông Thịnh, trong lúc đang đội đá lên xe thì bị đá rơi từ trên xuống trúng người, tử vong.
    Khó khăn, nhọc nhằn, nguy hiểm là vậy, nhưng các ông chủ thuê lao động đều phớt lờ việc bảo hiểm lao động cho công nhân. Thay vì hợp đồng bằng văn bản theo quy định của pháp luật, nhiều ông chủ chỉ hợp đồng miệng với lao động.
    Nếu không may xảy ra sự cố đáng tiếc, gia đình người xấu số sẽ chỉ nhận được khoản tiền đền bù khoảng từ 15 đến 20 triệu đồng. Hầu hết lao động làm nghề này đều tự bằng lòng vì ở miền núi rất ít ruộng, có làm cũng không đủ ăn.
    Không có công ăn việc làm, họ vẫn phải bám vào đá để mưu sinh. Nhiều người do trình độ học vấn thấp, thậm chí không có học hành gì, coi đây là một nghề để tồn tại.
    Khai thác đá hiện nay còn quá tự do, chính quyền địa phương ít khi can thiệp nên các ông chủ mỏ đá cứ tự do tung hoành khai thác bừa bãi, công nhân làm việc một cách thủ công và không trang bị các thiết bị bảo hộ trong quá trình lao động. Vì thế, những cái chết từ nghề khai thác đá vẫn luôn rình rập, đe dọa tính mạng của rất nhiều người tại các bãi đá.
    Đã đến lúc cần sự vào cuộc mạnh mẽ của các ban ngành để có sự cảnh báo kịp thời và phổ biến các biện pháp bảo đảm an toàn lao động cho công nhân tại các mỏ đá.

    (Tiền Phong)

    Coffee Chiều Thứ 7

  • Dân chài nghèo tìm thức ăn trên bãi đá
    N Nguyễn Quân

    Dân chài nghèo tìm thức ăn trên bãi đá

    Với cái rổ nhỏ, móc sắt và cây nhíp, chiều chiều, người dân chài Nha Trang (Khánh Hòa) cặm cụi trên các bãi đá rộng mênh mông ven bờ biển bắt ốc đá, con hàu... Đây là cách 'đi chợ' kiếm thức ăn khá phổ biến của người nghèo.


    Những bãi đá san hô như thế này nằm rất nhiều dọc theo bờ biển Nha Trang, hướng từ đường Trần Phú kéo dài về phía Hòn Chồng nổi tiếng. Theo người dân sống gần đây, vào buổi sáng, thủy triều dâng ngập cả khu vực. Khi chiều đến, đặc biệt là những ngày rằm, nước rút đi để lộ ra đá và san hô nằm xâm xấp trên mặt nước.


    Thay vì xách giỏ đi chợ mua thức ăn, mỗi chiều, hàng chục người dân sống ở khu vực gần bãi đá, có cả người già, trẻ nhỏ, lũ lượt xách theo hộp, rổ bằng nhựa để mò ốc đá và con hàu về chế biến thành món ăn.


    Một bà lão đang dùng cây nhíp nhỏ lấy từng con hàu trắng ra khỏi tảng đá.


    Những con hàu bám chặt vào đá, thịt hàu nhỏ và trắng lấm tấm khắp tảng đá đen. Chỉ cần lấy cây nhíp lấy thẳng hàu ra khỏi chiếc vỏ.


    Trong nửa giờ, bà lão đã lấy được chỗ hàu này để nấu cháo, hoặc xào sả ớt, rim nước mắm... Hàu nhỏ ăn ngọt, thịt dai là món khoái khẩu của người dân quê.


    Ở góc khác trên bãi đá, một cậu bé đang cặm cụi đãi cát, nhặt từng con ốc đá nhỏ xíu.


    Cậu bé này cho biết, chỗ ốc đá được dành cho buổi cơm chiều để mẹ đỡ tiền chợ và là món ăn vặt mà đám em ở nhà mê tít. Ốc đá có thể xào me, xào dừa, luộc lên rất ngon.


    Theo những người dân đang mò ốc trên bãi đá này, đây chỉ là cách tiết kiệm tiền đi chợ trong thời buổi khó khăn. Không ai nghĩ đến việc bán lại chỗ hàu và ốc kiếm được, vì giá 1 kg chỉ chừng 2. 000 đồng và phải tốn rất nhiều công sức mới mò được số lượng lớn.


    Bóng người trên biển chiều tà lẫn vào những bãi đá lởm chởm.


    Nằm sát bãi đá người dân đang kiếm cái ăn là những khu resort sang trọng
    đang mọc lên nhiều.


    Chỉ đến khi bóng tối thực sự buông xuống, người kiếm cái ăn trên bãi đá mới vắng hẳn.

    (VnExpress)

    Coffee Chiều Thứ 7

  • Mối tình bên những nấm mồ liệt sĩ
    N Nguyễn Quân

    Mối tình bên những nấm mồ liệt sĩ

    30 năm miệt mài làm công việc chăm sóc các phần mộ ở Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn. Cả một thời con gái đã trôi qua ở nghĩa trang ấy. Mối tình với người đồng nghiệp cũng diễn ra ở đấy, trước sự chứng kiến của những linh hồn đồng đội…

    Tuổi đôi mươi chăm sóc… người chết

    Từ tinh mơ, khi con gà trống duy nhất trong chuồng báo sáng là lúc chị Bé tỉnh dậy. Đã thành lệ, sau khi nấu cơm cho chồng con, chị vội đi đến nơi làm việc - nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn - cách nhà 10km.

    7h30, chị Bé đã có mặt tại nghĩa trang. Vào phòng thay đồ, khoác trên người mảnh áo lao động, đút bật lửa vào túi, vớ chiếc nón cũ sờn và chiếc chổi tre, chị chính thức lên khu mộ phần mà chị vẫn chăm sóc hằng ngày.

    Nắng Gio Linh mùa này khắc nghiệt, mới bảnh mắt ra đã chói chang. Nắng cùng cơn gió Lào nóng rẫy lưng khiến rặng phi lao đang tỏa bóng ít ỏi che cho con người trở nên nhỏ bé. Chị Bé vã mồ hôi, tay cầm chổi quét sạch sẽ những lối đi quanh mộ của các chiến sĩ. Xong xuôi, chị đi nhổ cỏ, bỏ bớt chân hương trên các ngôi mộ… Thi thoảng, chị lại lấy bàn tay chai sần, quệt vệt mồ hôi lăn dài trên gò má sạm đen.

    Chị Nguyễn Thị Bé đang chăm sóc các mộ phần

    Chúng tôi chỉ có thể gặp chị sau khi công việc đã hòm hòm. Trời nắng gắt nên người đàn bà ấy ngồi dưới gốc cây bồ đề để nghỉ ngơi. Cất cái âm nằng nặng, mang khẩu ngữ địa phương, chị Bé kể vanh vách về lịch sử xây dựng nghĩa trang này, về những ngôi mộ chi chít nơi đây mà chị đã thuộc như lòng bàn tay.

    Sinh năm 1957 ở Triệu Phong, Quảng Trị, chị Bé đi bộ đội và đóng quân tại vùng địa đầu Đông Bắc của Tổ quốc. Xuất ngũ năm 1979, chị Bé về quê rồi xung phong lên nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn để chăm sóc mộ phần cho các liệt sĩ…

    Câu chuyện của cô gái 22 tuổi “đòi” làm quản trang khiến nhiều người ở Triệu Phong ngạc nhiên. Gia đình chị cũng một mực ngăn cản, bởi ngày ấy chả ai chịu đi… chăm người chết. Hơn nữa, chị còn trẻ và chưa lập gia đình, lên nghĩa trang đã xa xôi, vắng vẻ, heo hút lại toàn làm bạn với mồ mả thì làm gì có trai làng nào dám lên để “tán tỉnh”… Thuyết phục mãi không được, người nhà chị dọa, trên đường tới nghĩa trang có nhiều hổ rình vồ người…

    Bỏ qua những cản ngăn, chị Bé một thân một mình với ba lô con cóc lên đường chỉ với ý niệm: “Mình cũng là bộ đội, mình hiểu rằng các chiến sĩ hy sinh còn rất trẻ. Giờ đã ra đi, cô đơn nằm trên đó. Ngày ấy, không có ai đến nghĩa trang nên mình muốn lên đây chăm sóc họ để cho họ bớt phần hiu quạnh”. Cuốc bộ 30km đường rừng, vừa đi vừa nắm chặt con dao trong tay bởi lời dọa hổ vồ, tới nơi, ngay lập tức chị được nhận và trở thành một trong những người quản trang đầu tiên của nơi an nghỉ hàng ngàn chiến sĩ Trường Sơn.

    Khi ấy, nghĩa trang tuy đã được xây xong nhưng còn nhiều bề bộn, chị Bé lại cùng những người quản trang khác miệt mài dọn dẹp, phát quang bụi rậm, chung tay xây dựng nghĩa trang Trường Sơn thành một nơi với quy mô lớn, đón nhận thêm nhiều nắm xương của đồng đội về an nghỉ.

    Nơi tình yêu chắp cánh

    Ngày ấy, nhiều người cứ nghĩ rằng chị Bé sẽ chẳng bao giờ có được tấm chồng khi ngày nào cũng làm bạn với các nấm mồ. Mặc gia đình gọi về quê, hằng ngày chị vẫn chăm chút cho những ngôi mộ như một phần không thể thiếu trong cuộc sống và hai tháng một lần, chị lại cuốc bộ về thăm bố mẹ.

    Tuổi xuân qua đi, song số phận thật diệu kỳ với chị Bé. Năm 1983, nghĩa trang Trường Sơn đón nhận một quản trang mới tên là Hoàng Văn Húc, sinh năm 1947. Anh Húc nguyên là bộ đội của Binh đoàn Trường Sơn.

    Anh Húc về nghĩa trang được một thời gian thì hai con người đặc biệt ấy đã nảy sinh tình cảm, quyến luyến nhau. Họ có với nhau 2 mặt con trai giữa niềm vui của những người đồng chí.

    Giữa cái nơi không có điện, lại cách xa trung tâm (năm 1997, nghĩa trang Trường Sơn mới có điện), những đứa con sinh ra sẽ khó khăn lắm trong việc học hành. Nhiều đêm bàn bạc hai vợ chồng chị đã quyết định vay mượn của họ hàng, đồng đội, mua một mảnh đất nhỏ ở xã Hải Thái (huyện Gio Linh) để các con thuận lợi tới trường.

    Mua đất, xây nhà thì nợ nần cũng đội lên trong khi lương lậu thì cố định, chị Bé và anh Húc phải tiết kiệm từng xu trong những lần đi chợ để dành dụm trả nợ và nuôi con học hành. Và, cũng kể từ khi mua nhà, bất kể mưa hay nắng, sáng nào chị cũng cuốc bộ đến nơi làm việc, đến tối mịt lại vượt đoạn đường hơn 10km về nhà.

    Ròng rã như thế trong một thời gian dài, cuối cùng, khi cái nợ cũng bớt đi thì chị Bé mua được 1 cái xe đạp và giờ đây là chiếc xe máy để đi lại. Năm 2004, anh Húc về hưu, song do sức ép bom mìn thời chiến, tinh thần của anh không ổn định. Một mình chị, giờ không chỉ nuôi 2 con ăn học mà còn cõng thêm người chồng ốm yếu.

    Vất vả là thế, song chị Bé vẫn lạc quan lắm, con cái bắt đầu lớn khôn, sẽ kiếm được tiền trong nay mai. Còn chị thì cả đời nguyện ở cái nghĩa trang này, bởi ngoài công việc thì còn biết bao ân tình với các liệt sĩ.

    Thấy khách tò mò về hai chữ “ân tình”, chị Bé nhoẻn cười: “Chú có ở đây thì mới biết chuyện của tụi tui, các liệt sĩ linh thiêng lắm nhé.”

    Rồi, chị kể về việc trước kia, khi nơi đây chưa có điện thoại, những người quản trang đang làm thì ruột gan nóng như lửa đốt, khi họ xin nghỉ phép để về quê thì y rằng bố ốm, mẹ đau hay ở nhà đang có chuyện chẳng lành…

    Còn ông Nguyễn Bá Anh, phó ban quản lý nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn thì kể rằng, ngày mới thành lập, điều kiện sinh sống ở đây rất khắc khổ, nhiều người sớm bỏ nơi này nhưng một số đã cố gắng vượt qua. Rồi, ông bảo, ngoài chị Bé và anh Húc còn có anh Quang và chị Liên đã xây dựng gia đình nhờ nơi này. Người làm ở nghĩa trang, làm hết việc chứ chả bao giờ tính giờ giấc…

    Bóng nắng đã đứng ngọn phi lao, chúng tôi nghiêng mình lần cuối cùng trước khi rời nơi yênnghỉ vĩnh hằng của lớp người đã ngã xuống vì độc lập tự do của Tổ quốc. Vừa chia tay khách, chị Bé đã vội chụp chiếc nón lên đầu, tay vớ chiếc chổi để tiếp tục công việc của mình. Chị bảo sẽ gắn bó với công việc này cho đến khi “mọi người bảo, chị già rồi không làm được nữa thì mới nghỉ”…

    Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn được xây dựng tại khu vực Bến Tắt, cạnh đường quốc lộ 15, thuộc địa phận xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh. Nghĩa trang có diện tích 140.000m², nằm trên 3 quả đồi ở cạnh thượng nguồn sông Bến Hải, ranh giới cắt chia hai miền Bắc - Nam thời kháng chiến chống Mỹ.

    Nghĩa trang được xây dựng từ ngày 24/10/1975, hoàn thành ngày 10/4/1977 và là nghĩa trang có quy mô lớn nhất Việt Nam. Khu trung tâm nằm trên một ngọn đồi cao 32,4m có đài tưởng niệm bằng đá trắng cao vút uy nghiêm, rỗng ruột và khuyết ba mặt, thể hiện nỗi mất mát vô cùng. Bốn khu đặt mộ liệt sĩ được xếp theo tỉnh, thành phố trải trên năm quả đồi. Tại thời điểm tháng 4/2006 ở đây có 10.263 phần mộ; được chia thành 10 khu vực.

    (VnMedia)

    Coffee Chiều Thứ 7

  • Mẹ tôi
    N Nguyễn Quân

    Đổi cả thiên thu tiếng Mẹ cười

    Đổi cả thiên thu tiếng Mẹ cười

    ...Ví mà tôi đổi thời gian được
    Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.



    *Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
    Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
    Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
    Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

    Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
    Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
    Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
    Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

    Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
    Bên đời gió tạt với mưa tuôn
    Con đi góp lá nghìn phương lại
    Đốt lửa cho đời tan khói sương

    Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
    Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
    Mẹ xa xôi quá làm sao vói
    Biết đến bao giờ trông thấy nhau

    Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
    Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
    Đau thương con viết vào trong lá
    Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

    Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
    Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
    Ví mà tôi đổi thời gian được
    Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.*

    ( Trần Trung Đạo )

    Thơ sưu tầm

  • Diêm dân nhí trên đồng muối Hộ Độ
    N Nguyễn Quân

    Diêm dân nhí trên đồng muối Hộ Độ

    Những ngày hè trên cánh đồng muối xã Hộ Độ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh trời nắng như lửa đốt nhưng có hàng trăm em bé đứng trên những ruộng muối bỏng rát, nặng nhọc với bao nhiêu công việc để làm ra hạt muối.

    Các em đang là học sinh cấp một, cấp hai, tuổi nhỏ sức yếu nhưng đã trở thành những diêm dân thực thụ, thành thạo với bao công việc của vùng muối nơi đây.


    Trọng lượng hơn 100 kg nhưng các em đều đẩy hết

    Thợ làm muối tuổi học trò…

    12 giờ giữa cánh đồng muối nhiệt độ lên đến 39 – 40 độ C những ruộng muối đều là bê tông bỏng rát nhưng em Nguyễn Thị Mai đang học sinh lớp 3 múc những gầu nước lên ruộng giữa trời nắng chang chang.
    Sau một hồi em cũng múc đầy nước trên ruộng, tranh thủ chui vào kho muối bé nhỏ lợp bằng lá kè nghỉ uống nước em liền nói: “Ở đây không những mình em mà cả vùng đứa mô cũng phải đi làm như ri (như thế này) hết, ngày mô cũng rứa, phải ra đồng giúp cha mẹ làm muối để có tiền mà đi học”.
    Cả năm diêm dân ở xã Hộ Độ chỉ có gần bốn tháng trời làm muối, nắng càng to thì muối làm ra càng nhiều. Mùa muối là lúc các em được nghỉ hè nên ngày nào những diêm dân nhí nơi đây cũng cùng cha mẹ ra đồng để làm.
    Đang đẩy chiếc xe cút kít có trọng lượng 100kg, em Nguyễn Văn Tuấn học sinh lớp 7 dừng xe nghỉ em liền nói: “Ngày mô cũng rứa anh ạ! Việc đẩy xe như ri là quá bình thường rồi, trời càng nắng muối làm ra càng nhiều thì em lại phải đẩy gấp mấy lần những ngày thường”.
    Không những mình Tuấn mà trên cánh đồng muối có rất nhiều đứa trẻ đang bắt tay vào việc như Tuấn. Công việc của các em không thua gì so với những diêm dân lâu năm.
    “Những công việc người lớn làm bọn em đều đảm nhiệm hết, từ việc xúc đất rải trên ruộng, tưới nước, đẩy muối… những diêm dân nhỏ tuổi đều đảm đương được hết”, một em thỏ thẻ.
    Một ngày làm muối của bà con diêm dân xã Hộ Độ bắt đầu từ sáng sớm cho đến khi tối mịt mới về nhà. Buổi sáng khi mặt trời chưa nắng lắm thì họ làm đất, còn đến chừng trưa thì cho nước lên ruộng muối phơi.
    Đang cầm chiếc cào dài gấp mấy lần cơ thể cào muối trên ruộng người nhễ mồ hôi, em Trần Văn Hùng học sinh lớp 4 nói: “Em trong như ri nhưng chiều mô cũng cào được một tạ muối đó”.
    Trên cánh đồng muối Hộ Độ, dân ra đồng đông nghịt.


    Bên cạnh người lớn, có nhiều trẻ nhỏ ra đồng làm muối. (Ảnh: Sơn Thủy)

    Không giấc ngủ trưa

    Mỗi ngày trôi qua đối với các em nhỏ ở xã Hộ Độ không một giấc ngủ trưa, bởi suốt ngày các em phải ra đồng để làm cùng cha mẹ.
    “Những ngày nắng như ri mà ngủ thì lấy đâu ra muối mà bán để có tiền đi học, nắng nóng đối với bọn em không là chi cả, chỉ mong có được nhiều muối mà đem bán thôi”, Nguyễn Thị Hồng học sinh lớp ba nói.
    Từ sáng sớm em Nguyễn Văn Long đã cùng cha mẹ ra ruộng và đầm mình giữa đồng muối cho đến đêm mới về. Một ngày đối với các em không biết giấc ngủ trưa mà chỉ biết lăn lộn cùng hạt muối với cha mẹ giữa cánh đồng.
    Trời nắng như lửa đốt nhưng trên ruộng muối khô, thấy các em vẫn chăm chỉ với công việc tưới nước lên ruộng. “Ở đây đứa mô cũng ra đồng hết, trời càng nắng to bọn em phải làm gấp mấy lần những ngày không nắng” - Long kể.
    Nhìn một lượt, trên cánh đồng muối những diêm dân nhí da đen cháy, tóc bện lại do nước biển. Riêng đôi mắt các em vẫn ánh lên rất sáng.
    Những ngày trời nắng to thì bữa cơm của bà con diêm dân nơi đây đều phải ăn giữa đồng, nhưng diêm dân vẫn mang cơm ra ăn giữa đồng để có thời gian tận dụng trời nắng nóng làm muối.
    Chị Lan một diêm dân ở Hộ Độ cho biết: “Trẻ con quê tui là rứa đó, từ khi sinh ra đã gắn bó với nghề muối rồi, vào vụ muối từ người già cho đến trẻ ai cũng cả ngày ngoài ruộng. Tất cả chỉ vì sợ mất cái nắng. Ngủ tí trưa coi như mất muối luôn”.
    “Trẻ con quê tui sinh ra đã nhờ muối mà sống, nhờ muối mà có tiền đi học…” cứ nghĩ đến câu nói của bà Hồng một diêm dân ở Hộ Độ mà tôi ngao ngán.

    (Theo Tiền Phong)

    Coffee Chiều Thứ 7

  • Mẹ tôi
    N Nguyễn Quân

    Mẹ ốm.

    Mẹ ốm
    **

    **
    *Cánh màn khép lỏng cả ngày
    Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa
    Nắng mưa từ những ngày xưa
    Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan.

    Khắp người đau buốt, nóng ran
    Mẹ ơi! Cô bác xóm làng đến thăm
    Người cho trứng, người cho cam
    Và anh y sĩ đã mang thuốc vào.

    Sáng nay trời đổ mưa rào
    Nắng trong trái chín ngọt ngào bay hương
    Cả đời đi gió đi sương
    Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi.

    Mẹ vui con có quản gì
    Ngâm thơ kể chuyện, rồi thì múa ca
    Rồi con diễn kịch giữa nhà
    Một mình con sắm cả ba vai chèo.

    Vì con, mẹ khổ đủ điều
    Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn
    Con mong mẹ khoẻ dần dần
    Ngày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say.

    Rồi ra đọc sách, cấy cày
    Mẹ là đất nước, tháng ngày của con...*

    (Trần Đăng Khoa)

    Trần Đăng Khoa nổi tiếng là một thần đồng về thơ khi đang còn học lớp ba trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ của Khoa trong sáng giản dị mà dạt dào cảm xúc, đầy tình yêu thương con người và thiết tha yêu quê hương đất nước. Biết bao em nhỏ Việt Nam yêu thích những bài thơ của Khoa viết và bài thơ “Mẹ ốm” cũng vậy. Tác giả đã bộc lộ tình cảm của một người con với mẹ - một tình cảm rất hồn nhiên của tuổi niên thiếu.

    Mở đầu bài thơ, tác giả đã miêu tả cảnh mẹ ốm bằng hình ảnh so sánh:
    “Mọi hôm mẹ thích vui chơi.
    Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu”

    Thường ngày mẹ hay ăn trầu, đôi má lúc nào cũng đỏ hồng lên. Thế mà hôm nay mọi cảnh vật trong nhà thật buồn bã. Lá trầu cũng như lặng đi và héo khô trong cơi trầu. Những lúc rỗi rãi mẹ thường ngâm nga Truyện Kiều, giờ mẹ bị ốm nên “Truyện Kiều gấp lại trên đầu...”.

    Mẹ vốn là người lam làm tần tảo. Khi mẹ ốm thì “Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa”. Cả cuộc đời mẹ vất vả gian nan nay bị ốm, tác giả đã cảm nhận được và thể hiện qua hình ảnh:

    “Nắng mưa từ những ngày xưa
    Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan”.

    Tác giả - một em thiếu niên 10 tuổi đã liên tưởng từ hình ảnh “nắng mưa” mà thấy được sự vất vả, những thăng trầm của cuộc sống mà người mẹ đã phải trải qua. Vì vậy mà tác giả như hiểu được người mẹ đang phải chịu sự “đau buốt, nóng ran” khi bị ốm.

    Rồi tình làng nghĩa xóm, sự quan tâm của mọi người tới mẹ cũng được nhà thơ thể hiện rất mộc mạc, giản dị mà thắm đượm tình người:

    “Mẹ ơi, cô bác xóm làng đến thăm.
    Người cho trứng, người cho cam
    Và anh y sĩ đã mang thuốc vào”.

    Điều đó chứng tỏ rằng, hàng ngày mẹ sống tốt với mọi người nên khi mẹ ốm mọi người quý mến và thương cảm tới mẹ. Còn nhà thơ - em bé thiếu niên Trần Đăng Khoa bấy giờ đã thấu hiểu nỗi vất vả cực nhọc của mẹ trong cuộc sống lam lũ mà em đã từng chứng kiến và cảm nhận được:

    “Cả đời đi gió, đi sương
    Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi”.
    “Cả đời đi gió đi sương” là hình ảnh ẩn dụ diễn tả sự vất vả, gian khổ của người mẹ.

    Trong cuộc sống lao động cực nhọc, mẹ đã từng trải qua và vượt lên tất cả để vì cuộc sống và vì tương lai tốt đẹp của các con. Khoa còn hiểu được qua thành ngữ “đi gió đi sương” là nói lên được sự vất vả gian khổ, lao động trong những điều kiện thời tiết khắc nghiệt, sớm tối lặn lội. Cảm nhận được như vậy, chứng tỏ tác giả rất yêu thương mẹ, muốn làm tất cả những gì để mẹ vui lòng mà chóng khỏi ốm:

    “Mẹ vui con có quản gì
    Ngâm thơ, kể chuyện rồi thì múa ca”.

    Khoa còn làm được cả những việc vượt ngoài khả năng mà trước đây bản thân chưa làm được: “Một mình con sắm cả ba vai chèo” - một em thiếu niên thật là ngoan ngoãn, có thể lúc trước còn nhõng nhẽo, hay vòi vĩnh mẹ nhưng bây giờ mẹ ốm đã biết thể hiện sự hiếu thảo của mình qua sự chăm sóc mẹ. Nhìn những nếp nhăn hằn trên khuôn mặt của mẹ, Khoa rất cảm động và thấy vô cùng biết ơn mẹ:

    “Vì con mẹ khổ đủ điều
    Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn”.

    Vì vậy mà trong lòng của nhà thơ lúc nào cũng ước:

    “Con mong mẹ khoẻ dần dần
    Ngày ăn ngon miệng đêm nằm ngủ say”.

    Thật cảm động biết bao trước tình cảm đẹp đẽ của một người con - một cậu bé chưa đầy 10 tuổi trước cảnh “Mẹ ốm”. Bài thơ còn hay ở câu kết mà tác giả đã nói hộ chúng ta về lòng biết ơn vô hạn của những đứa con với các bà mẹ:

    “Mẹ là đất nước, tháng ngày của con”.
    Phải chăng đó cũng là tình cảm của mỗi chúng ta khi nghĩ về mẹ: Con yêu mẹ nhất trên đời, con yêu mẹ như yêu đất nước và mẹ chính là Tổ quốc của riêng con !

    (Trần Thị Thành (Báo Bắc Giang)
    **

    Thơ sưu tầm

  • Tranh thêu tay XQ: Tinh hoa nghệ thuật truyền thống
    N Nguyễn Quân

    Tranh thêu tay XQ: Tinh hoa nghệ thuật truyền thống

    Xem những bức tranh này thấy đất nươc mình thạt thanh bình và đẹp quá các bạn ạ mình thấy như tìm lại được những giá trị đã làm nên văn hoá dân tộc Việt Nam như tình mẹ, tình bạn, lòng trắc ẩn, tình hữu ái … Không biết các bạn có ý kiến gì không?

    **Nắng sớm làng quê
    **

    Một góc quê hương Việt Nam

    Một đời lặng lẽ

    Miền quê êm ả

    Mẹ vắng nhà

    Quê hương và dòng sông

    Quê hương mùa lúa chín

    Nhà trên sông

    Ngã ba sông

    Nét đẹp Sài Gòn

    Thuyền và bến

    Sông nước hữu tình

    Sông An Cựu

    Việt Nam trong tôi

    Viễn xứ

    Viễn xứ

    Ven sông

    UBND Thành Phố

    Đêm nằm nghe thác đổ

    Bên khung thêu

    Bên dòng nước

    Bên dòng nước

    Giấc mộng trưa hè

    Giấc mơ

    Duyên dáng Việt Nam

    Dưới trăng

    Đợi chờ
    Bức tranh này có một điều thú vị là khi ta đứng ngắm nhìn bức tranh, mắt của ta nhì về hướng nào thì hướng nhìn của người Phụ nữ trong tranh cũng theo hướng đó

    ![](Hương cau)

    Giữa mà đêm

    Giọt lệ mùa thu

    Giai điệu Quê hương

    Lời thú tội

    Lời ru của dòng sông

    Khát vọng thôn nữ

    Hương xưa

    Hương lúa

    Nỗi nhớ trời chiều

    Một ký ức về thành phố quê tôi

    Mơ hoa

    Mẹ ơi sao về trễ

    Mẹ ơi đừng đánh con đau

    Thiếu nữa và ánh trăng đêm

    Thiếu nữ bên suối

    (Góp nhặt)

    Quê hương mình đẹp làm sao

  • Mẹ tôi
    N Nguyễn Quân

    Khi mẹ vắng nhà - Trần Đăng Khoa

    Khi mẹ vắng nhà
    **

    ***Khi mẹ vắng nhà, em luộc khoai
    Khi mẹ vắng nhà, em cùng chị giã gạo
    Khi mẹ vắng nhà, em thổi cơm
    Khi mẹ vắng nhà, em nhổ cỏ vườn
    Khi mẹ vắng nhà, em quét sân và quét cổng

    Sớm mẹ về, thấy khoai đã chín
    Buổi mẹ về, gạo đã trắng tinh
    Trưa mẹ về, cơm dẻo và ngon
    Chiều mẹ về, cỏ đã quang vườn
    Tối mẹ về, cổng nhà sạch sẽ
    Mẹ bảo em: Dạo này ngoan thế!

    • Không mẹ ơi! Con chửa ngoan đâu
      Áo mẹ mưa bạc màu
      Đầu mẹ nắng cháy tóc
      Mẹ ngày đêm khó nhọc
      Con chưa ngoan, chưa ngoan!***

    1967
    Tập Góc sân và khoảng trời.
    (Trần Đăng Khoa)
    **
    **

    Thơ sưu tầm
  • 1 / 1

Xin nhẹ bước nơi sân ga — tàu ký ức đang đỗ.

10.545 chuyến · 36.641 lời nhắn · 29.440 hành khách

Đà Lạt Hoa · Sân ga ký ức · 2006 · NodeBB

Powered by NodeBB Contributors
  • Bài viết đầu tiên
    Bài viết cuối cùng