**THƯƠNG MẠI HOA CẮT CÀNH THẾ GIỚI **
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA VIỆT NAM
Phạm Xuân Tùng
Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau & Hoa
Viện Khoa học Kỹ thuật miền Nam
Mở đầu
Công nghiệp hoa cắt cành thế giới là một ngành hàng có giá trị nhiều tỷ đô-la (USD) và vô cùng năng động. Sự da dạng về chủng lọai hàng, công nghệ sản xuất-tiếp thị, nguồn cung ứng, thị trường tiêu thụ, … tất cả đều sôi động và thay đổi thường xuyên, liên tục tạo ra những thách thức lớn cho các đối tác tham gia vào ngành hàng này. Cho dù còn nhiều hạn chế về vốn, công nghệ sản xuất, cơ sở hạ tầng, … các nước chậm phát triển đang nhanh chóng trở thành những đối tác lớn tham gia thị trường hoa cắt cành thế giới. Colombia, Equador, Zimbabwe, Kenia là những nước xuất khẩu hoa được nhanh chóng xác lập từ thập niên 1990 và đã trở thành những nhà xuất khẩu có vai vế. Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Hàn Quốc, Malaixa, Malawi, Zambia, Nam Phi, Mexico, … đang dần trở thành những đối thủ cạnh tranh đầy tham vọng trên thị trường xuất khẩu hoa. Với thị trường tiêu thụ lớn nhất vẫn là Châu Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản, khỏang cách vận chuyển lớn và tính dễ hư hao cùa hàng hoa tạo ra những khó khăn đáng kể về kho vận mà các nước này cần phải giải quyết. Tuy vậy, các thành viên mới trỗi dậy này vẫn có thể, và thực sự đã và đang cạnh tranh với các đối thủ tại chỗ một cách gay gắt.
Những năm giữa thập kỷ 1990 đánh dấu một sự khởi đầu mới của nghề sản xuất hoa Việt Nam. Sản xuất hoa và cây cảnh bùng nổ trước tiên xung quanh các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Tp Hồ Chí Minh và lan rộng sang các vùng khác. Ở Đà Lạt, sản xuất mở rộng nhanh chóng, gia tăng hàng chục lần về quy mô chỉ trong vài năm do nhu cầu gia tăng của thị trường tiêu dùng. Những chuyển biến này chính là hệ quả của i) nhu cầu thay đổi cơ cấu cây trồng từ sản xuất các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu nhưng giá trị thấp sang những mặt hàng có giá trị cao; ii) việc triển khai, hiện thực hóa Nghị quyết của Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt nam lần VIII về đa dạng hoa sản phẩm nông nghiệp và iii) nhu cầu tiêu dùng của nhân dân đối với các hàng hóa xa xỉ hơn, trong đó có hoa và cây cảnh, nhờ thu nhập được cải thiện đáng kể của người dân. Nghề sản xuất hoa và cây cảnh đã thay da đổi thịt với một diện mạo mới và đã trở thành một nghề sinh lợi lớn cho một bộ phận đáng kể các nông hộ.
Quyết định số 182 QĐ/TTg, ngày 3/9/1999, phê duyệt Dự án “Phát triển sản xuất rau, hoa, quả giai đọan 1999-2010” khẳng định chủ trương lớn của Nhà nước trong việc đẩy mạnh phát triển nghề vườn nói chung và ngành hàng hoa nói riêng. Những mục tiêu lớn của Dự án gồm: i) đáp ứng nhu cầu tiêu dùng rau, hoa, quả của nhân dân; ii) tạo ra khỏang 5 triệu việc làm, và iii) đưa kim ngạch xuất khẩu rau, hoa, quả lên 01 tỷ USD. Để đạt được mục tiêu đó, nhiều chương trình, dự án phát triển đã được triển khai, nhiều chính sách hỗ trợ phát triển đã được áp dụng.
Cũng như với lĩnh vực nghề vườn nói chung, phát triển sản xuất hoa cắt cành theo hướng công nghiệp công nghệ cao và hướng tới xuất khẩu là một định hướng lớn thu hút mối quan tâm và chi phối mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư từ phía Nhà nước, các doanh nghiệp và người sản xuất. Tuy vậy, cho đến nay, mặc dù sản xuất đã có bước phát triển đáng kể về quy mô diện tích và sản lượng, hoa cắt cành Việt Nam vẫn được coi là có chất lượng thấp với trên 95 % sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường nội địa, vốn được coi là một thị trường non trẻ. Gần 5% sản lượng xuất khẩu được chủ yếu do một số doanh nghiệp nước ngòai có sẵn công nghệ, vốn và thị trường thực hiện.
Trong khi tiềm năng phát triển có thể coi là còn rất lớn, hiện trạng sản xuất cho thấy còn nhiều vấn đề cần phải được giải quyết nhằm khai thác triệt để các lợi thế cạnh tranh, tăng cường chất lượng và năng lực cạnh tranh để hoa cắt cành Việt Nam có thể thâm nhập vào thị trường thế giới. Báo cáo này tổng quan bối cảnh sản xuất, thương mại hoa cắt cành thế giới và những vấn đề của ngành hàng này ở Việt Nam.
**1.**Sản xuất và thương mại hoa cắt cành thế giới
Nhu cầu tiêu dùng
### Nhu cầu tiêu thụ hoa cắt cành thế giới gia tăng với mức 6-9 % mỗi năm. Năm 1985, giá trị tiêu dùng là 12,5 % tỷ USD, năm 1990 khỏang 25 tỷ, năm 1995 khỏang 31 tỷ và ước tính sẽ đạt 35 tỷ trong 10 năm tiếp theo (de Groot 1998). Ở quy mô tòan cầu, Tây Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản là những khu vực tiêu thụ hoa cắt cành nhiều nhất. Chỉ riêng 25 nước thuộc Liên minh châu Âu (European Union - EU) đã chi trung bình 13,5 tỷ USD/năm trong giai đọan 2001-2005 (CBI, 2006) cho tiêu dùng hoa cắt cành, chiếm gần 50 % tổng mức tiêu dùng hoa thế giới. Năm 2005, tiêu dùng nhiều nhất là Đức (4,03 tỷ USD), Liên hiệp Anh (2,8 tỷ), Pháp (2,4 tỷ), Ý (2,6 tỷ) (CBI, 2006). Người Mỹ chi khỏang một 11 tỷ USD mỗi năm (Flower Council of Holland-FCH, 2006), Nhật Bản 2,9 tỷ (JETRO, 2001). ###
Tổng mức tiêu dùng của Tây Âu giai đọan 2001-2005 giảm khỏang 3,2 %, trong đó Ý 5,9%. Sự suy giảm này một phần do sự bão hòa ở một số thị trường, phần khác do suy thóai kinh tế và sức mua của người tiêu dùng (CBI, 2006). Trong khi đó, cùng với sự tăng trưởng kinh tế và thu nhập của người dân, tiêu dùng hoa cắt cành có xu hướng gia tăng ở một số nước Đông Âu, Châu Á và Mỹ Latin. Trung Quốc nhanh chóng trở thành quốc gia có quy mô sản xuất và tiêu dùng lớn nhất thế giới với mức tăng trưởng 15 % mỗi năm. Riêng ở Bắc Kinh, tỷ lệ người tiêu dùng hoa cắt cành cho nhu cầu cá nhân từ 2,3 % năm 1985 tăng lên 29% năm 2004 (GADINFOcenter, 2006) vượt qua tỷ lệ này ở Mỹ (28%) (FCH, 2006). Ấn Độ, với 300 triệu dân thuộc tầng lớp trung lưu và khá giả, có mức tăng trưởng về tiêu dùng hoa 40 % mỗi năm (Nishimura, 2006). Từ 1985 đến 1996, tiêu dùng hoa cắt cành ở Hàn Quốc tăng 18,9% trong khi thu nhập bình quân tăng 15,1 % (http://www.krei.re.kr/ krei/korea /kreireport/zb). Đây cũng là xu thế chung xuất hiện ở nhiều nước có nền kinh tế có mức tăng trưởng cao, thu nhập của người dân được cải thiện nhanh chóng.
Theo FCH (2006), Hà Lan có mức tiêu dùng tính trên đầu người cao nhất trong giai đọan 2001-2005 (trung bình 56 euro/năm), Áo đứng thứ hai (45 euro/năm). Trung bình của các nước thuộc EU giai đọan này là 28 euro/người/năm, tương đương với mức tiêu dùng của người Nhật (29 euro/người/năm)(ITC, 2006), 4,3 lần mức của người Đài Loan (RIRDC, 1999) và 37 lần mức trung bình của người Trung Quốc (FCH, 2006). Mức tiêu dùng tính trên đầu người ở EU trong giai đọan này giảm 7,1 % do các nguyên nhân suy thóai kinh tế và thu nhập thực tế của cá nhân. Người Mỹ chi trung bình 31 USD/ người/năm cho tiêu dùng hoa. Châu Á cùng với Trung Quốc được dự báo sẽ là thị trường hoa lớn nhất trong vài thập kỷ tới.
**Sản xuất **
### Tòan cầu có trên 300.000 ha sản xuất hoa, phân bố trên 27 nước chủ yếu. EU chia sẻ 12 %, trong khi các nước châu Á và Thái Bình Dương chiếm 70 % diện tích này, trong đó Trung Quốc 40 % (EC, 2006) (120.000 ha, People’s Daily Online, 2001) và Ấn Độ 15 % (45.000 ha, AIC,2006). Nhật Bản, Thái Lan và Đài Loan là những nước sản xuất hoa quan trọng ở vùng này với tổng diện tích chiếm 10%. Mỹ (7%), Mexico (5%), Brazil (2%) và Colombia (2%) là các nước sản xuất hoa chủ yếu ở châu Mỹ, chiếm tổng số 16 % diện tích hoa của thế giới (EC, 2006). ###
Chỉ 25 nước thuộc EU đã sản xuất 42 % giá trị tổng sản lượng tòan cầu (8.634 triệu euro), trong đó, Hà Lan chiếm qúa nửa. Mỹ sản xuất 6 %, Nhật Bản 13%, Trung Quốc 7%, Canada và Colombia mỗi nước 3% giá trị sản lượng tòan cầu (EC, 2006).
EU, chiếm 12% tổng diện trồng hoa thế giới nhưng tạo 42 % ra giá trị tổng sản lượng, là khu vực có trình độ thâm canh cao nhất. Công nghệ nhà kính là yếu tố quan trọng tạo ra hiệu quả sản xuất cao trong ngành hàng hoa thế giới. Giá trị sản lượng trên một hectare của từng nước tương ứng với tỷ lệ diện tích sản xuất trong nhà kính (EC, 2006). Đan Mạch và Thụy Điển với tỷ lệ diện tích sản xuất hoa trong nhà kính tương ứng là 65 và 92 % tạo ra năng suất hàng hóa trên 600 ngàn euros/ha/ năm. Hà Lan với tỷ lệ 69 %, sản xuất 430 ngàn euros/ha/năm. Trung bình toàn EU, tỷ lệ hoa sản xuất trong nhà kính là 31% và năng suất trung bình là 120 ngàn euros/ha/năm. Trong khi đó, Trung quốc và Nhật Bản có tỷ lệ hoa trong nhà kính tương ứng là 17% và 51 %, năng suất trung bình tương ứng là 10 và 140 ngàn euros/ha/năm (EC, 2006).
Thương mại
Nhập khẩu**:**
### Thị trường nhập khẩu hoa cắt cành tòan cầu có giá trị 4 tỷ USD (ITC, 2001) với tốc độ gia tăng 0,7 % mỗi năm. Tốc độ gia tăng nhập khẩu không lớn tương ứng với nhu cầu tiêu dùng do bản thân các nước nhập khẩu hầu hết đều tự sản xuất hoa. Bên cạnh đó, chi phí vận chuyển cao (chủ yếu qua đường hàng không) là yếu tố hạn chế gia tăng nhập khẩu. Các nước chậm phát triển chiếm lĩnh được chỉ một phần rất nhỏ trên thị trường này. Mặc dù vậy, nhập khẩu từ các nước đang phát triển vẫn tiếp tục gia tăng nhờ các ưu thế cạnh tranh về nguồn nhân công rẻ và điều kiện khí hậu thuận lợi. Năm 1995, kim ngạch nhập khẩu từ các nước chậm phát triển chỉ là 18 triệu USD, năm 1999 là 45 triệu (ITC, 2001), năm 2003 trên 640 triệu (DFAA, 2004) và năm 2005, chỉ riêng EU đã nhập 643 triệu (CBI, 2006). ###
EU là thị trường nhập khẩu hoa cắt cành lớn nhất với tổng kim ngạch 3,3 tỷ euros năm 2005, với mức tăng trưởng 3,3 % /năm từ 2001 đến 2005, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế chậm lại và sức mua của người tiêu dùng suy giảm (CBI, 2006). Đức và Anh là các nước nhập lớn nhất chiếm tương ứng 25 % và 23 % tổng kim ngạch nhập khẩu của EU. Hà Lan và Pháp đứng thứ ba và thứ tư với với thị phần tương ứng là 14 và 13 %. Tuy vậy, 78 % sản phẩm nhập khẩu của EU là trong nội bộ các nước thuộc EU và chỉ 22 % được nhập từ bên ngòai. Hà Lan là nước đứng đầu EU về nhập khẩu từ bên ngòai, chiếm 56 % thị phần này. Một phần lớn hoa nhập khầu vào Hà Lan được tái xuất sang các nước khác trong khối. Cùng với Hà Lan, nguồn cung ứng từ bên ngòai chủ yếu là các nước chậm phát triển như Kenya (8%), Colombia (3%), Equador (3%), và Israel (3%) (CBI, 2006).
Bắc Mỹ là thị trường nhập khẩu lớn thứ hai. Riêng Mỹ nhập khẩu 10 % (de Groot, 1998) cho nhu cầu tiêu dùng 11 tỷ USD mỗi năm. ### Nguồn nhập của Mỹ chủ yếu từ Mexico (24%), Hà Lan (10%), Thái Lan (8%), Colombia (6%), Equador (5%), Costa Rica (4%) (USDA, 2004). Nhật Bản là thị trường nhập khầu hoa lớn nhất châu Á với kim ngạch nhập khẩu 179 triệu USD năm 2006, tăng 40% so với năm 2000. Nguồn nhập hoa chủ yếu của Nhật Bản là Hà Lan, Thái Lan, New Zealand, Australia, Trung Quốc, Malaysia, Colombia, Đài Loan và Hàn Quốc (Nishimura, 2007). Hà Lan và Thái Lan mỗi nước chiếm 16-17 % thị phần nhập khẩu Nhật Bản, tiếp theo là New Zealand và Hàn Quốc (14-15%), Australia và Colombia (6-7%) (JETRO, 2001).
Xuất khẩu**: **
### EU là khu vực xuất khẩu mạnh nhất với tổng kim ngạch năm 2005 đạt 2,7 tỷ euros và mức tăng trưởng 1,1 % trong giai đọan 2001-2005 (CBI, 2006). Hà Lan chiếm ưu thế với 88 % tổng kim ngạch xuất khẩu trong khu vực này. Xuất khẩu hoa của EU diễn ra chủ yếu trong nội bộ EU (86%). Đức là thị trường lớn nhất của Hà Lan, chiếm 26 % thị phần với kim ngạch nhập khẩu 679 triệu euros/năm (CBI, 2006). Liên hiệp Anh chiếm 19%, Pháp 14%, Ý 5%. Thị trường quan trọng ngòai EU bao gồm Thụy Sỹ (4%), Nga (3%) và Mỹ (3%).###
Mỹ Latin là khu vực xuất khẩu hoa mạnh thứ hai với kim ngạch 750-800 triệu USD. Trên 60 % sản phẩm hoa của khu vực này được xuất vào Bắc Mỹ. Các nước xuất khẩu chủ yếu là Colombia, Equador, Mexico và Costa Rica. Xét về xuất khẩu ra ngòai vùng thì Mỹ Latin đứng đầu.###
Trong một thời gian ngắn, châu Phi đã nhanh chóng xác lập vị trí của mình trên thị trường xuất khẩu hoa cắt cành. Kenya, Zimbabwe, Uganda, Nam Phi, Tanzania là các nước xuất khẩu chủ yếu của châu Phi. Năm 2005, chỉ riêng Kenia, Zimbabwe và Uganda đã xuất hoa qua các sàn đấu giá Hà Lan trị giá 290 triệu USD, trong đó Kenya chiếm trên 70% (CBI, 2006). Israel là nước xuất khẩu hoa chủ yếu của Trung Đông chiếm 3% thị trường nhập khẩu của EU trong năm 2005.###
Châu Á có vai trò không đáng kể trên thị trường xuất khầu hoa thế giới. Xuất khẩu của các nước châu Á diễn ra chủ yếu giữa các nước trong vùng. Xuất khẩu ngòai vùng sang châu Âu và Mỹ chỉ có Thái Lan (chủ yếu là phong lan) và Trung quốc (chủ yếu là hoa khô).
Lợi thế cạnh tranh
### Các nước hoặc khu vực xây dựng khả năng cạnh tranh của mình trên cơ sở hạ giá thành sản xuất, đầu tư chiều sâu, phát huy sức sáng tạo hoặc ưu thế cạnh tranh về địa lý và từ xuất phát điểm có sẵn. Những nước cạnh tranh trên cơ sở phát huy sức sáng tạo là những nước có khả năng cạnh tranh mạnh. Những nước này không phụ thuộc hòan tòan vào việc hạ giá thành hoặc đầu tư công nghệ của nước ngòai mà có đủ sức mạnh để tự sáng tạo về công nghệ và chiến lược kinh doanh. Sự sáng tạo này chính là sự phối hợp hài hòa giữa các yếu tố sản xuất, điều kiện kinh tế xã hội, nhu cầu thị trường nội địa và mạng lưới kinh doanh.###