Bỏ qua nội dung
📖 Trang viết

Về hay ở - Tập Thơ Nguyễn Khuyến.

  • adminA

    Vịnh tiến sĩ giấy - Nguyễn Khuyến

    **### Vịnh tiến sĩ giấy
    ****I

    Rõ chú hoa man (1) khéo vẽ trò,
    Bỡn ông mà lại dứ thằng cu.
    Mày râu mặt đó chừng bao tuổi,
    Giấy má nhà bay đáng mấy xu?
    Bán tiếng mua danh thây lũ trẻ,
    Bảng vàng bia đá vẫn nghìn thu.
    Hỏi ai muốn ước cho con cháu,
    Nghĩ lại đời xưa mấy kiếp tu.

    II

    Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai.
    Cũng gọi ông nghè có kém ai.
    Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, (2)
    Nét son điểm rõ mặt văn khôi. (3)
    Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
    Cái giá khoa danh thế mới hời! (4)
    Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ,
    Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!**

    1. Hoa man: người thợ làm nghề hàng mã.
    2. Giáp bảng: bảng đề tên từ học vị tiến sĩ trở lên.
    3. Văn khôi: đầu làng văn. ở đây chỉ người có đỗ đạt cao.
    4. Hời: giá rẻ.

    tác giả: ( Nguyễn Khuyến )

  • adminA

    Lời vợ anh phường chèo - Nguyễn Khuyến

    **### Lời vợ anh phường chèo
    **
    Xóm bên đông có phường chèo trọ,
    Đương nửa đêm gọi vợ chuyện trò:
    Rằng: "ta thường làm quan to,
    Sao người coi chẳng ra trò trống chi?"
    Vợ giận lắm mắng đi mắng lại:
    "Tuổi đã già sao dại như ri?
    Đêm hôm ai chẳng biết chi,
    Người ta biết đến thiếp thì hổ thay!
    ở đời có hai điều nên sợ:
    Sống chết người, quyền ở trong tay.
    Thế mà chàng đã chẳng hay.
    Còn ai sợ đến phường này nữa chăng?
    Vả chàng vẫn lăng nhăng túng kiết,
    Cuộc sinh nhai chèo hát qua thì,
    Vua chèo còn chẳng ra gì,
    Quan chèo vai nhọ (1) khác chi thằng hề".

    1. Vai nhọ: người đóng trò bôi mặt lem nhem.

    tác giả: ( Nguyễn Khuyến )

  • adminA

    Bồ tiên thi - Nguyễn Khuyến

    **### Bồ tiên thi (1)
    **Chú huyện Thanh Liêm khéo giở trò,
    "Bồ tiên thi" lại lấy vần bồ.
    Nghênh ngang võng lọng nhờ ông sứ,
    Ngọng nghẹo văn chương giở giọng ngô.
    Bồ chứa miệng dân chừng bật cạp,
    Tiên (2) là ý chú muốn vòi xu!
    Từ vàng sao chẳng luôn từ bạc,
    Không khéo mà roi nó phết cho.

    1. Bồ tiên: cái roi bằng cỏ bồ mà Lưu Khoan, một ông quan đời Hán nổi tiếng nhân từ, dùng để đánh tội nhân. Dựa vào điển này, tên tri huyện đã mở cuộc thi thơ và ra đầu đề là "bồ tiên thi" ngầm ý khoe mình là người biết thương dân.
    2. Tiên: "tiên" nghĩa là cái roi, đồng âm với chữ "tiên" nghĩa là đồng xu.
      tác giả ( Nguyễn Khuyến )
  • adminA

    Vịnh núi An Lão - Nguyễn Khuyến

    **### Vịnh núi An Lão
    **
    Mặt nước mênh mông nổi một hòn,
    Núi già nhưng tiếng vẫn còn non, (1)
    Mảnh cây thưa thớt đầu như trọc,
    Ghềnh đá long lanh ngấn chửa mòn.
    Một lá (2) về đâu xa thẳm thẳm,
    Nghìn nhà trông xuống bé con con.
    Dẫu già đã hẳn hơn ta chửa?
    Chống gậy lên cao gối chẳng chồn!

    1. Tác giả chơi chữ, tên núi là An Lão (lão: già) nhưng người ta thường nói "núi non".
    2. Lá: con thuyền.

    tác giả: ( Nguyễn Khuyến )

  • adminA

    Nhớ cảnh chùa Đọi - Nguyễn Khuyến

    **### Nhớ cảnh chùa Đọi **

    **Già yếu xa xôi bấy đến nay, **
    Làng chơi loáng thoáng lại buồn thay!
    Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá.
    Sư cụ nằm chung với khói mây
    Dặm thế ngõ đâu tầng trúc ấy,
    Thuyền ai khách đợi bến đâu đây?
    Chuông trưa vẳng tiếng người không biết,
    Trâu thả sườn non ngủ gốc cây.

    (Tác giả tự dịch bài "ức Long Đội Sơn")

    tác giả: ( Nguyễn Khuyến )

Chia sẻ
Đang online
Hết trang — Đà Lạt Hoa
Nhật ký cộng đồng · Powered by NodeBB