Bỏ qua nội dung
📖 Trang viết

Ký ức cây chè trên vùng Cầu Đất

  • adminA

    Khí hậu và thổ nhưỡng ở Cầu Đất rất thích hợp cho cây chè phát triển nên với độ cao trên 1.600m so với mực nước biển, nhiệt độ trung bình180C, nhờ vậy hàm lượng chất kết tinh trong cây chè ở đây rất cao, hương vị đậm đà hơn những vùng khác.

    CôngThương - Gần trọn một thế kỷ, cây chè trên vùng Xuân Trường - Cầu Đất như hiện sinh cho sức sống kỳ diệu của vùng đất này.

    Năm 1899, người Pháp khám phá ra vùng Cầu Đất, Di Linh, B’Lao (Bảo Lộc – Lâm Đồng) là những vùng đất màu mỡ, khí hậu ôn hòa… rất phù hợp cho cây chè và cây cà phê sinh trưởng, phát triển. Nhưng cũng phải đợi gần 8 năm sau, khi những ông chủ người Pháp lập nên Sở Trà Cầu Đất thì những cây chè giống Shan đầu tiên mới được gieo hạt và nảy mầm trên vùng đất này. Một thời gian sau đó, cây chè “di cư” xuống Di Linh và nhanh chóng phát triển ở vùng B’Lao. Để xây dựng Sở Trà Cầu Đất, trước đó nhiều năm người Pháp đã về vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên… chiêu mộ hàng trăm nông phu lên khai khẩn vùng đất này để lập nên đồn điền chè. Những lán trại ngày đầu không thể đáp ứng được nhu cầu của nông phu, nhất là khi nhiều người đã có gia đình nên việc thành lập làng trở nên bức thiết. Đi đầu trong việc lập làng thời bấy giờ có 11 vị tiên hiền, trong đó có thầy giáo Trần Mạnh Trung, người có uy tín trong vùng đã xây dựng nên làng Trường Xuân, đây là ngôi làng đầu tiên và có mặt sớm nhất ở Xuân Trường.

    Theo tài liệu còn lưu trữ tại Công ty Cổ phần chè Cầu Đất – Đà Lạt (Sở Trà Cầu Đất trước đây), năm 1927 - khi thành lập Sở Trà Cầu Đất, số lượng phu trà đã lên đến con số hơn 1.000 người. Một số cụ già trước đây làm phu ở Sở Trà cho biết: Hàng ngày phải làm việc từ sáng sớm đến tối mịt mới được nghỉ, nhưng cơm nước phải tự lo. Đầu ngày cai trà gõ kẻng điểm danh trước khi bắt đầu cho công việc của một ngày hái chè, sấy chè. Người nào nghỉ việc không lý do sẽ bị thông báo cho chủ các cửa hàng thực phẩm - người Pháp quản lý, sẽ không bán hàng cho gia đình có người nghỉ việc vô cớ vào ngày hôm đó, nên đời sống của phu chè rất cơ cực.

    Đến giai đoạn 1960-1975, trước khi người Pháp về nước đã sang lại Sở Trà cho các ông chủ người Hoa quản lý khai thác, nhưng do làm ăn thua lỗ nên những ông chủ này lần lượt bỏ đi và công nhân chỉ còn biết bám vào cây chè để mưu sinh. Đây cũng là thời điểm đời sống của người trồng chè bị rơi vào thế khốn cùng, nhưng mọi người cố bám trụ - rất hiếm người bỏ đi tìm vùng đất mới. Nhiều người mỗi lần sinh con, đẻ cháu đều khắc dấu lên cây chè để nhớ. Cây chè mang lại bát cơm, giúp tăng cường sức khỏe, giúp đề kháng bệnh tật và chè dùng cho phụ nữ uống khi sinh… Những cư dân ba bốn đời sống bằng nghề trồng chè ở đây thổ lộ: nghề trồng chè không giúp họ giàu lên, nhưng cũng nhờ có nó mà người dân Xuân Trường mới lo cho con cháu ăn học tới nơi tới chốn, có nhà cửa đàng hoàng... Bởi vậy, cả vùng Cầu Đất này bao đời qua từ chuyện sinh đến chuyện tử cũng đều có mối liên hệ mật thiết với cây chè.

  • adminA

    quê ngoại người yêu em ở Cầu Đất!

  • adminA

    Em là người Cầu Đất đây hehe 😄

Chia sẻ
Đang online
Hết trang — Đà Lạt Hoa
Nhật ký cộng đồng · Powered by NodeBB