Bỏ qua nội dung
📖 Trang viết

đáp án môn văn . tốt nghiệp thpt 2009

  • adminA

    thông báo thi xong .. em zai của các anh chị tử nạn mất tiu goỳ .. hiện đang kực kì chán nản :894::894::894:

    KỲ THI TỐT NGHIỆP PHỔ THÔNG TRUNG HỌC NĂM 2009

    Môn thi: Ngữ văn - Giáo dục trung học phổ thông

    Thời gian làm bài: 150 phút, không kể thời gian giao đề

    PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)

    Câu 1 (2 điểm): Trong truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn, khách ở quán trà nhà lão Hoa đã bàn về những chuyện gì? Hãy cho biết điều nhà văn muốn nói qua những chuyện ấy.

    Câu 2 (3 điểm): Anh/ chị hãy viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) phát biểu ý kiến về tác dụng của việc đọc sách.

    PHẦN RIÊNG (5 điểm)

    Thí sinh học chương trình nào thì chỉ được làm câu dành riêng cho chương trình đó (câu 3.a hoặc 3.b)

    Câu 3.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm): Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài (phần trích trong Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục - 2008).

    Câu 3.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm): Phân tích vẻ đẹp của hình tượng sông Hương trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường (phần trích trong Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập một, NXB Giáo dục - 2008).

    BÀI GIẢI GỢI Ý

    Câu 1:

    Bài làm cần có 3 ý chính sau:

    1. Giới thiệu vài nét về tác giả - tác phẩm:
    • Tác giả: Lỗ Tấn (1881-1836) là nhà văn lớn có nhiều đóng góp quan trọng cho nền văn học Trung Quốc nửa đầu thế kỷ XX.

    • Tác phẩm Thuốc là truyện ngắn tiêu biểu của Lỗ Tấn, đăng lần đầu tiên trên tạp chí Tân thanh niên số 5-1919, là bức tranh thu nhỏ về xã hội Trung Quốc tối tăm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Tác phẩm được đánh giá như một “tiếng thét để an ủi những người chiến sĩ” và để cảnh tỉnh tinh thần nhân dân, truyền cho họ ý chí nghị lực bước vào giai đoạn đấu tranh mới.

    1. Câu chuyện của những người khách trong quán trà nhà ông bà Hoa Thuyên:
    • Bàn về cái chết của người tử tù Hạ Du và cho rằng anh ta là kẻ “điên rồi”.

    • Bàn về việc ông Hoa Thuyên mua được chiếc bánh tẩm máu người tử tù.

    • Bàn về hiệu quả của liều thuốc được truyền tụng trong dân gian chữa bệnh lao bằng bánh bao chấm máu tươi của người.

    1. Điều nhà văn muốn nói qua những chuyện ấy:
    • Phê phán tuyệt đại bộ phận nhân dân Trung Hoa thời kỳ ấy ngu muội, lạc hậu, như đang “ngủ say trong một cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”; xã hội Trung Quốc là một “con bệnh trầm trọng” đòi hỏi một liều “thuốc” mới, cần phát quang một “con đường” mới.

    • Tỏ thái độ đau xót, tiếc thương cho người chiến sĩ chiến đấu hy sinh cho quần chúng mà quần chúng “ngu muội quá đỗi” không hiểu. Cùng với ý nghĩa trên, tác giả đưa ra tư tưởng chủ đề của tác phẩm: cần có liều “thuốc” mới chữa căn bệnh rời rã của quốc dân.

    Câu 2:

    Có thể tham khảo những luận điểm chính sau đây (không cần thiết tuân theo thứ tự):

    • Vai trò của sách trong thời đại thông tin nghe – nhìn: khẳng định các phương tiện thông tin nghe - nhìn đang phát triển ngày nay không thể thay thế được hoàn toàn cho việc đọc sách.

    • Tác dụng của việc đọc sách:

    • Cung cấp thông tin, tri thức mọi mặt.

    • Bồi dưỡng giáo dục, nâng cao khiếu thẩm mĩ, làm cho tâm hồn con người phong phú.

    • Giáo dục đạo đức, tình cảm, hoàn thiện bản thân và góp phần xây dựng đất nước.

    • Chú ý, cảnh giác với sách có nội dung độc hại.

    • Đọc sách là cái đích hướng đến của tất cả mọi người trong khát vọng chinh phục tri thức.

    Câu 3.a:

    I. Giới thiệu tác phẩm:

    Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ vừa là thành tựu tương đối hiếm hoi của văn xuôi kháng chiến, vừa ghi dấu sự trưởng thành của ngòi bút Tô Hoài trong sự chiếm lĩnh mảng đề tài miền núi, một đề tài tới nay vẫn còn nhiều mới lạ với bạn đọc. Truyện được tổ chức chặt chẽ, dẫn dắt rất dung dị, tự nhiên, không cần chạy theo những chi tiết li kì rùng rợn mà vẫn có sức hút mạnh mẽ. Có được điều đó chính là nhờ cái nhìn hiện thực sắc bén và chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc của nhà văn. Sự thể hiện cuộc đời hai nhân vật trung tâm từ bóng tối đau khổ, ô nhục vươn ra ánh sáng của tự do và nhân phẩm đã chứng minh rất rõ điều đó.

    II. Phân tích giá trị nhân đạo:

    • Cô Mỵ xinh đẹp, chăm làm nhưng nghèo khổ, có thể nói “khổ từ trong trứng”. Bố mẹ nghèo, cưới nhau không có tiền phải vay nợ nhà thống lý. Nợ chưa trả hết, người mẹ đã qua đời. Bố già yếu quá, món nợ truyền sang Mỵ, thống lý Pá Tra muốn Mỵ làm con dâu “gạt nợ”. Mà quan trên đã muốn, kẻ dưới làm sao thoát được! Pá Tra xảo quyệt, lợi dụng tục lệ của người Mèo, cho cướp Mỵ về. Thế là không có cưới hỏi, không cần tình yêu mà vẫn hoàn toàn hợp lẽ.

    • Tô Hoài đã lột trần bản chất bóc lột của giai cấp thống trị ở miền núi trước cách mạng, đại diện là gia đình thống lý Pá Tra. Cô Mỵ, tiếng là con dâu nhưng thực sự là một nô lệ, thứ nô lệ người ta không phải là mua mà lại được tha hồ bóc lột, hành hạ. Mỵ ở nhà chồng như ở giữa địa ngục. Không có tình thương, không sự chia sẻ vợ chồng; chỉ có những ông chủ độc ác, thô bạo và những nô lệ âm thầm, tăm tối. Dần dần rồi Mỵ cũng quên luôn mình là con người nữa. Suốt ngày “Mỵ lầm lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”, lúc nào cũng cúi mặt, thế giới của Mỵ thu hẹp trong một cái ô cửa sổ” mờ mờ trăng trắng, không biết là sương hay là nắng”. Kết quả của hoàn cảnh sống thật chua xót: “Ở lâu trong cái khổ Mỵ quen rồi”, cô nhẫn nhục, cam chịu đến thành tê liệt ý thức: “Là con trâu, con ngựa phải đổi từ cái tàu ngựa nhà này sang tàu ngựa nhà khác, con ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết làm mà thôi”.

    • Cô gái trẻ trung, yêu đời ngày nào thổi sáo hồi hộp chờ đợi người yêu, đã từng hái lá ngón định ăn để khỏi chịu nhục, giờ đây lại chai lì, u uất. Hoàn cảnh quyết định tính cách. Nguyên tắc biện chứng của chủ nghĩa hiện thực đã được nhà văn thể hiện khá sắc nét. Sự yếu đuối của kẻ nô lệ, sự vùi dập tàn bạo của bọn bốc lột tất sẽ dẫn đến cảnh ngộ bi đát ấy.

    • Nếu xem xét giá trị hiện thực của một tác phẩm như là sự phản ánh chân thật cuộc sống, thì Vợ chồng A Phủ quả là bản cáo trạng hùng hồn về nỗi thống khổ của người phụ nữ miền núi, vừa chịu gánh nặng của chế độ phong kiến, vừa bị trói chặt trong xiềng xích của thần quyền.

    • Nhà văn đã cung cấp cho người đọc những chi tiết có giá trị bóc trần bản chất xã hội vô nhân đạo, ở đó thân phận người dân nghèo mong manh bất ổn. Cảnh cô Mỵ lặng lẽ ngồi lơ lững trong những đêm đông buốt giá, thằng chồng thì đi chơi về khuya ngứa tay đánh Mị ngã dúi xuống đất. Lại còn có cái hình ảnh nhức nhối phũ phàng: người con gái bị trói đứng vào cột trong buồng tối, bị trói chỉ vì muốn đi chơi tết như bạn bè. Sự bất lực của Mỵ tràn theo dòng nước mắt chua chát trên má môi mà không có cách gì lau đi được.

    • Sự xuất hiện của nhân vật chính A Phủ tạo thêm tình huống để hoàn chỉnh bức tranh hiện thực. Cuộc đời nô lệ của A Phủ thật ra là sự lặp lại với ít nhiều biến thái chính cuộc đời Mỵ. Lý do mà thống lý Pá Tra buộc A Phủ phải thành người ở công không, không phải vì cuộc ấu đả thường tình của đám trai làng. Vấn đề là ở chỗ pháp luật trong tay ai? Khi kẻ phát đơn kiện cũng đồng thời là kẻ ngồi ghế quan toà thì còn nói gì tới công lý nữa! Vậy nên mới có cảnh xử kiện quái gỡ nhất trên đời mà chúng ta được chứng kiến tại nhà thống lý. Kết quả là người con trai khỏe mạnh phóng khoáng vì lẽ công bằng mà phải đem cuộc đời mình trả nợ nhà quan.

    • Tô Hoài trong khi đào sâu vào hiện thực đã phát hiện ra con đường tất yếu mà các nhân vật của ông đi tới. Sự đè nén quá nặng nề, những đau khổ chồng chất mà bọn thống trị gây ra tất sẽ dồn những kẻ khốn cùng ấy tới sự chống trả và nếu gặp được ánh sáng soi đường, họ sẽ đến được thắng lợi. Lấy việc miêu tả tâm lí làm điểm tựa, Tô Hoài đã tìm ra được sự phát triển logic của tính cách. Đây thật sự là một giá trị nhân đạo độc đáo của tác phẩm, và là chỗ có sức thuyết phục mạnh mẽ nhất.

    • Có ngọn lửa nào đang được khơi lên bằng hơi men. Chỉ biết rằng cô gái đã quyết thay váy áo đi chơi, điều mà bao năm rồi cô không nhớ đến. Có thể coi đây là một bước đột biến tâm lý nhưng là kết quả hợp lý toàn bộ quá trình tác động qua lại giữa hoàn cảnh với tính cách nhân vật. Sự “vượt rào” của Mỵ tuy bị đàn áp ngay (A Sử đã tắt đèn, trói đứng cô vào cột); nhưng ý thức về quyền sống, khát vọng về hạnh phúc đã trở lại. Mị lại biết khóc, lại muốn tự tử. Và những giọt nước mắt trong cái ngày tàn nhẫn này sẽ lưu giữ trong lòng Mỵ như một vết bỏng rát để đến khi bắt gặp những dòng nước mắt chảy “lấp lánh” trên gò má hốc hác của A Phủ, nó đã biến thành sự đồng cảm sâu sắc giữa những người cùng khổ. Toàn bộ ý thức phản kháng của Mị hiện hình qua một câu hỏi sáng rõ: “người kia việc gì phải chết?” Mỵ quyết định trong khoảnh khắc: cắt dây trói giải thoát cho A Phủ. Và tất nhiên, Mỵ cũng bỏ trốn, tự giải thoát chính mình. Hai kẻ trốn chạy chịu ơn nhau, cảm thông nhau, dựa vào nhau để tạo lập hạnh phúc. Thế nhưng cái đồn Tây lù lù xuất hiện và lại có cha con thống lý Pá Tra về ở trong đồn, thì họ thật sự bị dồn đến chân tường. Trước mặt họ, chỉ còn sự lựa chọn cuối cùng: trở lại kiếp nô lệ hay chống kẻ thù. Chắc chắn họ thà chết còn hơn lại sống như cũ. Nhưng muốn chống kẻ thù, họ trông cậy vào ai? Cách mạng đã đến với họ đúng giây phút ấy. Mỵ và A Phủ đi theo cách mạng, sẽ thuỷ chung với cách mạng như một lẽ tất yếu! Đó là tấm lòng nhân đạo mới mẻ của Tô Hoài nhờ có ánh sáng của cách mạng.

    • Bằng sự am hiểu cuộc sống và khả năng phân tích những vấn đề sắc bén, nhất là bằng ngòi bút miêu tả tâm lý tinh tế, Tô Hoài đã tái hiện chân thật và sinh động cuộc hành trình từ đau khổ, tối tăm ra phía ánh sáng cách mạng của những người dân lao động với chế độ cũ. Tác phẩm đem lại cho bạn đọc nhận thức đúng đắn về con đường cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta.

    • Giá trị hiện thực của Vợ chồng A Phủ đã để lộ cái nhìn nhân đạo, ưu ái của Tô Hoài. Khi cô đúc nỗi cùng khốn vào hai thân phận nô lệ với ý thức làm một bản cáo trạng về xã hội cũ, Tô Hoài đã gợi lên trong chúng ta sự căm phẫn, sự đau xót. Đó cũng là tấm lòng nhân đạo của nhà văn trước sự bất hạnh của đồng loại.

    • Tính chân thật, chính xác, logic ở những đoạn mô tả tâm lí, nhưng rõ ràng phải biết thông cảm, biết trân trọng nâng niu con người lắm, mới có thể xét đoán tâm hồn người ta tinh tế như vậy. Đó là con người biết yêu quý tự do, biết khẳng định quyền sống. Ngay cả lúc bị hoàn cảnh vùi dập đến mê mụ, trong tro tàn của lòng cô vẫn âm ỉ đốm than hồng của niềm ham sống, khao khát thương yêu. Nếu nhà văn chỉ tuân theo một thứ hiện thực khách quan, lạnh lùng thì làm sao ông có thể đón đợi và nắm bắt tài tình giây phút sống lại bất ngờ và mãnh liệt đến thế của cô gái. Ông vẫn tin rằng hoàn cảnh dẫu có khắc nghệt đến mấy, cũng không thể tiêu diệt hoàn tòan nhân tính. Mị đã sống lại bằng tuổi trẻ, bằng nỗi day dứt về thân phận của mình. Chính cái khát vọng sống mãnh liệt không thể chết được ở Mị, làm cho Mị đồng cảm với cảnh ngộ của A Phủ và đi đến quyết định giải thoát cho A Phủ, giúp Mị tự giải thoát khỏi cái chốn địa ngục để làm lại cuộc đời, để sống như một con người. Thể hiện một niềm tin mạnh mẽ vào con người, đó là tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn.

    III. Tô Hoài đã trân trọng từng bước trưởng thành của Mỵ và A Phủ. Cái nhìn của ông về hai nhân vật này là một cái nhìn nhân đạo tích cực. Ông cảm thông nỗi đau của Mỵ và A Phủ, mặt khác ông trân trọng ý thức nhân phẩm, khát vọng giải phóng và tin ở khả năng tự làm chủ trước cuộc đời của hai con người đau khổ này. Phải chăng, chính cái nhìn đó đã tạo nên giá trị nhân văn của tác phẩm.

    Câu 3.b:

    I. Giới thiệu: Tác giả, tác phẩm, vẻ đẹp hình tượng dòng sông qua bút pháp tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

    II. Nội dung chính: (thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng phải đảm bảo những ý chính sau đây):

    Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp sông hương ở nhiều góc độ: từ thượng nguồn tới khi qua kinh thành Huế; từ tự nhiên, lịch sử văn hóa, nghệ thuật.

    1. Vẻ đẹp sông Hương ở thương nguồn:
    • Ở đấy ta gặp một dòng sông đẹp, mạnh mẽ được ví như “cô gái Digan phóng khoáng và man dại”, sông như bản trường ca; sông như cơn lốc, sông như cô gái Di gan và nâng lên thành vẻ đẹp cao cả: “người mẹ phù sa”.

    • Tác giả tăng vẻ đẹp cho dòng sông bằng nghệ thuật nhân hóa.

    1. Vẻ đẹp sông Hương trước khi về kinh thành Huế:
    • Hương giang như “người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại”.

    • Dòng sông mềm như tấm lụa (hình dáng).

    • Sớm xanh, trưa vàng, chiều tím (màu sắc).

    • Trôi chậm như mặt hồ yên tĩnh (dòng chảy).

    Tất cả đều đó tạo nên một vẻ đẹp trầm mặc, như triết lí như cổ thi.

    Khi dòng sông chảy vào thành phố, tác giả đã có những phát hiện độc đáo về sông Hương.

    1. Vẻ đẹp sông Hương chảy về đồng bằng và ngoại vị thành phố:

    Nó mang vẻ đẹp như chiều sâu hồn người. Như xa lâu ngày gặp lại cố nhân kinh thành thân yêu nên sông Hương “vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của cùng ngoại ô Kim Long”.

    • Cảm xúc như trào dâng, dòng sông chợt mềm hẳn đi, say đắm lạ thường “như tiếng vâng không nói ra của tình yêu”.

    • Dòng sông như lưu luyến lúc rời xa kinh thành, Nó tựa như một “nỗi vấn vương” và cả “một chút lẳng lơ kín đao của tình yêu”.

    Lối so sánh tài tình và nhân cách hoá độc đáo làm người đọc ngây ngất và tâm hồn thăng hoa theo dòng sông đa tình như một khách hào hoa phong nhã .

    1. Vẻ đẹp khác của sông Hương:
    • Dòng chảy lịch sử.

    • Dòng chảy của văn hóa và thi ca.

    • Dòng sông đi vào đời thường “nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một cô gái dịu dàng của đất nước”.

    III. Kết luận:

    • Sông Hương được cảm nhận với nhiều góc độ, bằng bút pháp tài hoa và văn phong mềm mại, tạo nên đường nét thật tinh tế làm nên vẻ đẹp cổ kính của kinh thành.

    • Đó là những phát hiện thú vị của tác giả, giúp chúng ta thêm tự hào và yêu đất nước.

  • adminA

    post lên chi cho đau lòng zị????

  • adminA

    oh my god ... sinh làm sai tới 10 câu ... hức .. pùn sợ .. văn thì làm hum dc .. chả biết sao .. cái câu 2 .. đúng dc 2 ý , mà không kịp thời gian phân tích .. viết chử như mèo cào ... kỉ lục làm câu 3 trong 30 phút .. thấy kinh không ,, học bài rồi mà không biết chổ nào là giá trị nhân đạo để phân tích .. còn viết nhầm dân tộc mèo ra dân tộc hmông nữa ...chết chắc rồi ...
    tại sao đề thi lại ra vào 2 cái đề mình cực kì căm ghét ,.,, kinh dị ...

  • adminA

    unknown;13811:
    oh my god ... sinh làm sai tới 10 câu ... hức .. pùn sợ .. văn thì làm hum dc .. chả biết sao .. cái câu 2 .. đúng dc 2 ý , mà không kịp thời gian phân tích .. viết chử như mèo cào ... kỉ lục làm câu 3 trong 30 phút .. thấy kinh không ,, học bài rồi mà không biết chổ nào là giá trị nhân đạo để phân tích .. còn viết nhầm dân tộc mèo ra dân tộc hmông nữa ...chết chắc rồi ...
    tại sao đề thi lại ra vào 2 cái đề mình cực kì căm ghét ,.,, kinh dị ...

    sinh sai 10 câu là đc 7.5 đ rồi còn gì....

  • adminA

    I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ CÁC THÍ SINH (8,0 điểm)

    Câu I (3,0 điểm)

       1. Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy trình bày những đặc điểm chính của địa hình vùng núi Tây Bắc. Những đặc điểm đó ảnh hưởng đến sự phân hóa khí hậu vùng này như thế nào?
    
       2. Cho bảng số liệu :
    

    Diện tích và dân số một số vùng nước ta năm 2006

    Vùng

    Đồng bằng sông Hồng

    Tây Nguyên

    Đông Nam Bộ

    Dân số (nghìn người)

    18208

    4869

    12068

    Diện tích (km2)

    14863

    54660

    23608

       a) Hãy tính mật độ dân số của từng vùng theo bảng số liệu trên.
    
       b) Tại sao Tây Nguyên có mật độ dân số thấp?
    

    Câu II (2,0 điểm)

       Cho bảng số liệu
    

    Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp nước ta phân theo nhóm ngành (đơn vị : %)

    Nhóm ngành

    Năm

    Chế biến

    Khai thác

    Sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước

    Tổng

    2000

    79,0

    13,7

    7,3

    100,0

    2005

    84,8

    9,2

    6,0

    100,0

       1. Vẽ biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp nước ta theo bảng số liệu trên.
    
       2. Dựa vào bảng số liệu, hãy nhận xét sự thay đổi cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp nước ta năm 2005 so với năm 2000.
    

    Câu III (3,0 điểm)

       1. Phân tích những thuận lợi, khó khăn về tài nguyên thiên nhiên đối với việc phát triển nông nghiệp của Trung du và miền núi Bắc Bộ.
    
       2. Trình bày thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở Đồng bằng sông Hồng.
    

    II. PHẦN RIÊNG (2,0 điểm)

       Thí sinh học chương trình nào thì chỉ được làm câu dành riêng cho chương trình đó
    

    (câu IV.a hoặc câu IV.b)

    Câu IV.a. Theo chương trình Chuẩn (2,0 điểm)

       Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy:
    
       1. Kể tên các vùng nông nghiệp có cà phê là sản phẩm chuyên môn hóa của vùng.
    
       2. Giải thích tại sao cây cà phê lại được trồng nhiều ở các vùng đó.
    

    Câu IV.b. Theo chương trình Nâng cao (2,0 điểm)

       1. Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam, hãy kể tên các trung tâm công nghiệp nhỏ ở Đồng bằng sông Cửu Long.
    
       2. Tóm tắt tình hình tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) của nước ta từ năm 1990 đến nay.
    

    BÀI GIẢI GỢI Ý

    I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ CÁC THÍ SINH (8,0 điểm)

    Câu I.

       1.a) Những đặc điểm chính của địa hình vùng núi Tây Bắc :
    

    Vùng núi Tây Bắc nằm giữa sông Hồng và sông Cả, có địa hình cao nhất nước ta với 3 dãy núi lớn theo hướng tây bắc – đông nam.

            + Phía đông là dãy núi cao đồ sộ Hoàng Liên Sơn giới hạn từ biên giới Việt -  Trung tới khuỷu sông Đà, có đỉnh Phanxipăng (3.143 m);
    
    • Phía tây là địa hình núi trung bình của dãy sông Mã chạy dọc biên giới Việt Lào từ Khoan La San đến sông Cả.

    • Ở giữa thấp hơn là dãy núi xen các sơn nguyên và cao nguyên đá vôi từ Phong Thổ đến Mộc Châu tiếp nối những đồi núi đá vôi ở Ninh Bình – Thanh Hóa. Kẹp giữa các dãy núi là các thung lũng sông cùng hướng : sông Đà, sông Mã, sông Chu.

       b) Những đặc điểm trên ảnh hưởng tới sự phân hóa khí hậu của vùng :
      
       Đây là vùng cao nhất nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có mùa đông lạnh, biên độ nhiệt lớn, khí hậu phân hóa theo độ cao:
      
            - Độ cao dưới 700m : Nhiệt độ cao trên 250C, độ ẩm từ khô hạn đến ẩm ướt.
      
            - Độ cao từ 700m đến 2600m : khí hậu mát mẻ, nhiệt độ dưới 250C mưa nhiều, độ ẩm tăng.
      
            - Cao trên 2600m (chỉ có ở dãy Hoàng Liên Sơn) nhiệt độ dưới 150C, mùa đông dưới 50C.
      
      2.a) Mật độ dân số của từng vùng :
      

    Vuøng

    Ñoàng baèng soâng Hoàng

    Taây Nguyeân

    Ñoâng Nam Boä

    Mật độ dân số (người/km2)

    1225

    89

    511

       b) Tây Nguyên có mật độ dân số thấp vì :
    
       - Đây là vùng có diện tích lớn 54660km2, dân số chỉ có 4869 nghìn người nên mật độ dân số thấp (89 người/km2) năm 2006.
    
       - Giải thích :
    
            + Đây là vùng núi và cao nguyên rộng lớn, rừng còn nhiều, địa hình khá hiểm trở chưa được khai thác nhiều.
    
            + Là nơi cư trú của phần lớn các dân tộc ít người.
    
            + Cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng còn kém phát triển.
    

    Câu II.

       1. Vẽ biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp :
    

    Biểu đồ thể hiện cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp nước ta phân theo nhóm ngành

    1. Nhận xét :
    •      Nhìn chung cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp nước ta phân theo các nhóm ngành không cân đối và có sự thay đổi qua hai năm 2000 và 2005.
      
    •      Chiếm tỉ trọng cao nhất là ngành công nghiệp chế biến (79% và 84,8%), kế đó là công nghiệp khai thác (13,7% và 9,2%) và thấp nhất là công nghiệp sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước (7,3% và 6,0%).
      
    •      Từ năm 2000 đến năm 2005 :
      
                        + Tỉ trọng công nghiệp chế biến tăng 5,8%.
      
                        + Tỉ trọng công nghiệp khai thác giảm 4,5%.
      
                        + Tỉ trọng công nghiệp sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước giảm 1,3%.
      

    Câu III:

       1.  Thuận lợi và khó khăn về tài nguyên thiên nhiên đối với việc phát triển nông nghiệp của Trung du và miền núi Bắc Bộ :
    
       - Thuận lợi :
    
            + Đất feralit trên đá phiến, đá vôi và các đá mẹ khác; đất phù sa cổ (ở trung du), đất phù sa ở dọc thung lũng các sông và các cánh đồng ở miền núi.
    
            + Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có mùa đông lạnh, chịu ảnh hưởng sâu sắc của điều kiện địa hình vùng núi nên có thế mạnh đặc biệt để phát triển các cây công nghiệp có nguồn gốc cận nhiệt và ôn đới.
    

    · Cây công nghiệp cận nhiệt đới tiêu biểu là cây chè, đây là vùng chè lớn nhất cả nước

    · Ở các vùng núi giáp biên giới của Cao Bằng và Lạng Sơn, vùng núi cao Hoàng Liên Sơn điều kiện khí hậu thuận lợi cho việc trồng các cây thuốc quý (tam thất, đương quy, đỗ trọng…), các cây ăn quả như mận, đào, lê.

    · Ở Sa Pa có thể trồng rau ôn đới và sản xuất hạt giống rau quanh năm, trồng hoa xuất khẩu.

            + Một số đồng cỏ phát triển chăn nuôi gia súc lớn
    
            + Có tỉnh Quảng Ninh giáp biển thuận lợi cho việc đánh bắt và nuôi trồng thủy sản.
    
       - Khó khăn :
    
            + Hiện tượng rét đậm, rét hại, sương muối và tình trạng thiếu nước về mùa đông.
    
            + Địa hình của vùng hiểm trở.
    
       2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở Đồng bằng sông Hồng:
    
    • Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế có vai trò quan trọng ở Đồng bằng sông Hồng. Xu hướng chung là tiếp tục giảm tỉ trọng của khu vực I (nông – lâm – ngư nghiệp), tăng nhanh tỉ trọng của khu vực II (công nghiệp – xây dựng) và khu vực III (dịch vụ) trên cơ sở đảm bảo tăng trưởng kinh tế với tốc độ nhanh, hiệu quả cao gắn với việc giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường. Cho đến năm 2010, tỉ trọng của các khu vực tương ứng sẽ là 20% , 34% và 46%.

            -Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ từng ngành có sự khác nhau, nhưng trọng tâm là phát triển và hiện đại hóa công nghiệp chế biến, các ngành công nghiệp khác và dịch vụ gắn với yêu cầu phát triển nền nông nghiệp hàng hóa.
      
                        *Đối với khu vực I, giảm tỉ trọng của ngành trồng trọt, tăng tỉ trọng của ngành chăn nuôi và thủy sản. Riêng trong ngành trồng trọt lại giảm tỉ trọng của cây lương thực và tăng dần tỉ trọng của cây công nghiệp, cây thực phẩm, cây ăn quả.
      
                        *Đối với khu vực II, quá trình chuyển dịch gắn với việc hình thành các ngành công nghiệp trọng điểm để sử dụng hiệu quả các thế mạnh của tự nhiên và con người của vùng. Đó là các ngành chế biến lương thực – thực phẩm, ngành dệt may và da giày, ngành sản xuất vật liệu xây dựng, ngành cơ khí – kỹ thuật điện – điện tử.
      
                        *Đối với khu vực III, du lịch là một ngành tiềm năng. Đồng bằng sông Hồng có nhiều thế mạnh về du lịch, đặc biệt ở Hà Nội và vùng phụ cận cũng như ở Hải Phòng. Trong tương lai, du lịch sẽ có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế của vùng. Các dịch vụ khác như tài chính, ngân hàng, giáo dục – đào tạo … cũng phát triển mạnh nhằm đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
      

    II. PHẦN RIÊNG (2,0 điểm)

       Thí sinh học chương trình nào thì chỉ được làm câu dành riêng cho chương trình đó
    

    (câu IV.a hoặc câu IV.b)

    Câu IV.a. Theo chương trình Chuẩn

       1. Các vùng nông nghiệp có cà phê là sản phẩm chuyên môn hóa của vùng :
    
    • Tây Nguyên : là vùng chuyên canh cà phê lớn nhất nước ta (các tỉnh trồng nhiều : Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng, Kon Tum, Đắk Nông).

       - Đông Nam Bộ : vùng chuyên canh cây cà phê lớn thứ 2 sau Tây Nguyên (các tỉnh trồng nhiều: Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai).
      
       2. Giải thích :
      
       - Có đất đỏ badan
      
       - Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, cận xích đạo
      
       Phù hợp với sinh thái cây cà phê.
      

    Câu IV.b. Theo chương trình Nâng cao

    1. Các trung tâm công nghiệp nhỏ ở Đồng bằng Sông Cửu Long : Tân An, Mỹ Tho, Long Xuyên, Hà Tiên, Rạch Giá, Sóc Trăng, Cà Mau.

      - Tân An : ngành công nghiệp chế biến nông sản, sản xuất vật liệu xây dựng, dệt may
      
      - Mỹ Tho : ngành công nghiệp chế biến nông sản, hóa chất phân bón, điện tử
      
      - Long Xuyên : ngành công nghiệp cơ khí, chế biến nông sản, dệt may
      
      - Hà Tiên : ngành công nghiệp cơ khí, sản xuất vật liệu xây dựng
      
      - Rạch Giá : ngành công nghiệp cơ khí, chế biến nông sản
      
      - Sóc Trăng : ngành công nghiệp cơ khí, chế biến nông sản
      
      - Cà Mau: ngành công nghiệp cơ khí, chế biến nông sản
      
      2. Tình hình tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) của nước ta từ năm 1990 đến nay:
      
      - Từ năm 1990 đến năm 2005, GDP của nước ta tăng liên tục qua các năm, với tốc độ tăng trưởng bình quân hơn 7,2% /năm.
      
      - Năm 2005, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam là 8,4% đứng đầu khu vực Đông Nam Á.
      
      - Cuối thế kỉ XX, Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng tương đối cao trong bối cảnh nhiều nước trong khu vực xảy ra khủng hoảng tài chính trầm trọng.
      
      - Nông nghiệp: đạt thành tựu lớn nhất. Việt Nam đã đảm bảo được an toàn lương thực và trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.
      
      - Công nghiệp: phát triển ổn định, tốc độ tăng trưởng cao, từ năm 1991 đến 2005 tốc độ tăng trưởng trung bình 14%/năm.
      
      Sản phẩm công nghiệp tăng về số lượng, chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm được nâng lên.
      
      * Những hạn chế :
      
      - Nền kinh tế nước ta chủ yếu vẫn tăng trưởng theo chiều rộng, tăng về số lượng, chậm chuyển biến về chất lượng, chưa đảm bảo sự phát triển bền vững.
      
           - Hiệu quả kinh tế còn thấp, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu
      
Chia sẻ
Đang online
Hết trang — Đà Lạt Hoa
Nhật ký cộng đồng · Powered by NodeBB