Bỏ qua nội dung
Đà Lạt Hoa Sân ga ký ức · 2006
  • Nhà ga
  • Các sân ga
  • Vừa đến ga
  • Hành khách
Trình vé
Số hành khách HK-2008-0086

chequangtho

@chequangtho
Bỏ theo dõi Theo dấu
Thông tin
Bài Viết
199
Chủ Đề
57
Chia sẻ
0
Nhóm
0
Người theo dõi
0
Đang theo dõi
0

Sổ hành trình — lời nhắn

Gần đây Tốt Tranh cãi

  • Những loài hoa quý, hiếm ở Đà Lạt
    chequangtho

    Du lịch

    Hoa và nghề trồng hoa ở Đà Lạt
    Những loài hoa quý, hiếm ở Đà Lạt

    Đà Lạt hiện có khá nhiều loài hoa quý và hiếm.

    • Hoa Phượng tím: là một loài hoa thân gỗ, lá kép hai lần, tương tự như hoa phượng đỏ, khác chăng chỉ ở màu tím của hoa. Có lẽ vì thế mà mọi người đặt cho nó cái tên dân giã: Phượng tím. Cây hoa Phượng tím có tên khoa học là Jacaranda Acutifolia thuộc họ Bignoniaceae, nó còn có tên khác là J.mimosifolia, hay J.ovalifolia.

    Phượng tím.
    Phượng tím.
    Hoa Phượng tím có nguồn gốc từ Brasil (có tài liệu cho là ở Bôlôvia), được trồng nhiều ở các nước thuộc Nam Mỹ, châu Phi để làm cây bóng mát ven đường hay trong các công viên.

    Tùy theo môi trường sống, Phượng tím có thể cao từ 3 đến 10 mét, đường kính tán lá thường giao động từ 3 đến 7 mét. Mỗi cành lá dài từ 40 đến 50 cm, có long tơ và mọc thành từng chùm. Thời gian từ khi hoa ươm nụ đến khi tàn rụng thường kéo dài từ 3 đến 5 ngày. Các chùm hoa ở đầu cành lại tiếp tục nở ra một đợt hoa mới. Vì vậy, mà Phượng tím có hoa nở thường xuyên trong vòng 4 đến 5 tháng.

    Trước đây, do điều kiện để nhân giống loài hoa này còn nhiều khó khăn, cho nên, cả Đà Lạt chỉ còn tồn tại vài ba cây. Trong đó, cây phượng tím ở đường Nguyễn Thị Minh Khai có lẽ là một trong những cây hoa Phượng tím cổ thụ hiếm hoi tồn tại đến bây giờ. Hoa nở rất đẹp, đến mức đã được nhà văn Nguyễn Quang Sáng lấy làm tựa đề cho một kịch bản phim của mình về phong trào đấu tranh chống Mỹ - ngụy của học sinh, sinh viên Đà Lạt (1).

    Ngày nay, nhờ tiến bộ của khoa học, phượng tím đã trở thành một loài hoa được trồng khá phổ biến ở Đà Lạt. Tuy nhiên, cây phượng tím ở đường Nguyễn Thị Minh Khai vẫn là một cây có hình dáng đẹp nhất ở thành phố hoa này.

    • Hoa Chuông vàng: Hoa Chuông vàng, có tên khoa học là Spathodea Campanulata Bean. Hoa có nguồn gốc từ châu Phi. Chuông vàng là một loài hoa thân gỗ, cao lớn, lá xanh, gần giống lá muồng. Hoa có màu vàng pha cam, hình dáng tựa những quả chuông, nở thành chùm, mỗi chùm có từ 40 đến 50 bông. Hoa Chuông vàng nở suốt 4 mùa, những chùm hoa Chuông vàng rực rỡ treo trên nền xanh, trông rất hấp dẫn.

    Hiện nay, ở Đà Lạt chỉ duy nhất một cây Chuông vàng được trồng ở chùa Quán Thế Âm, phía bắc Hồ Xuân Hương. Cây hoa quý và hiếm này cùng với cây hoa phượng tím đã trình bày ở trên, đều do người kỹ già Lương Văn Sáu đem về từ nước ngoài, sau khi ông tốt nghiệp khoa Canh nông thuộc trường Đại học danh tiếng Vesailles (Pháp).

    Hoa Đậu tía: Cây Đậu tía có tên khoa học là Wistaria, một số nước thường gọi là Shycine, có 2 màu: xanh lơ (Bleu) và trắng (Blanc). Hoa Đậu tía, có nguồn gốc từ Đài Loan, là một loài hoa vừa đẹp nhưng lại cũng vừa có hương thơm ngát. Khi còn sống, bác Lương Văn Sáu đã có lần thổ lộ: “Tôi lấy giống hoa này từ Đài Loan về trồng ở công viên hoa vào năm 1963, không biết nó còn tồn tại ở đó nữa không?” Ngoài ra, người kỹ sư già Lương Văn Sáu còn cho biết là ở Đà Lạt còn có một cây hoa thân gỗ quý hiếm nữa và nó cũng chỉ còn có một cây duy nhất, được trồng ở cổng Khách sạn Palace, phía đường Trần Phú.

    Đó là cây hoa Vông Kê (tên hoa do bác Sáu đặt). Hoa Vông Kê có nguồn gốc từ Trung Đông, tên khoa học là Erythrina cri stagalli (thuộc họ Châu Vông). Hoa Vông Kê thường nở vào cuối đông đầu xuân, từng chuỗi hoa dài khoảng 5cm, màu đỏ. Cây hoa Vông Kê ở Khách sạn Palace được trồng vào năm 1965. Hiện tại, cây hoa quý hiếm này mọc giữa những cây thông cao lớn, thân và cành của nó xù xì, tựa như những cây cổ thụ khác, và do từ rất nhiều năm nay, hầu như nó không được ai chăm sóc gì, cho nên thay vì sẽ cho rất nhiều những chuỗi hoa dài, màu đỏ hồng, thì nay nó chỉ cho lèo tèo đôi ba cụm hoa…

    Sinh thời, người kỹ sư già Lương Văn Sáu vẫn có một ước nguyện là phải tìm mọi cách để nhân giống và bảo tồn nguồn gen quý hóa này, để trồng đồng loạt trên từng đường phố của Đà Lạt, và cho đến tận bây giờ, dù bác Sáu đã ra đi từ hơn 10 năm nay, nhưng nỗi mong ước đó của bác vẫn chưa được trở thành hiện thực ở chính ngay trên mảnh đất mà người kỹ sư già này đã góp một phần không nhỏ để tạo nên sự hấp dẫn của muôn sắc hoa Đà Lạt.

    Rất cần có một nhà bảo tàng về hoa Đà Lạt.

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, vốn là một đức tính đã trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Để có được một thành phố Đà Lạt xinh đẹp như hôm nay, chúng ta mãi mãi không bao giờ quên người đã có công lớn phát hiện ra thành phố xinh đẹp này. Một đường phố mang tên ông, và ngay trên con đường đó, một tượng đài của ông do nhà điêu khắc nổi tiếng Phạm Văn Hạng tạc từ khối đá hoa cương do Thủ tướng Võ Văn Kiệt tặng đã được dựng trang trọng ở ngay vị trí trung tâm của công viên, chính là một sự nghi nhận công lao của nhà bác học đã suốt đời gắn bó với Việt Nam: A. Yesin.

    Nhưng để tạo ra một thành phố xinh đẹp với muôn loài hoa bốn mùa khoe sắc như hôm nay, chúng ta không thể không nhớ đến biết bao người nông dân đã cần cù, vượt qua muôn vàn khổ cực của những ngày đầu đem giống hoa từ miền Bắc vào lập nghiệp ở vùng đất này. Đó là các gia đình họ Ngô, cùng rất nhiều bà con ở ấp Hà Đông, và sau này là bà con nông dân ở ấp Thái Phiên. Theo thời gian, vườn hoa thành phố được thành lập, như là một đòi hỏi tất yếu của cuộc sống. Và một trong vài ba người đầu tiên thiết lập nên công viên hoa, một điểm tham quan kỳ thú và hấp dẫn của Đà Lạt hôm nay, chính là người kỹ sư già Lương Văn Sáu với nhiều giống hoa lạ và quý được ông mang về từ năm 1958, sau khi tốt nghiệp Trường Canh nông Versailles (Pháp) mà chúng tôi đã trình bày vắn tắt ở trên.

    Tuy nhiên, việc vườn hoa thành phố Đà Lạt được thành lập từ bao giờ, hiện vẫn chưa có được một kết luận thỏa đáng. Nhiều tài liệu cho rằng, nó được thành lập từ năm 1966, nhưng trong Địa chí Đà Lạt thì lại cho rằng vườn hoa Đà Lạt được thành lập vào năm 1973. Như vậy, ở đây có 2 sự kiện liên quan đến hoa của Đà Lạt. Đó là Hoa và nghề trồng hoa ở Đà Lạt có từ bao giờ? Và thời điểm nào vườn hoa Đà Lạt được thành lập? Đáng tiếc là với một công trình được biên soạn khá công phu như Địa chí Đà Lạt lại đều chưa có được câu trả lời thuyết phục về 2 nội dung trên. Vì vậy, theo chúng tôi, với một thành phố duy nhất trong cả nước được trao danh hiệu là Thành phố Festival hoa như Đà Lạt thì rất cần được lý giải một cách chính xác 2 sự kiện trên đây.

    Mặt khác, nên chăng, thành phố cần xúc tiến việc thành lập một Bảo tàng hoa Đà Lạt để lưu lại chặng đường hình thành và phát triển về Hoa và nghề trồng hoa ở Đà Lạt, một trong những loại hình đã góp phần tạo nên nét riêng, đặc sắc cho thành phố Cao nguyên này. Và trong đó, không thể không đề cập đến công lao của những người đi trước như các gia đình họ Ngô, bác kỹ sư Lương Văn Sáu, bác Mười Lời và rất nhiều, rất nhiều những người Đà Lạt khác đã dày công, không quản biết bao khó khăn, cực khổ để cho sắc hoa của ngàn hoa Đà Lạt ngày càng rực rỡ hơn, phong phú hơn và cũng kinh tế hơn.

    Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin nêu lại một ý tưởng của người kỹ sư Lương Văn Sáu mà khi còn sống bác đã có lần thổ lộ: Mong ước một ngày không xa, trên các đường phố của Đà Lạt sẽ được trồng các loại hoa Phượng tím, Đậu tía, Chông vàng hay Vông kê. Bởi đó là những loài hoa thân gỗ, không những cho bóng mát mà còn dâng cho đời những sắc màu rất đẹp. Bạn thử hình dung xem, nếu một ngày nào đó, trên các đường phố của Đà Lạt sẽ rực rỡ sắc đỏ của hàng cây Đậu tía và Vông kê, bên sắc vàng cam của hàng cây Chuông vàng và màu tím thủy chung của hoa Phượng tím… thì quả thật là sự quyến rũ của thành phố ngàn hoa này sẽ tăng lên bội phần. Và chúng tôi, những thế hệ con cháu của “cây hoa già khổng lồ” kia vẫn chỉ biết hy vọng và hy vọng…

    Một nhà Bảo tàng về hoa và những con đường mang tên các loài hoa ở Đà Lạt, phải chăng, đó cũng chính là một nét độc đáo, rất đáng yêu đối với Đà Lạt, thành phố ngàn hoa, thành phố Festival hoa của Tổ Quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
    Hoàng Kim Ngọc

    Rau hoa Đà Lạt

  • Di tích Cát Tiên với nghệ thuật tôn giáo người xưa
    chequangtho

    Di tích Cát Tiên với nghệ thuật tôn giáo người xưa

    (LĐ online) - Trở lại Cát Tiên sau hơn mười năm rong ruổi, điều ngạc nhiên và thích thú nhất đối với tôi có lẽ là con đường liên tỉnh đã được hoàn thành. Những chuyến xe nối liền mọi miền Tổ quốc, những giọng hò phương ngữ nằng nặng chất quê, tiếng nhạc xập xình thời hội nhập đã đi vào thôn vắng, hàng cây bằng lăng trải hoa tim tím đây đó cũng mang lại nhiều cảm giác suy tư…

    một phần khu di tích Cát Tiên.
    Toàn cảnh gò 2,3 di tích Cát Tiên. Ảnh: minh họa
    Cánh đồng Cát Tiên thật đẹp mênh mông bát ngát hứa hẹn một mùa lúa trĩu vàng bông. Con sông Đồng Nai lượn lờ quanh co, uốn khúc đưa phù sa về tô thắm ruộng đồng. Tôi cũng gặp những nụ cười thân thiện của bác nông dân, của anh khảo cổ với bút mực hí hoáy trên tay, của đồng bào Châu Mạ nói tiếng Việt lơ lớ chưa rành, ấy vậy mà họ có lẽ đã rất hãnh diện vì đã sử dụng điện thoại không dây với tiếng gọi nhau í ới .

    Cát Tiên quả đáng được suy ngẫm, trân trọng.

    Leo lên đồi di tích, với một trăm năm mươi lăm bậc thang cao chót vót được bê tông hoá vững chắc, ta sẽ được chiêm ngưỡng một công trình tuyệt tác của người xưa. Tháp cổ giờ đây chỉ còn là những đống đổ nát, hoang tàn nhưng linh hồn của nó vẫn đang còn đấy. Sức sống mảnh liệt của một nền văn hoá cổ đang tiềm ẩn trong từng phiến đá, từng viên gạch đất nung đủ cho ta một cảm giác vừa xa xôi, vừa gần gũi, vừa lạ lẫm khôn cùng. Đó là tháp thờ bộ sinh thực khí Linga Yoni nghiêm thiêng của người Chăm – Bà La môn xưa..

    Có những điều mà chúng ta cho là hoang tưởng bởi sự tôn sùng thái quá của người xưa nhưng khi nghiệm lại, cộng với tuổi đời ngày càng chồng chất của mình, người ta mới hiểu ra rằng không phải người xưa đã không có lý khi mà họ đã quả quyết : có thờ có thiêng, có kiêng có lành. Điều này cũng đã được nhiều người trong chúng ta hiện nay đang chiêm nghiệm.

    Thử ngẫm lại khoảng thời gian hơn nghìn năm trước, không gian u uất đất rộng người thưa, núi rừng trùng điệp mà lạnh mình. Con người phải tất bật với miếng cơm manh áo nhưng lúc nào cũng phải cảnh giác đề phòng thú dữ vì sự cô lập tự nhiên theo địa hình phân bố dân cư thưa thớt thời đó. Từ chốn rừng thiêng nước độc, chim kêu vượn hú, rắn rít thú dữ con người tự thấy mình bé nhỏ, yếu đuối trước trời đất bao la. Trong khung cảnh quạnh hiu tưởng chừng tuyệt vọng ấy, người ta thường nghĩ đến một đấng quyền năng tối thượng vô hình để van xin, cầu khẩn. Từ sấm sét, lửa, nước cho đến rắn rít, cọp beo, bệnh tật…đều có thể đưa con người tới chỗ diệt vong và điều hiển nhiên mà cũng chẳng thiệt thòi gì người ta phong cho các sự vật ấy là thần thánh và nghiễm nhiên được thành kính tôn thờ. Chẳng phải xa xôi gì cho lắm, khi những lưu dân đi lập nghiệp trong đầu thế kỷ trước ở nước ta cũng vậy, không thể có một ngoại lệ nào ở đây cả, họ cũng yếu đuối cũng nhỏ nhoi đến độ phải kiêng kỵ tên huý của các loài thú dữ. Có nơi người ta còn làm hình tượng thú để phụng thờ, cụ thể nhất là hình tượng con cọp ở các đình miểu nhiều nơi còn lưu giữ tới bây giờ. Ngày ấy thường thì vào những đêm tối trời loài thú ăn thịt thường vào làng bắt trâu bò, gia súc. Ở nơi dân cư thưa thớt chúng càng lộng hành, có khi chẳng cần đến tối, chúng cũng cả gan vào bắt chó, bắt bò ngay trước nhà người ta…

    Những lá vàng tìm thấy ở Di tích Cát Tiên. Ảnh: ST
    Những lá vàng tìm thấy ở Di tích Cát Tiên. Ảnh: ST
    Cuộc sống lưu dân đơn sơ là vậy, nhà cửa tranh tre nứa lá không đủ kiên cố để bảo vệ tính mạng cho họ thì đàn gia súc lắm khi phải làm mồi cho ác thú là điều tất yếu. Thời ấy người ta gọi con cọp là “ông ba mươi”, con voi là “ông Tượng, ông Bồ”…Ngay cả vật dụng trong nhà như cái bình vôi, cái bếp cũng được người ta gọi bằng “ông” rất lễ phép, rất sợ sệt. Người ta sợ đủ thứ, từ sức mạnh vô hình cho đến hữu hình, sợ cả sự trả thù của thú dữ như hùm beo rắn rít…Như lúc chúng vồ được con vật nuôi của họ mà họ giành lại được bằng cách đánh thùng thiếc, gõ phèn la cho hùm beo sợ bỏ đi, thì người ta cũng đem kỉnh cho chúng khẩu phần ăn là đầu đuôi thủ vĩ của con vật để nơi bìa rừng. Mới dăm bảy chục năm qua mà chúng ta còn như thế thì với bảy tám trăm năm trước của người xưa, ta thử tưởng tượng xem họ phải cô quạnh đáng thương tới mức độ nào. Chính vì vậy mà ta cũng đừng nên oán trách họ đã có những hủ tục thờ cúng kì lạ. Bởi lẽ, trong vô vàn lý do mà đa phần là sự áp đặt cộng với nỗi cô đơn yếu đuối, sự sợ sệt đã hình thành nên một nghi thức tôn giáo rất kì bí ở thời kỳ này. Từ những biểu tượng thờ cúng thiêng liêng của người Chăm xưa được phát hiện trong các ngôi bảo tháp, đền đài ở Cát Tiên hay trong các ngôi mộ cổ…thường là bộ sinh thực khí hay còn gọi là Linga Yoni. Ta có thể thấy nghi lễ tôn giáo này vẫn được duy trì cho tới thời gian gần đây bằng chứng thể hiện rất rõ là dấu vết do bàn tay con người sờ nhẵn thín trên bề mặt vật thiêng bằng đá này …

    Bộ Linga - Yoni tại Di tích Cát TIên.
    Bộ Linga - Yoni tại Di tích Cát TIên. Ảnh: ST
    Linga là ngẫu tượng hình thể toàn bích của sự sinh tồn và huỷ diệt. Là sự kết hợp hài hoà của ba vật thể tượng trưng cho các ưu vật cần thiết trong đời sống sinh tồn của loài người. Đó là sự sinh ra, nuôi dưỡng (lớn lên) và huỷ diệt. Nhưng điều đặc biệt nhất ở đây là vị thần biểu trưng cho cái chết và sự huỷ diệt lại được kính trọng tôn vinh hơn cả đó là thần Shiva. Như vậy tự thân Shiva được coi như là vị thần lưỡng tính (ardha-nâni-isvana) trong sự sáng tạo, một hữu thể trung tính tự phân thành âm dương mà âm dương giao hoà thì mới có sinh tồn và huỷ diệt. Không có điều nghịch lý hay mâu thuẫn nào ở đây cả, bởi lẽ người xưa quan niệm sự sinh tồn và cái chết là hai phạm trù cùng song hành của một đời người. Sống là hưởng thụ nhưng phải lam lũ lo toan, còn chết là một hình thái khác của đời sống tâm linh nơi một thế giới khác. Ta thấy người ta thờ thần Shiva - Đấng Toàn năng (Isvara)- là thần của ác thần ( Ivara ), thần của thần chiến tranh ( Skanda ), thần của thần thiên tai bão tố ( Rudra), thần của thần huỷ diệt ( Tamas) đồng thời cũng là thần của thần hạnh phúc (Ganesa), thần của thần khoái lạc (Sambu)… Khởi nguồn từ âm dương để có sinh tồn rồi trưởng thành, chinh chiến và trở về huỷ diệt. Người ta tìm về cội nguồn của sự việc ấy rồi đơn giản hoá và làm ra biểu tượng Linga để tôn vinh, để thờ tự đó là bộ sinh thực khí có hình thể mạnh mẽ, đầy sức sống mà ngày nay chúng ta đang bảo tồn. Đây là biểu tượng ngẫu cảm tượng trưng cho tinh thần Shiva trong nghệ thuật tôn giáo Bà la môn xưa được chia làm ba phần : phần dưới hình vuông gọi là Brama tượng trưng cho thần sáng tạo là cực âm, phần giữa hình bát giác gọi là Vishnu tượng trưng cho thần bảo dưỡng ( nuôi nấng) còn phần trên cùng là khối hình tròn gọi là Shiva tượng trưng cho thần Toàn năng là cực dương. Linga được cắm trên Yoni. Yoni được cách điệu bằng một khối đá hình vuông, có khe hở, có môi đưa nước ra ngoài. Là biểu tượng của khoái lạc, của sự giao hoan.

    Từ thế kỷ thứ VIII những bức tượng thần đầu tiên trong thần thoại tôn giáo Bà la môn được các nhà điêu khắc dựng xây nơi cung cấm, nơi các tháp thờ nghiêm thiêng. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, các ngẫu tượng Linga Yoni vẫn được lưu giữ trong các ngôi cổ mộ. Bộ sinh thực khí lớn nhất ở nước ta hiện nay là bộ Linga Yoni nằm trên phần địa chí của tỉnh Lâm Đồng được xếp hạng Kỷ lục Việt Nam năm 2004. Bộ Linga Yoni này được tìm thấy ở khu di tích Cát Tiên có niên đại khoảng thế kỷ thứ 8 đến thứ 10 với chiều cao 2m1, đường kính 0,6 m và đáy là hình vuông mỗi cạnh dài 2m3 không tính phần môi. Đây là tác phẩm vật thể tôn giáo dòng Bà la môn có nguồn gốc Ấn nghiêm thiêng bậc nhất, có thể của dân tộc Chăm xưa sở hữu, thờ tự, và đang được chúng ta tôn tạo, bảo tồn nghiêm cẩn tại nơi nó được xây dựng trước đây. Tác phẩm nghệ thuật văn hoá này mang trong lòng nó ngôn ngữ tôn giáo thần bí được sáng tạo bởi một ê kíp thế hệ nghệ nhân xưa tài hoa và đã được một đấng quyền năng chuẩn hoá và cho tôn tạo tại các tháp thờ nghiêm thiêng theo những tỉ lệ to, nhỏ nhất định.

    Hiện nay ngành văn hoá đang làm hết sức mình để bảo quản thật tốt di tích, họ đã làm mái che mưa nắng, xây rào bảo vệ đi tích…Hy vọng một ngày không xa chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng thêm một tác phẩm nghệ thuật độc đáo của người xưa.

    Lưu giữ và bảo quản là góp phần làm đẹp hơn tư duy về một nền văn hoá cổ đã dần mai một, để lại cho đời sau những tặng phẩm văn hoá nghệ thuật có giá trị, giúp cho chúng ta có điều kiện để nghiên cứu và thưởng lãm là việc làm đáng trân trọng và đáng phát huy. Chính vì vậy mà những người làm công tác khoa học, khảo cổ hay bảo tồn trong khu di tích này cũng phải có một trình độ nhận thức và tình cảm yêu mến nhất định thì mới mong hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ khó khăn mà tự hào của Tổ quốc và nhân dân giao phó.

    Tôi nhớ một câu nói rất triết luận của nhà thơ nổi tiếng người Chăm Inrasara : Kẻ sáng tạo chân chính bao giờ cũng là người bảo dưỡng tuyệt vời. Vâng, và tôi cũng xin được nói lại là : Kẻ bảo dưỡng tuyệt vời bao giờ cũng là người có tâm hồn cao thượng và việc làm chân chính.

                 Phan Thành Minh
    
    Cẩm nang Du Lịch

  • Tục táng kỳ lạ của những tộc người Tây Nguyên
    chequangtho

    Tục táng kỳ lạ của những tộc người Tây Nguyên

    (LĐ online) - Khác với rừng thiêng của người Giẻ Triêng, nghĩa địa của người Bahnar lại mang đầy tính giao cảm âm – dương và rất gần gũi với người sống trong buôn làng. Người Bahnar tin rằng, có một thế giới người chết tồn tại song hành với cuộc sống dương gian. Và thế giới tượng nhà mồ đi theo người chết với những quan niệm, sắc thái khác nhau là sự thể hiện sinh động nhất niềm tin này. Chúng tôi đã tìm về làng B’Yang ở phía đông tỉnh Gia Lai để nghe những người dân nơi đây kể chuyện tượng nhà mồ ngay trên nghĩa địa.

    Thế giới tượng theo hầu người chết

    “Làng” nhà mồ ở nghĩa địa làng B’Yang.
    “Làng” nhà mồ ở nghĩa địa làng B’Yang.
    Làng B’Yang thuộc thị trấn Kông Chro (huyện Kông Chro) hiện được giới nghiên cứu văn hóa dân gian ở Gia lai đánh giá là nơi còn lưu giữ nhiều nhất, nguyên vẹn nhất những đặc trưng văn hóa của dân tộc Bahnar, đặc biệt là tục táng người chết. Ngôi làng chỉ cách trung tâm thị trấn Kông Chro khoảng 4 km nhưng có “sức đề kháng” mãnh liệt, cơn lốc đô thị hóa cận kề hình như chưa chạm đến ngôi làng nguyên vẹn này. Bên dòng sông Ba yên ả mà người bản địa vẫn quen gọi là sông Đăk Kroong, mái nhà rông của người Bahnar dòng Bờ Nơm vút lên trời sừng sững như một lưỡi rìu khổng lồ, gần một nghìn người dân trong làng cư trú trong hơn 100 nóc nhà sàn theo mô hình “làng tròn” vây quanh nhà rông thanh bình đến lạ. Nhà rông là tâm điểm, người làng Bahnar không muốn ai phải đến nhà rông xa hơn người bên cạnh nhà mình. Đến B’Yang lại thấy tiếc cho những ngôi “làng tròn” bị phá vỡ cấu trúc truyền thống và xếp lại thành “làng phố” kéo dài san sát trong các dự án tái định cư của các công trình thủy điện Tây Nguyên.

    TIN LIÊN QUAN

    * Tục táng kỳ lạ của những tộc người Tây Nguyên
    

    Ông Đinh Keo - Thường vụ Huyện ủy, Trưởng ban Dân vận Kông Chro và là người có uy tín nhất làng B’Yang dẫn chúng tôi tới một gốc mít cổ thụ của làng, vây quanh gốc mít này là hàng chục tượng nhà mồ mới được đẽo thành hình hài, chưa sơn màu nhưng trông rất có hồn và sống động. Trong những pho tượng được người làng dựng quay mặt ra ngoài, có cả tượng khỉ bồng con, bà già ôm mặt rầu rĩ, chim công, chim cú và cả tượng chó, mèo…Theo ông Đinh Keo, tất cả những tượng này đều được đẽo bằng rìu. Làng B’Yang có rất nhiều người có khả năng tạc tượng nhà mồ.

    Không kể giàu, nghèo, theo phong tục Bahnar, đẽo tượng “đi theo” người chết là điều bắt buộc phải làm, thể hiện lòng hiếu đễ, tình cảm tiếc thương của người sống đối với người đã khuất. Tượng đi theo người chết thường được tạc đẽo theo ý thích, nghề nghiệp của người đó khi còn sống và nhất định là phải theo cặp âm – dương, con vật cũng phải có cuộc sống lứa đôi. Người Bahnar Bờ Nơm quan niệm tượng được tạo ra là để theo hầu người chết và nhất thiết phải đi theo cặp. Kể cả người chết là người suốt đời độc thân thì khi chết thì khi chết cũng phải có cặp tượng đi theo.

    Cũng đủ cung bậc thân phận

    Theo chân anh Đinh Êu, một người cháu của ông Đinh Keo, chúng tôi vượt qua sông Đăk Kroong tìm đến nghĩa địa của làng B’Yang. Nhìn từ xa, nghĩa địa như một ngôi làng Bahnar thu nhỏ, những nóc nhà mồ có hình mái nhà rông được trang trí bằng những cây K’lao (một dạng cây nêu nhà mồ) sặc sỡ vút lên cao giữa rừng xanh.

    Nhà mồ của ông Đinh Gliu, nguyên Trưởng ban Văn hóa thị trấn Kông Chro nổi bật lên trong “làng nhà mồ” bởi vẻ đồ sộ, quý tộc rõ rệt. Trên diện tích khoảng 20 mét vuông, ngôi nhà mồ của ông Đinh Gliu được xây dựng kỳ công như một nhà rông thu nhỏ. Bốn cột chính được trang trí bằng bốn cặp ngà voi tượng trưng, hai cây K’lao cao nhất nghĩa địa. Mặt trước và mặt sau ngôi mộ được gắn 2 cặp tượng nam nữ mặc quân phục và váy thời trang sơn phết đủ màu trông như thật. Trong khuôn viên ngôi mộ có cả những cây lúa đã trổ bông, có giá để củi và góc chia của cho người chết. Anh Đinh Êu kể rằng, riêng phần mái nhà rông và hai cặp tượng nhà mồ của ông Đinh Gliu đã tốn gần chục triệu đồng. “Hàng xóm” của ông Đinh Gliu là một ngôi mộ có chủ nhân là nữ nhưng cũng hoành tráng không kém, trong một góc của ngôi mộ này còn có dàn khung cửi dệt thổ cẩm dành cho người chết, một đầu trâu được chia trong lễ bỏ mả và cả một giá để hàng trăm thanh củi được xếp ngăn nắp. Người Bahnar tin rằng, người chết cũng cần có củi lửa để sưởi ấm và trong những thứ vật phẩm cúng cơm hàng ngày trên mộ trước lễ bỏ mả nhất thiết phải có củi, lửa và nước. Phía trước những ngôi mộ trong nghĩa địa làng B’Yang luôn có một giếng nước tượng trưng với gáo dừa để bên cạnh. Thế giới người chết được công nhận hiện hữu từ ngàn đời như vậy.

    Tiếp giáp phía sau những nhà mồ hoành tráng ở mặt tiền nghĩa địa, hàng loạt nhà mồ khác của người nghèo có mái lợp tôn hoặc cỏ tranh “bình dân” thấp dần và bị phủ kín dây leo, cỏ tranh…Những bức tượng nhà mồ vẫn có cặp, có đôi nhưng chỉ là biểu trưng của những con vật như trâu, bò, khỉ, chó…, được gắn trước mộ thấp chìm trong cây cỏ và rất khiêm tốn. Điều không khác lạ đối với tất thảy loài người trên thế giới, cái chết của người nghèo bao giờ cũng ngậm ngùi, lầm lũi và ít phô trương.

    nhà mồ của người nghèo.
    nhà mồ của người nghèo.
    Người bahnar dẫn đường cho chúng tôi kể: “Nhà mồ chỉ được làm sau lễ bỏ mả. Với người giàu có thể bỏ mả sau mùa lúa mới đầu tiên tính từ ngày chết nhưng với gia đình nghèo có khi phải đến mấy năm sau. Mỗi lần bỏ mả phải mổ trâu, mổ bò, tốn kém lắm. Nhà nghèo thì phải chịu thôi! Tượng nhà mồ dành cho người nghèo cũng chỉ là những con vật gắn liền với cuộc sống nương rẫy”.

    Giã biệt Kông Chro chúng tôi tình cờ nghe câu chuyện gần đây nhiều tay chơi đã tìm đến vùng này mua tượng nhà mồ. Bỗng nhớ đến cái lắc đầu của ông Đinh Keo khi dẫn chúng tôi xem những tượng gỗ dưới gốc mít làng B’Yang, những bức tượng có thể chỉ được tạc ra để bán. Tượng nhà mồ phỏng có ý nghĩa gì khi chúng không nằm trong không gian văn hóa ứng xử với người đã khuất trong các nghĩa địa Bahnar? Mỗi hình thái văn hóa vật thể hay phi vật thể đều chỉ có linh hồn trong không gian tồn tại đặc thù lịch sử. Tượng nhà mồ rời làng Bahnar cũng tội nghiệp như tiếng cồng chiêng bập bùng, lạc lõng trên sân khấu chói lòa đèn cao áp nơi phố thị.

    Sơn Tùng

    Cẩm nang Du Lịch

  • Trên cao nguyên xưa
    chequangtho

    Trên cao nguyên xưa
    (LĐ online) - Ánh bình minh bao giờ cũng đẹp,mặt trời lên trên mặt biển xa cho ta cảm giác sức sống vừa bừng lên,mặt trời ló dạng ở đồng bằng cho ta sự thân thương của miền quê trù phú,nhưng ở đây, vùng đồi núi tận cùng phía tây của cao nguyên Di Linh lại làm ta tan hòa vào thiên nhiên,tạo nên cảm giác hòa nhập giũa đất trời mênh mông và con người nhỏ bé.

    Đó là một dãy đồi cổ, bị bào mòn gần như bằng phẳng, thỉnh thoảng bị chia cắt bởi những khe suối nhỏ, dân bản địa gọi là “ Lò than”. Có lẽ sáu, bảy mươi năm trước, khi rừng còn phủ kín, những người thợ sơn tràng từ miền Bình Thuận lên, đã đắp lò đốt than đem bán cho các đồn điền trà quanh vùng. Lò than của họ là những hố sâu, hình chữ nhật, chất củi cao hơn miệng hố chừng một thước. Thợ rừng đào đất đắp lên như hình mu rùa, chỉ chừa lại hai hàng lỗ thông hơi hai bên và cửa lò là nơi nhóm lửa, củi tươi bắt cháy trong môi trường yếm khí, cháy âm ỉ hàng tuần lễ, xả khói mù mịt qua hàng lỗ thông hơi. Thợ đốt than có kinh nghiệm chỉ nhìn màu khói của từng lỗ thông hơi mà biết than đã chín đến đoạn nào, than chín tới đâu, phải dùng vồ bằng một khúc cây nện kỹ cho mái lò sụp xuống, không để khoảng trống nào trong lò, vì như thế, không khí bên ngoài sẽ lọt vào, than thành tro hết cả. Nghe nói có lúc, trong vùng có đến bốn năm chục lò than như thế, cả ngày, khói lò than bay ra ,lúc nào trời đất cũng mờ sương khói cứ như mặt trời bị che khuất vậy. Mấy chục năm về trước,vùng Lò than là những trảng cỏ có vài lùm bụi lúp xúp, xen lẫn những khoảnh rừng thứ sinh, nhiều nhất là loài cây Dẻ trắng, thân suông thẳng cao gần hai chục mét, nhiều như dựng nến bên rìa các trảng cỏ. Loài cây này khi đốt thành than cho một loại than tốt, khi nhóm lửa, than Dẻ nổ bôm bốp, bắn ra liên tiếp những tàn lửa đẹp mắt. Cây Dẻ có sớ dọc, khi cưa hạ cây, nếu không cưa mạch mồi trước thân cây rất dễ toác dọc từ gốc lên tận ngọn cây, nhiều thợ sơn tràng đã bị thương vì cưa cây Dẻ.

    Trên các đồng cỏ, cây Mua rất nhiều, đó là loài cây bụi nhỏ mọc trên đất chua, quả to bằng đầu ngón tay cái phủ đầy lông nhung ngắn, bọn trẻ hái ăn, miệng tím đen như màu mực tím nên còn có tên là cây Mực, có lẽ do bọn trẻ miền sơn cước này đặt. Mùa hoa Mua nở, bông màu tím, sáng màu hơn hoa sim, nhưng to hơn làm các trảng cỏ thành lung linh , huyền ảo trong gió núi.

    Thác Đạm ri ( Bảo Lộc)
    Thác Đạm ri ( Bảo Lộc)
    Nơi này từng nhiều lần là nơi dừng chân trên quá trình du cư lâu dài của buôn B’Su Đăng Lú, nghĩa là buôn B’ Su trên núi đá, một bộ tộc Mạ ngăn, Mạ chính dòng của vùng trung lưu sông Đồng Nai. Thỉnh thoảng, khi làm vườn, nông dân trong vùng vẫn nhặt được những công cụ bằng đá, có cái còn thô sơ chỉ có dấu vết ghè đẽo của giai đoạn đồ đá cũ. Có cái được mài nhẵn, cân đối,chế tác công phu, của hậu kỳ đồ đá mới. Có cả những công cụ được khoan lỗ, chẳng biết ngày xưa dùng làm gì. Ngày nay, dấu tích lớn nhất còn lại là khu mộ táng, trước đây gọi là “ đồi ma”. Hồi đó, cây cối um tùm giữa đồng cỏ, ở người Mạ, tập tục chôn người chết mỗi buôn một khác. Ở B’Su Đăng Lú mộ táng là những căn nhà mồ nhỏ, mỗi họ có một ngôi nhà mồ như thế, bên trong có một hố sâu hình chữ nhật . Khi táng , người ta để quan tài xuống hố, chung quanh có các vật dụng gia đình chia của cho người chết, các vật dụng đó phải đập vỡ đáy hay méo đi, có như thế, ở cõi ma mới dùng được, rồi đóng cửa nhà mồ lại. Khi có người khác mất, người ta bỏ quan tài mới ngay cạnh quan tài trước, vì vậy, cốt của những người cùng gia đình đều chung một hố. Mỗi buôn có một khu mộ táng như thế, dù du cư đến nơi nào , khi có người chết, buôn làng đều đưa về chôn ở khu mộ này, chỉ những khi bị tai biến nặng nề hoặc khu mộ không còn chỗ nữa, khi đó buôn làng mới tìm một nơi chôn cất mới, nhưng việc ấy rất ít khi xảy ra.

    Ngày nay khu mộ táng này đã thành trơ trụi giữa khu vườn trà, cà phê, cây cối đã bị chặt hết, chỉ còn một khoảnh đất nhỏ, mộ được xây như của người Kinh. Ngày trước, các khu đồi ma đều được mọi người, cả người Kinh, người Mạ tôn trọng, không ai xâm phạm vùng đất linh thiêng của người đã khuất, Chẳng ai lấn đất của người chết mà trồng tỉa làm gì, thậm chí, không ai chặt cây quanh đồi ma cả, vậy mà ngày nay, khu mộ táng chẳng khác của người Kinh là mấy, có lẽ, đấy là hệ quả tất yếu của quá trình phát triển chăng.

    Ngày xưa, gần khu đồi ma có ngôi thảo am của một thiền sư Phật giáo, lũ trẻ chúng tôi hay vào vườn chùa vặt hoa hái trái. Nay chỗ đó đã thành một rừng thông đẹp, như một nét chấm phá giữa thảo nguyên xưa.

    Đi một quãng ngắn về phía đông, một con lạch nhỏ xuất phát từ rìa trảng cỏ, gom nước của mấy ngọn đồi thành suối Đạ Đinhđơr, nghĩa là suối tre, con nước xuôi về phía đông nam, xuống một thung lũng hẹp như một lòng máng khổng lồ, có một đoạn, dòng nước bị một khối đá chặn lại, tạo thành một hồ nước thiên nhiên nhỏ , nước trong vắt quanh năm, từ hồ, con suối chảy cắt ngang đồn điền trà Ánh Mai, xuống chân một con dốc dài, cũng gọi là dốc Ánh Mai, rồi vượt đường 20, nhập vào sông Đại Bình.

    Đồn điền Ánh Mai qua thời gian chiến tranh không còn nữa, nhưng bây giờ, nó là tên Kinh của suối Đạ Đinhdơr và của 3 thôn thuộc Xã Lộc Châu. Hai bên Đạ Đinhdơr, ngày xưa, rừng tre phủ kín, mỗi mùa mưa về, đi bẻ măng ở đây là một thú vui của lũ trẻ, vừa có đồ ăn, vừa được đi rừng, lội suối. Khoảng đầu thập niên sáu mươi thế kỷ trước, con suối là một đoạn của con đường giao liên ban đầu nối liền hai căn cứ kháng chiến Bắc và Nam đường 20 do Ông Tám Cảnh, người chỉ huy nổi tiếng của phân ban tỉnh ủy T14 phía nam Lâm Đồng , lập ra. Từ B’Lá ở căn cứ bắc qua B’su Păng Lê, B’su M’rắc về Lò than, qua chuồng bò của đồn điền Đạ L’Nghịt, rồi theo suối Ánh Mai vượt đường 20 lên đồi trà của đồn điền Tổng Nốt, nằm đối diện với đồn điền Ánh Mai, là qua được sông Đại Bình để vào căn cứ của thị ủy Bảo Lộc T29 vốn đóng quanh quẩn ở vùng núi S’pung, Tà Ngào. Ngay đoạn giáp giới suối Ánh Mai với sông Đại Bình là địa bàn hoạt động của chi bộ bí mật H30 gồm chủ yếu là những người từ miền Trung đổi địa bàn hoạt động, vào làm công nhân của sở trà Đại Lào.

    Ngày nay, khu vực Lò Than và suối Ánh Mai đã thành khu dân cư trù phú, không còn bị khô hạn như ngày xưa vì ít năm trước, người ta đã chặn con suối Đạ Brách, làm một hồ chứa nước lớn có tên gọi là hồ Mai Thành, vì hồ có một phần ở trên đất của đồn điền trà Mai Thành trước kia. Có hồ nước, cả vùng thỏa được cơn khát ngàn năm của vùng đất latosol pha cát, giờ đây, trong vùng mọc lên những ngôi nhà kiểu Thái, nhà đúc hai ba tầng bao quanh bởi vườn cà phê, vườn trà cao sản hay những trại chăn nuôi công nghiệp. Dấu tích của con đường giao liên xưa không còn,những người bám trụ ấp Đại Lào của thời chiến tranh cũng chẳng còn mấy ai, lớp trẻ bây giờ lao vào làm ăn, buôn bán tạo nên cảnh trù phú, thanh bình của vùng sơn nguyên bát ngát.

    Cách đầu ngọn suối Ánh Mai không xa, có khu đồi đất cao lanh, một con suối nhỏ bắt nguồn từ đây, chảy quanh co về phía đông , giữa vùng trà xanh ngát của phường Lộc Tiến, người Mạ đặt tên là Đạ Mhuốt nghĩa là suối Mây, còn người Kinh gọi là suối Con. Các ngọn đồi quanh suối Con có rất nhiều cát, người dân phường Lộc Tiến khai thác mấy chục năm nay mà giờ vẫn còn. Suối Con gom nước của vài khe nước khác rồi đổ vào suối Lớn, dân bản địa gọi là Đạ Làng, Đạ Làng chảy xuyên qua vùng đồi núi của xã Lộc Tân rồi nhập vào sông Đạ M’ri, ở đầu nguồn có thác Đạ M’ri nổi tiếng. Suối Đạ Làng cũng nổi tiếng không kém với khu mộ táng của cư dân bản địa hồi thế kỷ XIII- XIV , giới học thuật gọi là di chỉ Đạ Làng, dấu tích của nền văn hóa miền trung sông Đồng Nai, trước đây, giáo sư sử học Trần Quốc Vượng cho là của vương quốc Mạ hồi đó.

    Phải chăng vùng sơn nguyên Lò Than, nơi chia nước của hai con sông Ñại Bình và Đạ M’ri chính là một trong những nơi cư trú của một nhóm người Việt cổ, cư dân vùng trung tâm Đông Dương mà những tộc người vùng nam Tây Nguyên này là hậu duệ.

    Suối Lớn, suối Con và sông Đạ M’ri giới hạn một vùng rừng núi hình tam giác, trong đó có di chỉ Đạ Làng, đến đầu thập niên sáu mươi của thế kỷ trước còn thuộc chủ quyền của buôn B’su Mrắc nhưng chắc rằng tổ tiên của buôn này không phải chủ nhân của di chỉ, vì họ mới đến đó khoảng hai trăm năm trước. Mạn đông suối Lớn là đất của buôn Konhin, mạn tây suối Con của buôn B’su Đăng Lú, vùng bắc Đạ M’ri thuộc B’su Păng Lê. B’su Mrắc có nghĩa là vùng Giàng cho người B’su.

    Truyền thuyết kể rằng buôn B’su Brắc gốc ở DiLinh, vùng Kin Đạ. Thưở người Chăm ở ven biển đem quân lên chinh phạt miền núi, chiếm được núi rừng của người K’Ho, từ phía tây sông Đạ Nhim đến phía đông sông Đạ R’Nga, bắt trai tráng các buôn làng về làm nô lệ .Sau nhiều lần chống trả thất bại, không muốn làm trâu ngựa cho kẻ chiến thắng, già làng B’su Mrắc đành bỏ vùng đất của ông bà để lại , chạy đi ăn nhờ rừng núi của các tộc anh em vùng Đại Bình, Đạ M’ri .Kiếp tha phương ăn nhờ ở đậu quả lắm đắng cay, mỗi mùa phát rẫy, phải đem heo, rượu cần đến xin phép tộc chủ đất, phải có gà cúng cho Giàng núi. Có lúa mới, phải đem trả một phần cho buôn chủ . Cực nhất là khi phải chuyển nơi ở của buôn, tập tục không cho ở một nơi, không được ăn nước một con suối quá năm mùa rẫy, phải du cư, mà đi đâu bây giờ? Đất không phải của mình, rừng không phải của mình, con nước nào cũng có chủ, đỉnh núi nào cũng có Giàng. Đã nhiều lần, khi người Chăm mang quân vượt sông Đạ R’gna lũ làng phải mang xà-gạc lên tận B’Đơr cùng với các buôn trong vùng chống trả quân xâm chiếm, nhiều thanh niên đã không còn trở về được nữa, nhưng ngày trở lại đất cũ của ông bà xưa vẫn xa diệu vợi. Hàng trăm mùa rẫy như thế, mấy đời già làng mà kiếp tha phương vẫn không sao cởi bỏ được.

    Ngày đó tộc B’su Mrắc đang ăn nhờ rừng rẫy của buôn Konhin B’Lao ven sông Đại Bình, nhờ Giàng thương cho thân phận khốn cùng và lòng chịu thương,chiụ khó của cả tộc, trong lúc các nơi lúa trên rẫy bị con heo rừng, con khỉ, con sâu phá hết, rẫy của người B’su Mrắc lại cứ tốt tươi, quả bí thật to, nhiều không đem về hết nổi, rẫy lúa chỉ đứng một chỗ cũng tuốt được đầy cả Xà bớ, cả tộc phải dựng thêm nhiều chòi lúa mới, mà rẫy lại chỉ là đất rừng cằn của buôn người ta cho mượn, đúng là phải có Giàng thương, giúp đỡ. Ngày cúng Giàng lúa mới, cả buôn tổ chức đâm trâu, mời bà con các buôn quanh vùng đên uống rượu cần, ăn thịt trâu thâu đêm, mỗi nhà lại khui ché rượu cần mới, mỗi đêm một nhà lần lượt, hát đối, hát ru cả đêm trong tiếng trống bập bùng, trong tiếng lửa ngọn reo tí tách. Cả buôn như ngày hội, kéo dài cả con trăng trong niềm vui no đủ của mọi nhà.

    Cuộc vui chưa kịp tàn, ông già làng B’su Mrắc đã choáng váng khi già Làng Konhin B’lao gọi ra một chỗ khuất thông báo rằng: - Giàng núi S’pung không bằng lòng cho người xứ lạ ăn nhờ nữa, vì kẻ ăn nhờ đã lấy hết lộc của Giàng cho.

    Biết nói làm sao với con cháu khi mọi người còn trong cơn phấn khích, mấy khi cả buôn có được ngày vui thực sự, tộc trưởng nhấc chiếc cần tre cong vút, kéo liền một hơi ché rượu cần vừa khui . Ché rượu cạn dần nhưng lòng ông dần đầy ắp lo âu, rồi ngày mai, rồi mùa phát rẫy mới, con cháu ông biết làm ở đâu, ăn ở đâu? Lòng đố kỵ của con người quả là ghê gớm, giá mà Giàng lúa không chỉ về buôn của ông ba mùa liên tiếp, giá mà Giàng cũng về với dân Konhin, giá mà tổ tiên ông không phải bỏ Giàng núi Xà Lùng mà đi… Ông kéo một hơi, rồi một hơi nữa và ông ngã vật ra sàn nhà đan bằng thân nứa đập dập, miệng sùi bọt mép, người ông co giật từng hồi. Cả buôn xôn xao, ông già làng vừa được Giàng gọi, mọi người dãn ra trở lại bên ché rượu, họ kính cẩn với thời khắc già làng đang tiếp chuyện với Giàng.

    Mãi đến chiều hôm sau, già làng mới tỉnh lại, cả buôn xúm lại hỏi thăm, nhưng ông mệt mỏi xua tay bảo mọi người ai về nhà nấy rồi cho người đi mời già làng các buôn lân cận đến. Mấy đêm sau, bên ánh lửa bập bùng và những ché rượu cần nếp mẹ, Già làng B’su Mrắc kể lại cho các già làng có mặt nghe giấc mơ của mình:

    Đang uống rượu ngon, ông thầm cám ơn Giàng núi, Giàng rẫy, Giàng lúa và các Giàng đã cho con cháu lão có cơm ăn thì Giàng núi đến dắt ông đi vào chốn thiên đình. Già làng được đưa đi thăm thú các nơi, chỗ nào cũng lâu đài tráng lệ, chỗ nào cũng tiên nữ đẹp tuyệt trần. Ông được cho ăn thịt trâu nhà trời nướng thơm phức, được uống rượu cần trong ché không bao giờ cạn. Trước khi về, Giàng bảo ông đưa con cháu đến một vùng đất rất lạ, nơi đó ba bề có ba con nước quây vòng bên ngoài, bên trong có con cọp trắng ở cạnh cây đa to nhất vùng, canh giữ núi rừng cho Giàng. Xưa nay đất ấy Giàng chưa cho buôn nào, nay cho già làng dẫn cả buôn về đó.

    Già làng B’su Mrắc hỏi các già làng xem có vùng nào như ông kể không, còn ông là dân ăn nhờ nên những chỗ ấy chưa từng nghe nói đến. Các Già làng bàn tán rằng đã là rừng Giàng cho thì phải đến mà nhận, nhưng nhận ở đâu bây giờ. Sau già làng B’su Păng Lê nói ở gần rừng buôn ông có một nơi, ba con nước làm thành ba góc, nhưng nơi ấy thiêng lắm vì có đồi ma của ông bà xưa để lại, chẳng biết của buôn nào, người B’su Păng Lê không đến, người Konhin B’Lao, B’su Đăng Lú cũng không phát rẫy bao giờ, nghe đồn ở đó có con cọp trắng nhưng chưa ai nhìn thấy.

    Thế là sáng hôm sau, mỗi người mang theo một Bù lơ cơm, các già làng cùng trai tráng buôn B’su Mrắc đi tìm vùng đất Giàng cho. Buôn B’su Mrắc có rừng núi và cũng có tên mới từ đấy. Để cám ơn Giàng họ đã dành ra một khoảnh rừng lớn, toàn cây gỗ quí như Sao xanh, Dã Hương để làm rừng Giàng, nơi cả buôn đến cúng Giàng núi mỗi mùa phát rẫy.

    Truyền thuyết là vậy nhưng nay buôn B’su Mrắc đã dời vào thôn 1 Xã Lộc Tân từ hơn bốn mươi năm trước còn đất Giàng cho đã thành vườn trà, vườn cà phê từ lâu. Rừng Giàng rộng hơn một vai xà gạc với cây cối to hai ba người ôm cũng đã bị đốn hạ. Không biết bây giờ Giàng núi của B’su M’rắc ở đâu nữa, cả di chỉ Đạ Làng, người dân cũng đã trồng trà quanh đó. Đứng trên đồi nhìn xuống, giờ chỉ thấy màu xanh ngút tầm mắt, thỉnh thoảng, vài căn nhà lợp tôn của một trang trại nào đó đột ngột nhô lên, mờ ảo trong làn sương buổi sớm.

    Từ thượng nguồn Suối Lớn, về bên trái, là rừng của buôn Konhin B’Lao , tộc Konhin có hai buôn, tuy cùng chung một gốc nhưng người của hai buôn này ít khi giao tiếp với nhau, nghe nói rằng việc ấy có nguyên nhân từ mãi ngày xưa . Khi người Chăm lên chiếm miền núi, đã ổn định vùng K’Dòn, Ta La xong, họ theo đường Kon Tẻ định chinh phục miền đất của người Mạ. Sợ bị bắt về miền biển làm nô lệ, người Mạ đã vót tên nhọn, làm cánh nỏ cứng, mài sắc xà gạc chống lại kẻ xâm chiếm. Đất Kon Hin ở ngay địa đầu, sau mấy trận đánh không cân sức, người trong buôn chết nhiều, lúa bị cướp, buôn bị đốt. Già làng định đầu hàng để chấm dứt cảnh chết chóc, nhưng trai tráng không chịu. Họ bỏ buôn, dẫn vợ con đi sâu vào vùng núi cao. Già làng tức giận, cấm những kẻ bỏ đi không được về lại buôn làng, cấm không cho người ở lại giao tiếp với kẻ ra đi bằng lời nguyền: Khi nào sông Đại Bình hết nước, khi nào núi S’pung sạch cây bấy giờ mới tha cho những kẻ bị nguyền rủa. Lời nguyền ấy được kẻ thống trị biến thành luật tục của buôn Kon Hin. Sau khi người Chăm bỏ miền núi chạy về đồng bằng, lời nguyền ngày trước vẫn đeo đuổi dân Kon Hin, không có người giải vì già làng đưa ra lời nguyền đã bỏ xác trên đường lưu đày ngoài miền biển không còn mà để giải lời nguyền xưa. Vì vậy, những ngừơi ra đi đã lập buôn mới, buôn Kon Hin S’re Rơlong, còn buôn cũ vì vẫn du cư quanh quẩn sông Đại Bình nên gọi là Kon Hin Đạ, lấy Đạ L’iêngcun làm con nước giới hạn vùng phát rẫy.

    KonHin B’Lao sau này thành tên làng đầu tiên của người Kinh ở vùng Bảo Lộc khi họ lên lập nghiệp hồi đầu thế kỷ XX. Suối Đạ L’iêngcun thành con suối chảy cắt ngang thành phố Bảo Lộc, một đoạn được ngăn lại thành hồ Đồng Nai. Vùng đất của buôn Kon Hin S’re Rơlong nay đã thành phố xá phường II và phường Lộc Tiến, trên đó đang hình thành một khu công nghiệp lớn ven thành phố. Kon Hin Đạ giờ thuộc phường B’lao, đồng bào vẫn sống ven sông Đại Bình, định cư trên một ngọn đồi nhỏ đã gần nửa thế kỷ nay, đã có vườn trà, cà phê , chấm dứt cuộc sống du canh của cha ông để lại. Sự bất hòa giữa hai buôn Kon Hin cũng không còn mấy ai nhớ, có chăng chỉ là trong các bài ca truyền miệng hiếm hoi hiện nay.

    Vùng sơn nguyên xưa nay đã thay da đổi thịt, rừng núi cũ không còn, các buôn làng đã di dời nhiều lần trong thời chiến tranh. Khắp nơi, vườn trà , cà phê phủ kín, đường xá tráng nhựa, đèn điện sáng khắp hang cùng ngõ hẻm. Từ chưa đến chục ngàn người hồi đầu thế kỷ XX, nay có đến hơn một trăm ngàn trên vùng sơn nguyên xưa. Đứng trên đỉnh B’nom Doi ở phía đèo Bảo Lộc nhìn về, cao nguyên như một giải lụa trải ngút tầm mắt, thành phố Bảo Lộc như một chấm phá trong giải sương chiều mờ ảo giữa màu xanh biếc của núi rừng .

    Chắc rằng, chẳng bao lâu nữa, những dấu tích của vùng sơn nguyên xưa sẽ chìm vào dòng thời gian bất tận và trên đó thành phố Bảo Lộc non trẻ sẽ không ngừng lớn lên.

    Ghi chép: Ninh Thế Hùng
    ,

    Cẩm nang Du Lịch

  • Đà Lạt: Chỉnh trang cáp viễn thông và truyền hình
    chequangtho

    (LĐ online) - Theo đó, các công ty như Điện lực Lâm Đồng và các doanh nghiệp viễn thông, truyền hình cáp đã đồng loạt tiến hành chỉnh trang, bó buộc lại đường dây, cắt gọn cáp viễn thông và cáp truyền hình trên địa bàn thành phố Đà Lạt, đồng thời gắn bảng tên của doanh nghiệp lên cáp treo trên cột.

    Công nhân bưu điện chỉnh trang đường dây trên đường Nguyễn Chí Thanh.
    Công nhân bưu điện chỉnh trang đường dây trên đường Nguyễn Chí Thanh.

    Đây là kế hoạch nhằm chỉnh trang và ngầm hóa các tuyến cáp, dây thuê bao viễn thông, truyền hình cáp trên địa bàn toàn tỉnh giai đoạn 2010 – 2015.

    Được biết, trong quá trình thực hiện giai đoạn 1, từ nay đến ngày 17/1/1011 trên địa bàn thành phố Đà Lạt, sẽ ưu tiên chỉnh trang trước tại 12 tuyến phố chính: Phan Đình Phùng, Nguyễn Chí Thanh, Đường 3/2, Khu Hòa Bình, Phan Bội Châu, Trương Công Định…và đường Nguyễn Văn Trỗi.

    Xuân Trung

    Tin Nhanh 24h

  • Nước thải Chợ nông sản gây ô nhiễm nước phục vụ sản xuất nông nghiệp
    chequangtho

    (LĐ online) - Qua tìm hiểu thực tế chúng tôi được biết, tại khu phố 1, phường 11, Tp. Đà Lạt hiện có 150 ha đất sản xuất nông nghiệp, chuyên canh các loại cây trồng như actisô, khoai tây và các loại rau ăn lá… Từ ngày dựng làng, lập ấp đến nay, 84 hộ nông dân trong khu phố đều sử dụng nguồn nước từ con suối dài khoảng 5 km trong phường để tưới tiêu cho cây trồng.

    Tháng 4 năm 2009 khi Chợ đầu mối nông sản Đà Lạt chính thức đi vào hoạt động tại phường 11, bên cạnh niềm vui có nơi trao đổi, mua bán nông sản thuận tiện hơn trước, thì lại gây ra một nỗi lo - gần như toàn bộ diện tích canh tác nông nghiệp trong khu phố 1 đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng do nguồn nước thải của chợ chưa được xử lý, đổ trực tiếp xuống suối. Không chỉ bị ô nhiễm nặng, nguồn nước nơi đây còn bốc mùi rất khó chịu cho những người dân địa phương trong phường.

    Nguồn nước thải của chợ rau đổ trực tiếp ra con suối thuộc khu phố 1, phường 11, Đà Lạt gây ô nhiễm môi trường nước.
    Nguồn nước thải của chợ rau đổ trực tiếp ra con suối thuộc khu phố 1, phường 11, Đà Lạt gây ô nhiễm môi trường nước.
    Với một địa bàn đang từng bước chuyển sang sản xuất canh tác nông nghiệp theo hướng công nghệ cao như phường 11, đây chính là vấn đề gây nhiều khó khăn cho nông dân. Việc nước thải của Chợ đầu mối nông sản Đà Lạt chưa được xử lý đổ trực tiếp xuống suối đã gây khó khăn về nguồn nước phục vụ canh tác nông nghiệp cho bà con trong khu phố. Nếu như trước đây, nguồn nước sản xuất khá dồi dào và ổn định vào các mùa trong năm, thì hơn 1 năm qua, nhà nào cũng phải lo đào giếng hoặc đào hồ lắng lấy nước sạch phục vụ sản xuất nông nghiệp. Nhiều gia đình có diện tích trồng rau hoa trong nhà kính, áp dụng công nghệ cao trong sản xuất đang phải dở khóc dở cười với nguồn nước do Chợ đầu mối nông sản Đà Lạt thải ra. Để có nguồn nước sản xuất, nhiều gia đình phải đầu tư không dưới 30 triệu đồng để đào giếng, làm hồ lắng để lấy nước sạch chăm sóc cây trồng.

    Anh Huỳnh Ngọc Sang, khu phố 1, phường 11, Đà Lạt bức xúc: “Trước kia nước suối ở đây rất trong, phần lớn bà con trong khu phố lấy nước để tưới tiêu cho cây trồng. Từ khi Chợ đầu mối nông sản Đà Lạt di dời xuống đây thì nguồn nước thải của chợ đã gây ô nhiễm cho dòng suối này, làm nhiều diện tích cây trồng của bà con không có nguồn nước sạch để tưới. Giờ gia đình nào cũng lo đào giếng, làm hồ lắng để lấy nguồn nước sạch cho cây trồng. Hiện bà con chúng tôi rất bức xúc và mong muốn các cấp ngành trong thành phố cần nhanh chóng tìm ra giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm này càng sớm càng tốt”.

    Các hộ dân bị ảnh hưởng từ nguồn nước bị ô nhiễm nói trên cũng đã phản ánh và kiến nghị UBND phường cần phối hợp với các ban ngành liên quan kiểm tra và có giải pháp khắc phục, nhằm trả lại nguồn nước trong sạch để nông dân sản xuất. Tuy nhiên, hơn 1 năm qua, vẫn chưa có gì cải thiện.

    Mặc dù đang họat động chưa hết công suất thiết kế, nhưng bình quân mỗi ngày, Chợ Nông sản đầu mối Đà Lạt đã thải ra không dưới 15 m3 nước. Vào những ngày mưa, nhờ nguồn nước từ các nơi đổ về nên mức độ ô nhiễm dòng suối ở khu phố 1 có phần giảm đi. Nhưng, vào những ngày nắng nóng, mùi hôi thối và nguồn nước ô nhiễm rất nặng.

    Để giúp người dân khu phố 1, phường 11 yên tâm sản xuất, ổn định cuộc sống, hạn chế những tác động xấu đến môi trường khu vực ven đô, các ngành chức năng thành phố cần sớm vào cuộc để tìm ra những giải pháp xử lý có hiệu quả cho nguồn nước thải tại Chợ đầu mối nông sản Đà Lạt để người dân có nước sạch phục vụ sản xuất nông nghiệp.

    Hải Phong

    Tin Nhanh 24h

  • :)
    chequangtho

    http://www.youtube.com/watch?v=LjhCEhWiKXk

    English Music

  • Trao thân
    chequangtho

    Khi bạn và người kia đến với nhau bởi những đồng cảm chân thành, sẵn sàng chia sớt những khó khăn và hiến tặng cho nhau những niềm vui hạnh phúc thì đó là một tình bạn đích thực. Nếu trong tâm bạn và người kia không có ý muốn chiếm hữu thể xác, tức là trong kho lưu trữ nhận thức (store consciousness) của đôi bên không có thông tin nào kích thích vào các nội tiết tố (hormones) của tính dục, thì liên hệ đó sẽ mãi là một tình bạn thuần túy.

    Còn khi bạn bị những hình ảnh và giọng nói của người kia chiếm hết bộ nhớ, khiến bạn thẩn thờ, mơ mộng, mong muốn gặp mặt hoặc thậm chí khát khao được xúc chạm tới thể xác người kia thì chứng tỏ là bạn đang bước vào giai đoạn yêu. Nghĩa là cảm xúc của bạn bây giờ nghiêng về phía tính dục nhiều hơn và trí tưởng tượng trong bạn cũng sẽ góp phần phóng đại cảm xúc lên nhiều lần để bạn cảm tưởng như trên đời này không có thứ gì tuyệt vời hơn thế nữa. Khi đó mọi thứ trong cuộc sống của bạn như đảo lộn, bạn không còn giữ được cân bằng, nói đúng hơn là bạn đang bị té trong tình yêu (falling in love).

    Thế rồi cảm xúc yêu đương trong bạn bỗng muốn được thăng hoa gấp bội, bằng cách thúc đẩy sự kết hợp với cảm xúc tự nguyện của người kia. Sự cộng hưởng này sẽ tăng tới mức cao nhất là khi hai bên cùng chấp nhận việc trao thân với nhau, ước muốn thắt chặt quan hệ nhau, mà thực chất chính là tình trạng nô lệ cao độ cảm xúc của nhau. Nhưng nếu sự kết hợp này không dựa trên nền tảng của một tình bạn đích thực thì đó chỉ là một sự lợi dụng hay một sự đổi chác cảm xúc mà không có ý thức trách nhiệm với nhau.

    Như vậy việc trao thân luôn đi liền với trách nhiệm mà bạn và người kia phải cùng gánh chịu. Thực ra trách nhiệm đã có từ khi hai bên chính thức công khai về quan hệ tình yêu với nhau. Nếu chỉ là một tình bạn thì tất nhiên không cần phải giữ một cam kết nào, bạn có thể giúp đỡ người kia bằng khả năng mà bạn muốn giới hạn, không ai có quyền yêu sách bạn. Nhưng một khi bạn và người kia thừa nhận là người yêu của nhau thì ngầm hiểu rằng sẽ không ai được phép xen vào quyền lợi đó, và như thế có nghĩa là hai bạn đã tuyên bố giành trọn phần trách nhiệm với những gì xảy ra cho nhau.

    Vậy mà khi bước tới quyết định trao thân bạn chỉ quan tâm tới khát khao muốn được nếm trải cái cảm xúc thăng hoa nhất của tình yêu mà không hề ý thức (hoặc ý thức một cách mơ hồ) về trách nhiệm. Tôi biết các bạn trẻ bây giờ rất tài giỏi, họ nắm rất nhiều phương cách không để cho tình trạng thụ thai xảy ra. Chính vì thế mà họ nghĩ rằng chỉ cần nhắc nhở nhau cẩn thận là được. Thực tế không đơn giản như vậy. Tình yêu mà nghiêng về phía tình dục thì bạn sẽ không còn thiện chí và cảm hứng để học hỏi thêm những kỹ năng hiểu biết và thương yêu sâu sắc, vì bạn luôn ở trong tình trạng dễ dàng đạt được đỉnh cao của cảm xúc.

    Khi đó hàng loạt tâm lý như giận hờn, ghen tuông, nghi ngờ, sợ hãi… phát triển đột biến, nguyên nhân cũng vì muốn độc quyền sở hữu nhau, quấn chặt vào nhau, như để lấy lại những gì cao quý nhất đã hiến tặng cho nhau. Nếu tình thương đủ lớn và tỏa sáng thì bạn thừa sức đón nhận và hóa giải được những xáo trộn đó. Nhưng lỡ hai bên thiếu đi phần thấu hiểu để cảm thông và chấp nhận nhau, chưa chuẩn bị năng lượng để sẵn sàng giúp đỡ trong bất kỳ khó khăn nào của nhau, cộng với sự xuống dốc mau chóng của cảm xúc thỏa mãn xác thân, thì bạn sẽ cảm thấy bị đuối sức và sự bội bạc rất dễ dàng xảy ra.

    Trong liên hệ nào cũng có sự dẫn dắt, bên nào mạnh thì sẽ kéo bên kia theo. Nhưng khi bạn định hướng sai lầm, thay vì phát huy phần lý trí để làm chủ bản năng, điệu hòa sự sống, thì bạn đưa người yêu của mình đi về phía hưởng thụ để trở thành con nghiện cảm xúc, nên sớm muộn gì tình yêu kia cũng sẽ suy tàn, lụn bại. Kết cuộc cả hai đều xảy ra thương tích mà phía nữ là nặng nề hơn. Tâm thức bấy giờ sẽ hình thành cơ chế rất nhạy cảm về dục vọng và mặc định luôn mức thỏa mãn cao nhất, điều này sẽ hành hạ ít nhiều trong thời gian bạn phải sống một mình. Nếu mau chóng tìm được đối tượng khác trong khi bạn chưa thực sự chuyển hóa chính mình, thì bạn rất dễ lặp lại vết xe cũ, hoặc sẽ chênh vênh khi người ấy nghiêng về khối óc hơn là trái tim.

    Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, người vợ không bao giờ được thay áo trước mặt chồng, dù sống với nhau lâu năm nhưng họ vẫn kính nhau như khách (tương kính như tân). Đã là vợ chồng nhưng khi cần liên hệ xác thân, họ cũng sử dụng nhiều thủ tục rất trang trọng, để cho đối phương hiểu rằng khi hai tâm hồn hòa quyện thì hai thể xác cũng sẽ tìm tới nhau để hòa quyện, và khi hai thể xác hòa quyện thì hai tâm hồn sẽ càng hòa quyện hơn. Thế nhưng cụ Nguyễn Du lại có những vần thơ cảnh báo về chuyện này:

    Trong khi chắp cánh liền cành

    Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên (Truyện Kiều)

    Khi trao thân nếu thiếu đi sự tinh tế khéo léo và kính trọng, thì đằng sau lớp cảm xúc thăng hoa kia sẽ chứa đựng một niềm khinh rẻ rất lớn, về sự thèm khát vô độ hay sự buông mình dễ dãi của đối phương. Đây cũng là đầu mối quan trọng gây ra nhiều khúc mắc trong đời sống hôn nhân. Huống chi người kia chưa chính thức đứng ra cam kết trách nhiệm sống chung với nhau trước cộng đồng, bạn vẫn còn nghi ngờ về sự chung thủy của người kia, thì sự trao thân ấy làm sao đạt tới mức hòa quyện trọn vẹn? Như vậy chính việc trao thân sẽ trở thành nguyên nhân chính phá vỡ niềm kính trọng lẫn nhau. Một liên hệ tình cảm mà thiếu đi sự kính trọng thì không thể nào tồn tại lâu bền được.

    Cho nên nguyên tắc “trao thân, gửi phận” là kinh nghiệm rất lớn của tổ tiên. Chỉ khi nào bạn chính thức “gửi phận” thì lúc đó mới chấp nhận “trao thân”, hai cái này không thể tách rời ra được. Vì vậy lễ cưới rất cần thiết để gia đình, bạn bè, chòm xóm cùng chứng minh ngày bạn chính thức trao trọn cuộc đời cho người kia. Năng lượng tập thể sẽ tiếp thêm sức mạnh để bạn vượt qua nhiều thử thách và khó khăn trong đời sống hôn nhân. Nghĩ đến ngày đó bạn sẽ ít dám quyết định bỏ nhau khi không kịp lấy đủ sức để đi tiếp.

    Ở xã hội tây phương họ sống chung với nhau có khi năm bảy năm rồi mới cưới. Ngày cưới ấy có khi cũng không bao giờ xảy ra, vì họ không còn thấy ý nghĩa thiêng liêng của lễ cưới hay đã nhàm chán nhau trước đó. Ở nước Mỹ, mỗi ngày có hơn 70 thanh thiếu niên tự vẩn. Theo thống kê, phần lớn những người trẻ đó đều là nạn nhân của sự đổ vỡ liên hệ tình cảm trong khi sống thử. Bởi cú shock bị phụ bạc rất dễ đưa họ rơi vào trầm cảm, thấy bản thân không còn giá trị nữa nên đành chọn cách hủy diệt coi như chấm dứt.

    Bạn ơi! Người nói yêu bạn mà không đủ kiên nhẫn để chờ ngày bạn trao thân thì người đó đâu có thật lòng yêu bạn. Kiên nhẫn chính là chứng tích của tình yêu chân thật đó bạn. Bạn đừng để mắc lừa bởi sự trách giận của người kia, cho rằng bạn không thật lòng thương họ nếu bạn từ khước việc trao thân. Bạn phải can đảm nói với người kia rằng biết giữ gìn cho mình cũng chính là biết giữ gìn cho nhau. Giả sử có một người thương bạn ít nhưng kính trọng bạn nhiều và một người thương bạn nhiều nhưng kính trọng bạn ít thì bạn sẽ chọn người nào? Người có tình thương nhiều sẽ dễ dàng đem tới nhiều cảm xúc thỏa mãn, nhưng cũng có thể bỏ mặc bạn đương đầu với hậu quả khổ đau. Cho nên chỉ có người hết lòng kính trọng bạn thì họ có mới trách nhiệm với cuộc đời của bạn mà thôi.

    Bạn biết không, khuyết điểm lớn nhất của nền văn minh hiện đại là làm con người bị quay cuồng trong sự bận rộn, không còn thời giờ để nghỉ ngơi và tận hưởng những giá trị mầu nhiệm chung quanh. Sự yếu kém của đời sống bản thân đã dẫn đến sự bế tắc trong nhiều liên hệ, mà phần lớn là cấu trúc gia đình bị phá vỡ. Khi mất niềm tin vào hạnh phúc gia đình, những người trẻ sẽ trở thành nạn nhân của sự cô đơn lạc lõng nên sẵn sàng buông mình vào con đường hưởng thụ vô trách nhiệm. Theo thống kê của hãng Google, thời gian gần đây Việt Nam đã luôn đứng đầu thế giới về số lượng người lang thang trên các trang web tình dục. Nguy cơ này rất dễ tạo thêm cơ hội cho các bạn trẻ mạnh dạn chọn con đường sống thử. Trách nhiệm sẽ thuộc về ai đây?

    Trong khi một tình yêu chân chính phải luôn biểu lộ sức sống vươn lên, không thể là thứ đam mê làm xáo trộn sự sống, tàn phá sức khỏe, tàn phá trí tuệ và tàn phá lý tưởng được. Vậy ta phải làm gì để có thể giữ gìn một tình yêu trong sáng và lành mạnh trước sự cuốn hút mãnh liệt của môi trường đầy dẫy độc tố ở khắp mọi nơi? Bạn đừng nản lòng, hãy cố gắng bám chặt vào vòng tay còn ấm áp của gia đình, chọn lọc thú tiêu khiển lành mạnh, tìm tới những người bạn hay đoàn thể sống có phẩm chất và sẵn sàng khơi dậy lý tưởng trong bạn, phấn đấu và sáng tạo không ngừng trong học tập cũng như công việc. Điều quan trọng là làm sao lúc nào bạn và người kia cũng ý thức đến nguyên tắc của một tình yêu chân thật phải luôn có đủ 2 điều kiện: niềm kính trọng và tinh thần trách nhiệm.

    Này người bạn trẻ! Ý thức được khổ đau do hành vi dâm dục bất chính gây ra, ta hãy cam kết từ nay sẽ không trao thân với người không phải là vợ hay chồng của mình, không tán thành kẻ phản bội lời cam kết hôn phối, mà còn học theo tinh thần trách nhiệm bảo vệ tiết hạnh và an toàn cho mọi người, ngăn chặn không cho thói tà dâm tiếp tục gây ra đổ vỡ gia đình và xã hội. Nếu ta hết lòng thực tập thì chắc chắn nhân loại sẽ bắt đầu một tương lai xán lạn

    Trích "Hiểu về Trái Tim"

    Tạp bút

  • Hờn Ghen
    chequangtho

    Trong bản chất của thương yêu phải có tính đồng nhất. Niềm vui của mình cũng là niềm vui của người kia, nỗi khổ của người kia cũng là nỗi khổ của mình. Không có cái ước vọng của riêng anh mà em không được biết, không có cái sở thích của riêng em mà anh chẳng cần phải quan tâm. Anh và em khi đã kết tóc se duyên thì hai cuộc đời coi như một. Cái gì xảy ra cho người này là cũng đồng thời xảy ra cho người kia. Số phận người này sẽ tùy thuộc vào số phận người kia.

    “Mình với ta tuy hai mà một”- hai thể xác hòa quyện thành một linh hồn, một số phận thì đó mới đích thực là thương yêu. Mình là tiếng xưng hô của chính ta, nhưng cũng để gọi người bạn đời bằng cái giọng thiết tha trìu mến. Ngay tiếng gọi đó ta đã thấy được sự sáp nhập ranh giới giữa đôi bên, cái ngã riêng biệt đã bị phủ lấp.

    Cho nên trong quá trình thương yêu ta phải học hỏi lẫn nhau để chọn lọc những cái chung có tính chất xây dựng một hạnh phúc bền vững, còn những cái riêng không hay, hoặc những cá tính làm cho bên kia phải gắn sức chịu đựng thì phải tìm cách buông bỏ bớt. Đồng nhất không có nghĩa là ta phải buông bỏ tất cả để giống y như người kia, hay người kia phải thay đổi tất cả để trở thành bản sao của ta. Cái đó là hệ lụy chứ không phải đồng nhất. Đồng nhất nghĩa là hòa hợp, là không có quá nhiều xung khắc.

    Dù ta và người kia có nguyện vọng sáp nhập cuộc đời với nhau thành một, hòa điệu với nhau về tính cách và lý tưởng sống, thì ta cũng đừng quên rằng người kia vẫn có những điều không thể nào hoàn toàn giống ta. Người kia đến từ phương trời xa lạ, có gia đình và bạn bè, có kiến thức và tập quán, có nhận xét và cảm xúc, có sở thích và lý tưởng. Ta muốn thương yêu thì chỉ xin được tham dự vào cuộc đời của người đó chứ không phải là vứt cuộc đời của họ ra mà để cuộc đời ta vào.

    “Ta với mình tuy một mà hai”- ta đừng quên câu ca dao thứ hai này là một nửa không thể tách rời với câu thứ nhất. Vậy trong nguyên tắc hạnh phúc lứa đôi thì ta với mình vừa là một mà cũng vừa là hai. Là một vì muốn hướng tới sự hòa điệu hợp nhất, là hai vì muốn hướng tới sự buông xả thảnh thơi. Buông xả nghĩa là không thao túng hay giam hãm đời nhau, cho nhau không gian để thở, để hòa điệu với mọi người, với đất trời và sự sống.

    Nhưng ta thường nhân danh tình thương hay sự hy sinh mà bắt đối tượng thương yêu của ta nhốt vào cái lồng định kiến. Ta muốn người kia phải vắt kiệt năng lượng ra để say mê chìu chuộng ta, nhất nhất phải theo ý ta. Người kia phải ở đó mãi cho ta, hoặc nếu có đi đâu cũng phải trong tầm kiểm soát của ta, đầu óc lúc nào cũng chỉ hướng đến một mình ta và chỉ có ta mà thôi. Ta tin chắc rằng chỉ khi nào nắm chặt người đó trong tay rồi thì người đó sẽ mãi thuộc về ta. Nhưng ta đã lầm, bản năng của con người cần sự tự do rất lớn, càng bị giam hãm thì càng muốn thoát ly. Tiền bạc, quyền lực, sắc đẹp làm sao có thể trói buộc số phận của một con người, trừ kẻ đó vướng vào vũng lầy đam mê. Thương yêu mà người này trở thành lính gác của người kia thì có khác gì một chuyến lưu đày.

    Cách biểu hiện đó chứng tỏ người kia vẫn còn nằm ở ngoài ta. Ta vẫn chưa thấy được người kia là một phần của ta và thậm chí người kia cũng chính là ta. Không có cái thấy này tức là ta chưa tiếp xúc được con người toàn vẹn kia. Người kia đâu chỉ có cái hình hài bằng xương bằng thịt. Tất cả những chất liệu mà người kia đã hiến tặng cho ta ngay từ thuở ban đầu như ân tình, tha thứ, che chở, tin yêu… đều là những tinh ba quý giá nhất đã đi vào trong ta và góp phần để ta trở thành như ngày hôm nay.

    Khi ta chưa thấy được đối tượng thương yêu ở ngay trong chính ta thì ta vẫn chưa đến được đỉnh cao của tình yêu. Anh là em và em cũng là anh. Đây không phải là một triết lý cao siêu, nó là một sự thật hiển nhiên mà bắt buộc mỗi cặp lứa đôi phải thấu triệt. Chỉ khi nào ta tiếp xúc được cái bản thể của con người ấy thì ta mới không còn quờ quạng nắm bắt những hiện tượng chỉ nhất thời xảy ra. Ta sẽ không hờn ghen.

    Hờn ghen là biểu hiện của sự đuối sức trong cái nhìn về bản thể của người kia, nghĩa là ta đã vướng kẹt quá nhiều vào phần hình tướng ở ngoài ta. Điều này chẳng tội vạ gì nhưng sẽ làm tính mầu nhiệm linh thiêng của tình yêu phai sắc, nó sẽ trở nên bình thường hóa. Cố nhiên ai cũng có những hạt mầm ích kỷ, nhưng đừng để nó biến thành một nguồn năng lượng quá lớn thì ta sẽ đánh mất giá trị thương yêu. Sống mà luôn bị bao trùm bởi năng lượng chiếm hữu ích kỷ của người bên cạnh thì làm sao sống nổi.

    Nếu ta thực sự ý thức được tất cả những gì ta đã cho người kia và tất cả những gì người kia đã cho ta, chính là ta đã có mặt trong người kia và người kia đã có mặt trong ta thì tại sao ta phải hờn ghen? Hờn ghen có thật là hương vị của tình yêu, là chất keo sơn bảo trì một hạnh phúc, hay nó là trá hình của một cảm xúc bị tổn thương của riêng ta? Ta chẳng quan tâm gì đến cái khát vọng của người kia. Nếu đó là những nhu yếu quá đáng thì ta phải tìm cách điều chỉnh lại nhận thức của người kia. Nếu đó là những nhu yếu hợp lý nhưng lại là khiếm khuyết của ta thì ta hãy xin người đó giúp ta thay đổi. Ta thường không làm được như vậy, chỉ biết làm mọi thứ rối tung lên như để đòi lại sự thương tổn.

    Tất nhiên là tình yêu cao thượng thì sẽ ít có những đòi hỏi chỉ để thỏa mãn chính mình mà không nghĩ đến nỗi khổ niềm đau của đối phương, nhưng đời sống còn chìm trong lãng quên thì con người vẫn còn mắc nhiều lầm lỗi. Lời hứa thủy chung kia họ vẫn nhớ, mái ấm gia đình họ vẫn thương, nhưng đôi khi năng lượng yếu kém thì cũng khó vượt qua được những đòi hỏi của một bản năng rất con người. Trong cơn nhẹ dạ nhất thời họ có thể bị dụ dẫn vào con đường lầm lạc, ta phải tìm mọi cách đưa họ trở về với con người năm xưa thì ta mới đích thực thương yêu. Trách móc, tức giận, hờn ghen hay trừng phạt đều là những phản ứng ích kỷ của cảm xúc, chỉ đẩy người kia đi xa hơn mà thôi.

    Tại vì càng hờn ghen, càng giận tức thì ta càng xấu hơn. Ta đã mất điểm trong mắt người kia, bây giờ lại càng mất điểm hơn. Thái độ khôn ngoan nhứt là trở về làm mới chính mình. Sau đó, nếu có thể thì ta cố gắng mở trái tim ra để ôm lấy những vụng về lầm lỡ của người kia mà đừng nói năng hay đừng làm bất cứ điều gì khiến cho người kia nghĩ rằng ta đang củng cố cái nhà tù cho họ. Khả năng quay về sẽ không khó nếu người kia nhận thấy con đường ấy thật sự an toàn và đầy ắp tình thương.

    Chút biểu hiện hờn ghen tinh tế cũng có thể làm cho người kia thấy mình vẫn còn được thương yêu. Nhưng nếu trở thành một thói quen, một cơn sốt mãn tính, thì người kia sẽ rất mệt mỏi và sợ hãi vì thấy được cái không gian nhỏ xíu mà ta đã qui định cho họ. Lúc nào thoát được khỏi ta mà người kia cũng thở phào nhẹ nhỏm là chứng tỏ tình thương họ giành cho ta chỉ còn là trách nhiệm. Lẽ dĩ nhiên đời sống hôn nhân cần phải có những điều kiện cần thiết để gắn bó, nhưng nếu ta biến những cam kết đó thành ra thứ uy lực răn đe thì không còn là tình yêu nữa, bởi bản chất của tình yêu luôn là sự tự nguyện.

    Cũng như cơn giận, hờn ghen là một loại cảm xúc rất mạnh, dễ phát triển thành một cơn bão và sức tàn phá cũng khôn lường. Ta đừng để lối phản ứng vụng về hời hợt làm thương hại đến những người lân cận, nhất là người mà ta đã từng vay quá nhiều nợ ân tình. Điều cần làm là ta phải ý thức được năng lượng hờn ghen đang xuất hiện trong tâm và lập tức đem hết sự chú tâm trở về nương tựa vào hơi thở. Không nên phản ứng hay quyết định bất cứ điều gì trong lúc cảm xúc còn đang ở mức cao trào.

    Ta đừng nghĩ gì về người kia, đừng tất tã chạy tìm thêm chứng cớ để kết tội. Hãy trở về chăm sóc cảm xúc trong chính ta trước. Tự nhủ lòng nhất định sẽ không vì sự tha hóa của người kia mà ta đánh mất con người dễ thương của mình. Người kia đã là nạn nhân của sự sai lầm, ta cũng trở thành nạn nhân của khổ đau thì còn ai nữa để cứu giúp. Cho nên phải cố gắng vững vàng như ngọn núi, không để cho cơn bão cảm xúc xô ngã niềm tự tin thì mới mong đủ sức để chuyển hóa được tình trạng.

    Cứ tiếp tục duy trì hơi thở thật bền cho đến khi nào ta thật sự bình ổn và tươi mát trở lại. Sau đó ta mới chủ động một cách khéo léo và nhẹ nhàng để tiếp cận người kia. Hãy nhớ là ta đang làm công tác của một người cứu hộ nên không được manh động, đừng để cho người kia bị căng thẳng và sợ hãi thì ta sẽ không tìm hiểu được sự việc và giúp ích được gì cả. Trường hợp ta thực sự thấy mình quá yếu đuối, không thể thoát ra khỏi vũng lầy khổ đau vì năng lực hờn ghen quá lớn thì hãy nhờ bên kia giúp đỡ. Viết một thiệp báo cho họ biết là ta đang rất khổ vì hờn ghen và xin quay về giúp ta lấy năng lượng đó ra.

    Người kia mà một người có hiểu biết và tình thương với ta thì chắc chắn sẽ không từ khước một lời thỉnh cầu thành khẩn như vậy. Nhân lúc người kia có thiện chí quay về giúp đỡ ta hãy xin họ nói cho ta biết là ta đã có những vụng về khiếm khuyết nào cần phải thay đổi, và ta nên làm gì hay không nên làm gì để được đáng yêu hơn. Nhớ đừng bao giờ dùng tới hình thức khổ nhục để khiến họ động lòng trắc ẩn, cách giải quyết nhứt thời đó sẽ làm cho họ mau chóng khinh lờn và trở thành chay cứng trong cảm xúc.

    Ta có tới hằng trăm nghệ thuật để nắm bắt trái tim người, không cần phải dùng tới cách hờn ghen bóng gió mà làm hư hại đến niềm tin kính lẫn nhau. Tình yêu vì vậy sẽ xanh xao, càng cố yêu lại càng yếu sức. Có khi không nắm mà ta nắm được tất cả, nhưng khi ta muốn nắm tất cả thì lại không nắm được gì. Đó là điều bí ẩn của cuộc sống, kẻ nào nắm được chiếc chìa khóa này sẽ trở thành kẻ có uy lực mạnh mẽ nhất trong tình yêu.

    Trích "hiểu về trái tim"

    Tạp bút

  • Nghệ thuật nắm bắt sự sống
    chequangtho

    Này bạn! Buổi sáng thức dậy bạn đừng vội bước xuống giường, hãy ngồi cho ngay ngắn và thở vài hơi cho thật khỏe, ý thức là ta đang còn đây và sự sống vẫn còn đó. Thầm cảm ơn đất trời cho ta thêm một ngày nữa để sống, một ngày tinh khôi mà ta có quyền đem hết con người của ta ra để sống.

    Ngày hôm qua có thể ta còn nhiều vụng về trong khi nói năng, hành động hay suy tư nên đã khiến cho ta và người kia đều không có hạnh phúc. May mắn thay là ta có thêm một ngày nữa để làm mới lại những lầm lỡ đó. Ta sẽ sử dụng trọn vẹn hết một ngày, không để cho những lo lắng, phiền muộn làm sứt mẻ hay hư hao bất kỳ giờ phút nào nữa hết.

    Bắt đầu một ngày mới bằng một nụ cười tươi tắn trên môi sẽ đem tới cho bạn nhiều an lạc và sức sống. Bạn hãy viết sẵn chữ “cười” dán trên vách hay cắm một cành hoa ngay bên giường ngủ làm dấu hiệu nhắc nhở bạn mỉm cười ngay khi thức dậy để ăn mừng sự sống. Bạn sẽ nhớ ra rằng hôm nay mình có hẹn cùng sự sống với tư cách là sứ giả của tình thương. Lúc nào nhớ thì bạn hãy nở nụ cười liền cho các cơ bắp trên gương mặt được thư giãn và tinh thần được nhẹ nhàng. Nụ cười làm cho bạn sống được với chính mình trong giây phút hiện tại, vì khi cười thì mọi tư duy đều không còn nữa. Vì vậy nụ cười mang tính trị liệu cho chính bạn và cả đối tượng mà bạn đang tiếp xúc.

    Bước vào phòng vệ sinh bạn cũng có thể tiếp tục thực tập sự nhận biết, nắm bắt sự sống. Bạn có khả năng đánh răng trong vòng ba phút không? Đó là một thách đố. Nha sĩ thường khuyên khi đánh răng nên để kem trong miệng ít nhất là một phút thì mới không bị sâu răng. Bạn hãy đánh với niềm hạnh phúc lớn lao vì bạn vẫn còn răng để đánh mỗi ngày. Trong nhận biết sáng tỏ đó, bạn sẽ có thái độ trân quý và giữ gìn.

    Tại sao bạn không có ba phút để đánh răng nếu bạn cho rằng việc đánh răng là thật sự quan trọng? Hãy nhớ lại những ngày răng bị đau nhức, rất khổ sở. Hãy liên tưởng đến những người không còn điều kiện để đánh răng nữa, thật tội nghiệp. Nếu bạn có khả năng đánh răng một cách khoan thai và cẩn thận trong vòng ba phút thì đó là chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa thành công lớn lao trong cuộc đời bạn.

    Người hành thiền vững chãi chỉ cần nhìn vào cách đóng cửa của bạn là có thể biết được đời sống tinh thần của bạn như thế nào? Bạn thường không để ý những chuyện vặt vãnh đó. Có gì quan trọng lắm đâu mà phải đặt hết tâm lực vào chuyện đóng cửa? Nhưng tất cả quan trọng của sự sống đều nằm ở chỗ đó. Sự kiện bạn đóng cửa trong tư thái tĩnh lặng nhẹ nhàng là một thực tại mầu nhiệm, chứng tỏ bạn đang sống và có nhiều an lạc. Nếu trong tâm bạn đang vướng kẹt bởi những nỗi lo lắng thì bạn không còn khả năng an trú trong giây phút hiện tại được nữa. Bạn không còn ý thức cái gì đang xảy ra trong bạn và chung quanh bạn. Bạn hoàn toàn bị lu mờ trước đối tượng. Bạn đóng cửa mà tâm bạn không hề có mặt ngay nơi đó, đã phóng đi rất xa, nên khi cánh cửa kêu cái “rầm” thì bạn mới giật mình e ngại.

    Khi bạn đóng cửa mà không có sự nhận biết, tâm ý đang lang thang đâu đó để tiếng kêu phát ra làm bạn sực tỉnh thì liền lập tức hãy quay trở lại thực tập đóng cánh cửa đó thêm một lần nữa. Lần này chắc chắn bạn sẽ thành công. Để xuống một tách trà cũng vậy. Bạn nên kiên trì để lại tách trà đó cho nhẹ nhàng hơn nếu lần trước thất bại. Vấn đề không phải để làm đẹp lòng người khác, mà bạn đang tập sống và làm chủ lấy chính bản thân mình. Đó vừa là bí quyết của sự luyện tập, cũng vừa là thái độ kiên quyết nắm lại sự sống mấp mé vuột khỏi tầm tay. Bạn vẫn còn kịp.

    Những người trẻ sống trong xã hội hiện nay rất bận rộn, đầu tắt mặt tối với công việc nên họ luôn ước ao có nhiều thời gian để nghỉ ngơi. Nhưng khi có cơ hội được ngồi xuống để nghỉ ngơi thì họ lại tiếp tục tìm cách lao tác thể xác và cả tinh thần. Họ phải nghe nhạc, xem ti vi, lên internet, dùng điện thoại hay làm bất cứ cái gì để cho họ đừng ngồi không. Họ không thể ngồi mà không làm gì hết. Ngồi mà không làm gì hết thì họ cho đó là một sự chết hay một cực hình chán ghét. Thậm chí họ sợ luôn cả ngồi xuống để suy tư cho thấu đáo một vấn đề. Họ tìm cách giải quyết vấn đề ngay khi họ làm công việc khác. Họ không muốn rơi vào tình trạng lạc lõng mà không có gì để bám víu. Rất kỳ lạ. Đáng lẽ họ cũng có nhiều cơ hội để được ngồi yên, nhưng họ chưa biết ngồi yên được bao giờ.

    Khi còn có thể ngồi yên được thì bạn hãy ăn mừng vì bạn còn điều kiện để quay về, cuộc hành hương của bạn có thể chưa quá xa. Ngồi yên là một nghệ thuật sống. Ngồi yên là ngồi trong thảnh thơi, tâm không bận về quá khứ hay tương lai. Bạn chấp nhận hiện tại một cách tuyệt đối và sống sâu sắc trong từng giây phút mầu nhiệm ấy. Bạn không muốn chạy ngược xuôi nữa. Bạn chỉ muốn ngồi xuống thật yên với ý nghĩa nghỉ ngơi trọn vẹn. Ngồi yên chính là ngồi thiền, thân và tâm của bạn sẽ ở yên một chỗ, không còn lăng xăng dông ruỗi nữa.

    Trong suốt quá trình ngồi thiền bạn đừng nghĩ là mình sẽ đạt được cái gì. Ngồi thiền trước hết là để được nghỉ ngơi trọn vẹn. Bạn hãy để cho những căng thẳng, lo âu, phiền muộn trôi đi như những dây rong rêu trôi theo dòng nước trong khi tảng đá dưới nước vẫn nằm yên bất động. Bạn chỉ nắm giữ mỗi nụ cười hàm tiếu trên môi và hơi thở mà thôi. Hơi thở là đối tượng duy nhất để bạn đặt tâm vào đó một cách an toàn và vững chãi, tại vì hơi thở luôn ở trong bạn và có mặt bất kỳ lúc nào. Tuy bạn cần có những bước đi xa hơn nữa trong thiền tập, nhưng nền tảng căn bản vẫn là thiết lập sự nhận biết sâu sắc và bền vững trên từng đối tượng hiện hữu trong giây phút hiện tại, đặc biệt là hơi thở.

    Chủ động được hơi thở là chủ động được thân tâm mình. Mỗi khi tâm ý tán loạn, chỉ cần trở về nhận biết, quan sát và nương tựa từng hơi thở vào ra từ dịu dần, êm dần, lắng dần, sâu dần, dài dần rồi trở nên im lắng và sâu thẳm thì tâm ý bạn sẽ lắng xuống như hồ nước trong, không còn bị phân tán và lôi kéo nữa. Khi phát hiện ra cơn bão cảm xúc như giận hờn, sợ hãi, nghi ngờ hay tuyệt vọng đang dâng tràn thì bạn hãy lập tức quay về với hơi thở nhận biết, tức là ẩn náo ngay chính thân tâm mình, thay vì bạn chạy theo đối tượng mà bạn ngỡ là tác giả gây ra đau khổ cho bạn. Trong điểm đỉnh nguy kịch ấy, bạn chưa có thể làm gì khá hơn thì hãy nương tựa vào hơi thở, không tiếp tục nuôi dưỡng cảm xúc nữa thì bạn sẽ tạm thời vượt thoát tình trạng.

    Đi cũng là bài thiền tập quan trọng. Dường như ta chưa thực sự đi bao giờ. Tại vì phải hết tâm ý trong khi đi, đi để mà đi chứ không phải đi để làm cái gì khác mới gọi là đi. Ta thường có mục đích trong khi đi. Ta coi việc đi chỉ là một phương tiện để đạt tới cứu cánh của cuộc sống.

    Khi bạn đi xuống bếp ăn cơm thì bạn luôn nghĩ ăn cơm là mục đích chính, là cái quan trọng cần đến, chứ ít khi nào bạn nghĩ rằng những bước chân đi tới chỗ ăn cơm cũng quan trọng ngang bằng hoặc có khi hơn cả việc ăn cơm nữa. Đi cũng là một sự sống chứ không chỉ ăn mới là sự sống. Vậy trước khi nắm lấy sự sống là ăn cơm, thì bạn đừng hoang phí sự sống đang hiện ra trong từng bước chân. Những người mới bước ra từ trong tù, hay từ dưới một trận động đất, hay từ trên chiếc nạn gỗ sau một tai nạn giao thông thì được đi trên đôi chân kỳ diệu của mình là điều mong muốn nhất của họ. Đi bấy giờ trở thành điều kiện hạnh phúc nhất trên đời mà không có gì có thể sánh hơn được nữa.

    Bước đi trong nhận biết là bạn đang đi trên đôi chân khỏe mạnh của mình, ngày mai có thể không còn cơ hội này nữa, sẽ đem lại cho bạn nhiều hạnh phúc. Bước chân của bạn sẽ trở nên chậm rãi hơn, nhẹ nhàng hơn và thong dong hơn. Bạn không còn vội vàng, hấp tấp như bị ma đuổi. Đi trong nhận biết sáng tỏ trở thành một nguồn cảm hứng vì nó là thức ăn nuôi dưỡng và trị liệu cho thân tâm bạn. Đi vừa là phương tiện vừa là mục đích của cuộc sống. Bạn sẽ không còn sợ đường đời quá mênh mông mà không biết bao giờ mới chạm tới hạnh phúc, vì nó nằm ngay dưới chân bạn.

    Có khi bạn đang đi giữa ban ngày mà như đang đi trong giấc mộng, đi mà không biết đi đâu. Tâm bạn bận suy tư về quá khứ, hay lo lắng tương lai nên không có mặt với bước chân. Có khi bạn vấp váp, va chạm hay đứng ngẩn người ra vì bạn không nhớ mình đi tới đây để làm gì. Tệ thật! Người khác có thể thấy được đời sống của bạn bận rộn hay thảnh thơi qua bước chân của bạn. Đôi khi bạn có cả ngày để nghỉ ngơi nhưng bạn vẫn cứ đi như là bận rộn lắm vậy, lúc nào cũng lẹ làng tất tã như những người buôn gánh bán bưng sợ trễ phiên họp chợ. Đó là thói quen lâu đời, danh từ chuyên môn gọi là tập khí.

    Chính tập khí đi để tiến tới mục đích chứ không sống trong từng bước chân sẽ dẫn tới ý niệm tìm hạnh phúc ở tương lai, ở cuối con đường. Nếu bạn nếm được hạnh phúc trong từng bước chân thì bạn đã nắm được nguyên tắc của cuộc sống, bạn đã nắm được sự sống. Bước đi trong thảnh thơi là hạnh phúc của người có nhu yếu được đi. Ai mà không có nhu yếu được đi, chỉ tại vì ta đang bị kẹt vào những nhu yếu khác có mãnh lực hơn nên cuốn hút ta mất thôi.

    Nếu có khả năng sống an lạc trong từng bước chân thì ta đem tới mặt đất này rất nhiều năng lượng tình thương. Người ta đã để lại trên trái đất này không biết bao nhiêu vết hằn của nóng nảy, giận hờn, thù hận rồi thì ta phải có trách nhiệm bù đắp lại bằng chính bước chân tỉnh thức mỗi ngày của mình. Khi đặt bước chân xuống mặt đất ta nguyện sẽ đặt những bước chân an lạc và thảnh thơi cho cõi thế gian này được lành lặn và mỗi ngày thêm tươi mát. Bước đi bằng năng lượng đó thì ta sẽ có khả năng nhìn vạn vật bằng con mắt thương yêu giống như chính bản thân ta. Ta thấy giữa ta và vạn vật không còn cách biệt nữa. Ta và vạn vật nằm chung nỗi đau thương và hạnh phúc.

    Thức dậy nở nụ cười

    Một ngày mới cho tôi

    Nguyện sống trong tỉnh thức

    Yêu thương khắp muôn loài

    Tạp bút

  • Hiến Tặng
    chequangtho

    Trong truyền thống văn hóa Việt Nam luôn nhắc tới phước như một sự thực tập căn bản quan trọng để tạo nên phẩm chất cao đẹp của con người.

    Phước là hành động làm lợi ích cho kẻ khác bằng biểu hiện cụ thể như tài vật, năng lực, thời giờ. Ngay cả một câu nói khích lệ, một ánh mắt chia sẻ cảm thông, một nụ cười hoan hỷ chấp nhận cũng là hành động tích cực sinh ra phước.

    Nói cách khác, phước là nguồn năng lượng tốt phát sinh từ nơi tâm của người hiến tặng. Mà trong nguyên tắc tự nhiên, năng lượng tụ lại nơi cơ chế phát sinh bao giờ cũng nhiều hơn năng lượng phóng đi. Chưa kể khi năng lượng phóng đi, sẽ tùy theo điều kiện thích hợp mà nó liên kết với những nguồn năng lượng có cùng tần số đang bàng bạc trong vũ trụ, để phản hồi lại ngay nơi cơ chế gốc với một nguồn năng lượng gấp bội.

    Năng lượng phát sinh từ tấm lòng muốn giúp đỡ kẻ khác có công năng rất mầu nhiệm. Nó có thể khơi dậy những hạt giống tích cực trong chiều sâu tâm hồn ta, có thể nuôi dưỡng những phẩm chất quý giá mà ta đang sử dụng, có thể lấn áp hoặc chuyển hóa những nguồn năng lượng xấu do ta lầm lỡ gây ra trong quá khứ, có thể che chắn những năng lượng độc hại từ môi trường bên ngoài tràn vào để kích hoạt những hạt giống xấu.

    Nhưng phần lớn chúng ta đều cho rằng chỉ có người hiến tặng mới quan trọng. Sự thật, người nhận cũng quan trọng ngang bằng với người hiến tặng, vì người nhận chính là đối tác giúp cho năng lượng tình thương nơi người cho phát sinh. Không có gì sai khi phát biểu rằng, nếu không có người nhận cũng không có người cho.

    Có phải đôi lúc ta muốn làm một điều gì cho ai, nhưng họ lại khước từ hoặc là họ không còn có mặt ở đây nữa, nên ý niệm đó sẽ không thể nào thực hiện được, ta không thể gọi là người cho. Vậy nên người cho phải cần người nhận. Dù hành động cho chỉ là biểu lộ của tình thương chứ không hề có ý tạo phước gì cả, nhưng một điều rất căn bản mà chúng ta thường hay quên đó chính là vị trí quan trọng của đối tượng tiếp nhận.

    Người nhận biết ơn và trân quý người cho đã đành, mà người cho cũng phải biết ơn và trân quý người nhận nữa. Đó là nguyên tắc rất sâu sắc tạo nên sự cân đối và hòa bình trong các mối liên hệ.

    Thực tế cho thấy kẻ cho thường dễ mắc sai lầm này, chứ ít khi nào người nhận dám tự cho mình là quan trọng. Người cho hay tỏ thái độ ban phát của kẻ bề trên, đôi khi còn đòi hỏi bên kia phải hết lòng thành khẩn hay quỳ lụy trước mình thì mới chịu giúp đỡ.

    Cái đó chỉ là một sự đổi chác, tôi cho anh cái này thì anh phải cho tôi lại cái kia, đích thực không phải là một sự hiến tặng.

    Người cho nếu không cảm nhận được niềm vui khi thấy người nhận thoát khỏi khó khăn hay hạnh phúc hơn, cũng như không thấy được nhờ người nhận có khó khăn hay thiếu hạnh phúc nên tình thương trong ta mới có cơ hội phát sinh và lớn mạnh, nghĩa là vẫn chưa thấy được cho cũng chính là nhận, thì thế nào những đòi hỏi cũng phát sinh và mâu thuẫn trong các mối quan hệ bắt đầu xảy ra.

    Khi thương yêu một người nào ta thường hay chủ quan cho rằng mình hoàn toàn vì người đó. Nhưng khi vì một lý do gì đó mà họ không còn hay ho, không còn dễ thương, hay mắc phải một lầm lỗi lớn thì ta có còn thương họ được nữa hay không? Chắc là không. Nhưng tại sao?

    Lẽ dĩ nhiên trong một liên hệ nào cũng cần kèm theo những điều kiện thì mới có thể đi đến và thắt chặt với nhau, nếu đó không phải là tình cảm thiêng liêng của cha mẹ hay tình thương của những bậc từ bi. Dù vậy, càng bớt đi những điều kiện cho nhau, nghĩa là mỗi bên cần phải bớt đi những nhu yếu ích kỷ của mình, phá bỏ ranh giới riêng biệt giữa mình với người kia, thấy được khó khăn hay nỗi khổ của người kia cũng chính là của mình, thì tình thương sẽ vượt lên đỉnh cao, đạt tới mức chân thật.

    Ta thấy nhiều người rất tội nghiệp, càng thương yêu thì càng trở nên khô héo, trái tim co rút lại. Tại vì họ bị hụt hẫng và thất vọng khi thấy những gì mình cho đi quá nhiều nhưng không được bù đắp một cách xứng đáng. Mà phần lớn những điều kiện của họ chính là muốn sở hữu người kia một cách tuyệt đối. Bỏ ra ít nhưng muốn thu lại nhiều thì chỉ là một sự đầu tư trong thương mãi, chứ không phải thương yêu.

    Trong khi tình thương chân thật là phải biết đặt lợi ích của đối tượng ngang bằng hoặc lên trên quyền lợi của mình. Để cho người kia được hạnh phúc, dù phải chịu thiệt thòi, ta vẫn chấp nhận và vẫn thấy hạnh phúc như thường. Bởi lẽ càng cho đi thì tình thương trong ta càng lớn mạnh, và dung lượng trái tim của ta sẽ càng nới rộng ra. Nghĩa là một tình thương chân thật bao giờ cũng gắn liền với sự hy sinh, bao dung và chấp nhận.

    Có lần bà Shanon, một thiếu phụ người Mỹ rất hiền hậu và tốt bụng, đến thiền thất của tôi để xin làm một quyết định. Con chó của bà đã già yếu, không còn ăn uống được nữa và nằm một chỗ rất khó nhọc. Mỗi lần có ai đi ngang qua, nó luôn ngước nhìn theo mà nước mắt lưng tròng, trông rất thảm não.

    Bác sĩ thú y đã khuyên bà đừng để nó tiếp tục trong tình trạng đau đớn như vậy, hãy tiêm cho nó một mũi thuốc để kết thúc. Bà biết điều bác sĩ khuyên là cần thiết, nhưng bà không làm được. Bà cảm thấy quá xót xa vì con chó đã ở với bà suốt mười lăm năm trời, và nó là người bạn thân thiết nhất trong những ngày tháng cô đơn giữa vùng núi non hiu quạnh. Tại vì bà đã ly hôn từ nhiều năm qua.

    Tôi đã hỏi bà Shanon là nếu bà đã biết con chó đang trong tình trạng sống lây lất đau khổ như vậy thì lý do bà muốn níu kéo là thật sự vì con chó hay vì chính bà? Bà Shanon im lặng rất lâu mà vẫn chưa tìm thấy câu trả lời.

    Tôi nói nếu bà lấy cảm xúc bảo vệ sự cô đơn của mình ra, để đặt vào nỗi khổ sở của con chó thì bà sẽ hiểu nó muốn gì ngay trong lúc này. Bà thật sự thương nó thì bà hãy làm theo ý của nó đi. Bà phải can đảm và chấp nhận sự mất mát này để đối tượng thương yêu của bà được mãn nguyện, hạnh phúc.

    Mắt bà Shanon bỗng sáng lên, ra chiều thấm thía. Bà đồng ý theo lời khuyên của bác sĩ và theo sự hướng dẫn của tôi. Chiều ngày hôm đó, tôi đã nhận lời thỉnh cầu của bà đến tụng kinh cầu nguyện cho con chó, mặc dầu bà ta theo đạo Tin lành.

    Khi nghe một người thân đang trong cơn hấp hối, ta thường hốt hoảng lo sợ. Ta quỳ trước Chúa hay trước Phật để cầu nguyện cho người đó đừng chết. Câu hỏi được đặt ra là trong chiều sâu của ý nguyện đó, ta hoàn toàn vì muốn người kia vượt thoát tình trạng khổ đau để được sống tiếp, để được thừa hưởng những quyền lợi từ cuộc sống, gia đình và cả bản thân ta nữa, hay chỉ vì ta sợ mình phải chịu cô đơn lạc lõng, sợ mất người ấy rồi sẽ không còn ai thương yêu và nâng đỡ?

    Hai thái độ khác nhau. Một cái vì người, một cái vì mình. Cũng có khi ta rơi vào tình trạng nửa vì người và nửa vì mình, thì sự nguyện cầu đó cũng khó thành công được.

    Công tác từ thiện cũng vậy. Nhiều người có thể bỏ rất nhiều tài vật, năng lực và thời gian ra để giúp đỡ những kẻ đang gặp những hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh. Hồi đầu vì tình thương mà họ làm, nhưng sau vì thiếu khả năng kiểm soát tâm tự mãn, cộng thêm những cảm xúc biết ơn và quý trọng của người nhận, đã khiến cho họ mau chóng vướng kẹt vào danh dự, luôn thấy sự quan trọng trong vị trí bố thí của mình.

    Họ dễ dàng giận hờn khi người nhận không thể hiện sự niềm nở quan tâm đặc biệt. Họ có thể nổi quạo hoặc la hét khi bên kia thực thi không đầy đủ những điều họ đã đề ra. Họ còn tự cho mình cái quyền trách móc, phê phán hay nghi ngờ người kia đã không sử dụng đúng mức tặng phẩm giá trị của mình.

    Cho nên nhiều người làm công tác từ thiện lâu năm mà vẫn không có hạnh phúc. Nhân danh tình thương họ đã vung vãi không biết bao nhiêu năng lượng độc hại từ lời nói và hành động đầy uy lực của mình. Đôi khi ta còn chứng kiến vài người làm công tác cứu hộ mà lại tỏ thái độ hất hủi coi khinh kẻ khác. Họ có thể bỏ ra cả khối tiền bạc cho những chương trình ủy lạo đang là tâm điểm chú ý của báo đài, nhưng cũng dễ lạnh lùng trước một đứa bé bất hạnh đói khát giữa đường hay bị tai nạn trong bóng đêm.

    Hóa ra làm từ thiện cũng là một loại biểu diễn, trong đó, họ luôn cần khán giả tưởng thưởng nồng nhiệt. Có khi hiến tặng xong thì họ lại sinh tâm hối tiếc, hoặc biểu lộ những phản ứng rất kỳ cục. Tại vì bên nhận đã không tiếp tục vinh danh, ca ngợi và nồng nàn với họ như trước nữa. Trong khi “từ thiện” có nghĩa rất đẹp, đó là hành động làm lợi ích cho kẻ khác xuất phát từ sự rung cảm chân thành của trái tim.

    Cho nên tính ủy lạo phải chứa đựng tâm từ. Tâm từ là tình thương không điều kiện. Ta không đòi hỏi bên kia phải làm thế này hay thế kia thì ta mới chịu giúp. Thương là cứ thương, giúp là cứ giúp, không phân biệt đối tượng kia là ai, có xứng đáng hay không, vì nó không đứng trên lợi ích của cá nhân.

    Không phải trở thành một bậc thánh thì ta mới có tâm từ. Chẳng phải có đôi lúc tâm ta bỗng trở nên rộng lớn, ta chấp nhận hay tha thứ cho người kia một cách rất dễ dàng, đó chính là lúc năng lượng trong ta đang dồi dào. Muốn cho năng lượng dồi dào thì trước tiên ta phải có một nhận thức sáng suốt và một quá trình luyện tập đúng đắn.

    Nhận thức sáng suốt là thấy mình phải nhờ vào ân tình của vô số điều kiện trong vũ trụ này thì mình mới có thể tồn tại và hạnh phúc được. Cho nên hãy luôn dễ chịu và tỏ lòng biết ơn tất cả, hãy cố gắng giúp đỡ trong điều kiện có thể để ta và họ không còn sự cách biệt, bởi khi nào xóa bỏ được lằn ranh cao thấp giữa mình và người khác thì lúc ấy tâm của ta mới nhập vào đại thể bao la. Tâm càng lớn thì sự tự do của ta sẽ càng lớn.

    Quá trình luyện tập phải bắt đầu từ những lúc bình thường, khi chưa có vấn đề cấp bách xảy ra. Hằng ngày ta nên tập gửi tâm từ của mình đến những đối tượng ở chung quanh.

    Mỗi khi chạy bộ trên con đường bóng mát, ta hãy thực tập gửi năng lượng bình an và tình thương đến những hàng cây, mong cho chúng luôn xanh tốt và vững chắc. Khi tiếp xúc với dòng sông, ta hãy gửi năng lượng tươi mát và ngọt ngào theo dòng sông đến tận những miền xa để tô bồi thêm phù sa cho những bên đất lở. Khi nhìn một áng mây trôi ta cũng có thể gửi năng lượng an lạc, nhẹ nhàng trong ta để đám mây kia có thêm sức mạnh làm trách nhiệm đem mưa đến những cánh đồng nho hay những đám mạ non.

    Khi thấy một bé thơ đến trường ta hãy dùng tâm từ để ôm em vào lòng, cầu nguyện cho em giữ mãi lòng thật thà và trong sáng. Khi bắt gặp một người gánh hàng rong bên đường, ta có thể chia sẻ năng lượng ấm áp để an ủi phần nào những vất vả gian lao. Khi nghe tin một người xa lạ đang rơi vào tình trạng bế tắc khổ đau, ta hãy gửi năng lượng tình thương để che chở và cầu nguyện cho người ấy mau thoát nạn.

    Khi được tin trận động đất đã cướp đi sinh mạng của hàng vạn người, nếu không có điều kiện cứu hộ trực tiếp, ta hãy buông bỏ bớt sự hưởng thụ, giành nhiều thời gian và tâm lực cho việc tích tụ năng lượng an lành phóng tới nơi ấy để kịp thời góp phần xoa dịu. Vài trăm bạc gửi đi cũng không bằng tình thương của ta được thể hiện trong vài ngày hay một tuần lễ sống vì những nạn nhân ấy.

    Bởi năng lượng tâm từ rất mầu nhiệm, một khi được phóng ra từ sức mạnh trong tâm thì nó sẽ lên đường xâu kết với năng lượng tâm từ của những người khác trong vũ trụ này để kết thành một hiệu ứng đáng kể. Hiệu ứng này không chỉ làm xoa dịu những nỗi khổ niềm đau tạm thời, mà còn giúp cho những nạn nhân kia không rơi vào vực thẳm của tâm thần hay trầm cảm, mau chóng hồi phục và có thể làm nên những điều kỳ diệu khác nữa.

    Một người tạo ra năng lượng tâm từ đã có công năng to tát như vậy, nếu mười người hay một trăm người cùng thực tập thì sức chuyển hóa sẽ không thể nào lường nổi. Cho nên để cứu vãn tình trạng thiên tai hay chiến tranh đang còn diễn ra khắp nơi trên thế giới, con đường duy nhất là chúng ta phải buông bỏ sự ích kỷ hưởng thụ, để cùng nhau chế tác năng lượng tâm từ qua nhiều hình thức trong đời sống chánh niệm.

    Một điều hết sức kỳ diệu là tâm từ càng lớn thì hiểu biết trong ta sẽ càng lớn, nghĩa là những phiền não trong tâm cũng không còn không gian để sống, vì không gian của phiền não chính là u mê. Đời sống không còn những u mê, không còn những nhận thức sai lầm là đời sống của một cõi bình an và hạnh phúc, con người biết sống trọn vẹn với chất liệu chân thật nguyên sơ của mình.

    Thắp lên ngọn lửa hồng

    Ấm áp cả trời đông

    Giữa cõi đời lạnh lẽo

    Cần nhau một tấm lòng

    Tạp bút

  • Bình An
    chequangtho

    Khi ý thức được giá trị hạnh phúc chỉ luôn có mặt trong thực tại, ta mới chấp nhận dừng lại cuộc dông ruỗi đi tìm kiếm và nắm bắt những gì thuộc về tương lai. Như ăn cơm mà cảm thấy ngon, ngắm bình hoa mà cảm thấy đẹp, ngồi bên người thương mà cảm thấy ấm áp là chứng tỏ tâm của ta đang an ổn, đang giữ được mức quân bình, đang ý thức rõ ràng những giá trị hạnh phúc mà mình đã từng nâng niu và gìn giữ. Mặc dù cuộc sống là luôn đi tới, ta cũng không ngừng vận động và sáng tạo, nhưng đó cũng vì nhu cầu thiết yếu để tồn tại, hoặc có thêm chút hương vị mới cho vui, hay để góp thêm bàn tay xây dựng cuộc đời, chứ những điều kiện của hạnh phúc thì ta đã có trong hiện tại rồi.

    Vấn đề là ta có nhìn ra chúng là điều kiện của hạnh phúc hay không? Tại vì cũng có những lúc ta ăn cơm không cảm thấy ngon, ngắm bình hoa không cảm thấy đẹp, ngồi bên người thương không cảm thấy ấm áp, và ta hay có khuynh hướng đổ thừa tại thức ăn, bình hoa hay người ấy, chứ ít khi nào ta chịu nhìn lại mình để thấy tâm của mình đang có khó khăn, có thể nó đang rơi xuống một vị trí rất thấp nên không còn khả năng quan sát hay nhận xét giá trị thực tại một cách nhạy bén và đúng đắn nữa. Đó là tình trạng tâm bất an, đang bị vướng kẹt hoặc bế tắc ở vùng nào đó trong tâm chứ không phải tại hoàn cảnh.

    Thông thường tâm ta gắn kết chặt chẽ với hoàn cảnh, dễ bị tác động bởi hoàn cảnh, khi hoàn cảnh có xảy ra vấn đề gì thì tâm ta đều bị lãnh đủ. Tại vì ta đặt quá nhiều niềm tin vào hoàn cảnh, ta cho rằng ta chỉ thật sự hạnh phúc khi nắm bắt được cái này cái kia từ những điều kiện thuận lợi bên ngoài. Giờ phút nào ta chưa toại nguyện, hoàn cảnh xảy ra hoàn toàn trái ngược với những mong cầu thì tâm ta không thể nào an được. Cho nên ta thường mơ hồ về bản chất của hạnh phúc, không biết nó có thật hay chỉ là một thứ ảo ảnh, vì nó cứ chợt gần chợt xa, chợt hiện chợt ẩn, chợt có chợt không. Hạnh phúc mà còn bị điều kiện hóa, còn lệ thuộc vào sự may rủi của hoàn cảnh, còn nằm trong sự ảnh hưởng quá lớn của đối tượng khác thì hạnh phúc đó không thật sự là của ta, ta không thể kiểm soát hay giữ nó mãi được.Tuy hạnh phúc ấy có thật nhưng bản chất của nó là tạm bợ.

    Mà làm sao ta có thể kiểm soát được mọi hoàn cảnh, làm sao ta có thể bắt mọi thứ phải theo ý của mình thì mình mới toại nguyện? Đó là một ý niệm rất ngây thơ, vì bất kỳ một sự vật hay sự việc nào trong trời đất này đều xảy ra theo nguyên tắc của duyên sinh và nhân quả, nghĩa là nó luôn nương tựa vào vô số điều kiện bên ngoài và theo tiến trình có gây nhân thì phải nhận quả, mà tâm thức chưa vượt tầm của con người sẽ không thể nào tiên đoán chính xác được. Người xưa hay nói muốn thành tựu việc gì cũng phải dựa vào ba điều kiện lớn: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Thiên thời là năng lượng của vũ trụ có sẵn sàng hiến tặng cho ta để cùng ta làm nên việc ấy hay không? Địa lợi là tình trạng xã hội như kinh tế, văn hóa, an ninh chính trị… có thích hợp để ta thực hiện kế hoạch to tát ấy không? Nhân hòa là mọi người có chấp nhận và ủng hộ ta không, hay là chống đối?

    Thiếu một trong ba điều kiện đó thì ta không thể thành công được. Có khi những điều kiện trong ta đã sẵn sàng rồi, tài năng và bản lĩnh có thừa, nhưng điều kiện bên ngoài không thuận lợi thì ta cũng đành chịu. Và cũng có khi điều kiện bên ngoài đã đầy đủ cho ta rồi nhưng chính trong ta lại thiếu thốn, thiếu đức thiếu tài, thì cũng không thể làm nên sự việc, hoặc thành tựu rồi thì lại sớm vỡ tan. Vậy mỗi khi ta đặt ra mong muốn gì thì cũng phải biết nhìn trong nhìn ngoài cho cẩn thận. Cái mà ta có thể kiểm soát được chỉ là chính ta thôi, còn hoàn cảnh thì ta phải dùng tới hai chữ “hên xui”.

    Nhiều khi trong cái xui nó lại chứa cái hên, và nhiều khi trong cái hên nó lại mang theo cái xui. Điều này có liên quan đến cách ta sử dụng những điều kiện hên xui ấy như thế nào, nghĩa là chính năng lượng tốt hay xấu trong ta sẽ thích ứng và gắn kết với điều kiện tốt hay xấu của hoàn cảnh hay của đất trời. Cho nên khi sự việc bất thành thì ta đừng có lo lắng hay khổ tâm, đừng gắng gượng chạy tìm mọi phương cách để thay đổi nó, vì ta sẽ không bao giờ làm được hoặc nếu làm được thì cũng rất mong manh. Thái độ khôn ngoan nhất là hãy trở về kiểm tra lại năng lượng của mình, mà năng lượng tốt hay xấu của ta do chính tâm ta sản xuất ra, vậy thì, nuôi dưỡng và giữ gìn những phẩm chất trong tâm quan trọng hơn là nắm bắt hoàn cảnh. Khi tâm an thì cảnh sẽ an.

    Như vậy trước nay những khi ta có được trạng thái tâm an chính là do hoàn cảnh rất thuận lợi hay những người chung quanh rất dễ thương với ta. Nói cách khác là ta được toại nguyện nên tâm không còn khắc khoải mong cầu hay ray rức kháng cự điều gì nữa. Ta hoàn toàn chấp nhận những gì mình đang có trong hiện tại. Nhưng một khi điều kiện may mắn ấy không còn nữa, nó suy giảm hay thay đổi đột ngột, nên ta dễ dàng hụt hẫng và trở thành nạn nhân của khổ đau. Vậy nên ta hãy thường xuyên kiểm tra lại thực chất tâm an mà mình đang có, coi chừng nó đang bị điều kiện hóa, nó không phải là của ta. Cũng như ta hãy nhìn lại tâm bất an của mình, có phải nó đang bị hoàn cảnh tấn công hay không làm cho ta thỏa mãn? Hãy tìm cách buông bỏ thái độ bám víu ấy đi. Nên nhớ cái gì mà do hoàn cảnh đem tới là có thể thay đổi được, nó chỉ có giá trị nhất thời mà thôi.

    Tâm an cảnh sẽ an

    Khi tâm bình an thì những hạt giống tốt lành trong ta mới có cơ hội phát triển. Tại vì thường ngày ta hay sống bằng cảm xúc, bằng những phản ứng bảo vệ cái tôi ích kỷ của mình, nên nó che khuất những hiểu biết sâu sắc mà ta vốn có. Khi mặt hồ tâm phẳng lặng và trong suốt thì ta mới thấy hết những gì đang ẩn tàng trong chiều sâu tâm thức, lúc ấy ta mới biết mình nên làm gì hay không nên làm gì để mình có thể chế xuất ra những năng lượng tốt. Nói cách khác, lý trí là thuộc tính của tâm an và cảm xúc là thuộc tính của tâm bất an. Nếu biết cách giữ cho tâm an thì ta sẽ luôn hài lòng và sẵn sàng chịu trách nhiệm cho mọi hành vi cử chỉ của mình. Và điều đó có nghĩa là khi tâm bất an thì ta đừng nên quyết định hay làm bất cứ điều gì, chắc chắn ta sẽ hối tiếc sau này.

    Khi tâm an ta sẽ nhìn lại nhận vấn đề ở một tầng hiểu biết khác. Ta không còn thấy sự việc bất thành hay đổ vỡ kia là điều quá kinh khủng, không còn thấy thái độ khó chịu hay lầm lỗi của người kia là đáng phải trừng phạt nữa. Cho nên khi tâm an thì ta không còn muốn thay đổi hoàn cảnh, ta có một khả năng có thể chấp nhận mà không thấy khó khăn hay đau đớn gì. Ta đã từng thấy có những người trông rất an ổn và vui vẻ, mặc dù trong họ đang có những mất mát rất lớn lao. Không phải họ đang cố gắng che đậy để trình diễn trước mọi người, mà chính nhận thức và dung lượng trái tim của họ đã giúp họ ôm ấp được hoàn cảnh. Đó là những người không đặt hạnh phúc của mình quá nhiều vào sự toại nguyện từ bên ngoài, nên khi hoàn cảnh bất toại nguyện thì họ không bị dễ khổ đau.

    Tổ tiên ta đã từng nói “Tâm bình thế giới bình”. Khi tâm ta bình an thì năng lượng đó sẽ lên đường để xâu kết với những năng lượng bình an khác trong những con người khác hay trong vũ trụ này, nó có thể trở thành một hiệu ứng dây chuyền nếu điều kiện đủ cho nó xảy ra. Và khi tâm an thì ta nhìn đâu cũng thấy an, tuy đối tượng kia hay cả thế giới này còn nhiều biến động và phiền toái, nhưng ta vẫn không bị dìm xuống hay khổ đau theo, dù ta vẫn ý thức rất rõ tình trạng đang xảy ra và có ý chí muốn giúp đỡ. Cho nên thái độ khôn ngoan của một người biết sống là ta hãy luôn ưu tiên giữ gìn tâm bình an của mình, thà chịu để cho hoàn cảnh hư hao chứ nhất định ta không rao bán linh hồn mình. Ai đã trải nghiệm nhiều năm trong cuộc đời đều cũng thấm thía rằng chỉ có sự thanh thản và bình an trong tâm hồn mới là khát khao lớn lao nhất của con người.

    Trong quá khứ ta đã từng sống thiếu tỉnh thức và hiểu biết, vì để nắm bắt những nhu cầu hưởng thụ cao cấp từ vật chất đến sự công nhận của người đời mà ta đã coi rẻ tâm hồn mình, đem tâm hồn mình ra cho hoàn cảnh hay kẻ khác giày xéo. Ta sẵn sàng nổi giận, hờn ghen, nghi ngờ, kỳ thị, độc tài, hơn thua và cả thù hận để có được cái này cái kia mà thực chất chỉ là những thỏa mãn cảm xúc. Ta chưa bao giờ có cơ hội để nhìn kỹ lại tâm mình, trừ phi bị thất bại hay mất mát chua cay, nhưng đó là những lần quay về trong muộn màng và choáng ngộp với những đóng tàn tro. Kết quả thường là buồn chán và tuyệt vọng chứ chưa bao giờ có một chương trình thanh tịnh hóa tâm hồn cho nghiêm túc.

    Thôi ta về đi, về thu xếp lại những bề bộn trong tâm hồn, đừng tiếp tục lao tới phía trước để nắm bắt hay chứng tỏ gì thêm nữa. Chỉ khi nào tâm hồn ta lắng dịu, không còn những khắc khoải mong cầu hay chống đối, biết chấp nhận và thuận theo hoàn cảnh, ý thức giữ tâm hơn là giữ cảnh, thì ta mới nếm được chất liệu thảnh thơi và hạnh phúc chân thật. Nếu trong giai đoạn ban đầu rất khó giữ tâm trước những hoàn cảnh trái ngang, ta hãy tạm thời tìm cho mình một không gian đủ an ninh để tịnh dưỡng tâm hồn. Một con thú khi bị trúng thương thì nó lập tức rút về hang để liếm láp vết thương vì nó biết cơ thể nó có khả năng tự chữa trị, nếu nó không kềm chế nổi cơn thèm khát mà tiếp tục ra ngoài săn mồi thì sẽ bị kẻ khác tấn công hay chính vết thương ấy sẽ hủy diệt nó. Vì vậy biết lúc nào cần phải quay về nuôi dưỡng hay chăm sóc tâm hồn mình, sẵn sàng rời xa những hào quang hấp dẫn từ cuộc sống thì đó mới đích thực là kẻ trí.

    Tùy thuận theo hoàn cảnh

    Không buộc theo ý mình

    Giữ tâm không giữ cảnh

    Tâm bình cảnh cũng bình

    Trích "hiểu về trái tim"

    Tạp bút

  • Nhàm chán
    chequangtho

    Do di truyền khác nhau và điều kiện lớn lên khác nhau nên mỗi cá thể sở hữu một bản năng khác nhau. Nói đúng hơn là có những bản năng đã được thuần phục cho thuận với nguyên tắc điều hợp của vũ trụ và sự tiến hóa của xã hội, nhưng cũng có những bản năng còn rất hoang sơ chỉ biết đi tìm những gì đem tới cảm xúc thỏa mãn cho chính bản thân mà không suy xét đến những cái giá rất đắc phải trả. Cho nên chân - thiện - mỹ là mục tiêu phấn đấu cao cả của con người, ai không tiếp xúc được ba chất liệu đó thì vẫn chưa thể hiện được chức năng thiêng liêng mà trời đất đã hiến tặng và vẫn chưa đạt được giá trị hạnh phúc và bình an thật sự trong đời sống. Kẻ ấy vẫn chưa có phương hướng sống.

    Khi một đứa bé không còn ưa thích món đồ chơi mới mua ngày hôm qua mà chính nó đã nài nỉ đòi có cho bằng được, thì ta biết đứa bé này có khuynh hướng mau chóng nhàm chán. Nhàm chán là thuộc tính của tất cả những ai đang sở hữu bản năng cảm xúc quá mạnh. Bản năng này sẽ thúc đẩy ta tìm kiếm những đối tượng có thể đem tới sự dễ chịu thoải mái cho các giác quan như “bắt mắt”, “êm tai”, “hợp khẩu vị”… mà lý trí không đủ sức can thiệp rằng ta chưa đủ khả năng để nắm bắt đối tượng đó, hoặc nếu ta nắm bắt được thì nó sẽ ảnh hưởng đến đời sống của ta và những người sống chung quanh ta ra sao. Chỉ khi nào cơn cảm xúc tàn rụi thì ta mới biết sự chọn lựa ấy là sai lầm đáng tiếc.

    Đây là một tâm lý rất xấu đã hình thành ngay từ thuở nhỏ mà chúng ta ít được người lớn chỉ vẽ và lưu ý tới. Nếu ta sinh ra trong một gia đình nghéo khó, hoặc lớn lên trong bối cảnh xã hội có nền kinh tế lạc hậu, thì sự chọn lựa những thứ mà ta yêu thích sẽ bị giới hạn. Bản năng ấy có thể bị cô lập hóa đến mức xói mòn nếu điệu kiện không thể chọn lựa duy trì trong khoảng thời gian khá dài, đủ để bản năng hình thành một thói quen hay bản tính mới. Cái này cũng tùy, nhưng phần lớn những đứa bé không có điều kiện hưởng thụ từ nhỏ thì bản tính nhàm chán không có cơ hội phát triển. Ta hãy quan sát một đứa bé sở hữu hàng chục món đồ chơi đắt tiền, nhưng nó vẫn cứ đòi mua những món đồ chơi khác mà nó đã thấy của bạn bè hay quảng cáo trên ti vi. Gặp cha mẹ quá bận rộn, thay vì giải thích cho con hiểu đó là thói quen không tốt hay tìm cho con những sinh hoạt khác lành mạnh hơn, thì cha mẹ lại nuông chìu để cho con vui và cho mình khỏe.

    Lớn lên nếu ta trở thành một thiếu nữ xinh đẹp hay một chàng thanh niên đa tài thì ta nghiễm nhiên được nhiều người ngưỡng mộ và yêu thích, ta lại có điều kiện được chọn lựa và mau chóng nhàm chán. Hễ dễ dàng chọn lựa là mau chóng đưa tới sự nhàm chán, đó là cấu trúc rất tự nhiên của tâm lý. Rồi khi ta kiếm được nhiều tiền, ta có quyền mua sắm mọi thứ trang phục, xe cộ, nhà cửa… theo ý mình, song chắng mấy chốc ta lại muốn thay đổi kiểu dáng khác. Ta chỉ đơn giản phát biểu rằng ta không thích kiểu đó nữa, kiểu đó xưa rồi, kiểu đó không hợp với “gu” (gout) mới của những giới sành điệu, nhưng ta không hề biết rằng mình đang bị cảm xúc điều khiển, đang nuôi dưỡng thói quen nhàm chán mà nó là tiền đề cho những cuộc tình sớm vội tàn phai hay đổ vỡ trong tương lai.

    Từ nhàm chán đến phản bội

    Khi ta nói nhàm chán nhau tức là ta cho rằng đối tượng kia đã có sự xuống cấp, không còn khả năng hấp dẫn hay tạo nên sự mến mộ trong ta nữa. Sự xuống cấp ấy có thể là hình thức bên ngoài hoặc là phẩm chất đạo đức bên trong. Nếu vì sự xuống cấp hình thức bên ngoài mà khiến ta trở nên nhàm chán tức là trước kia ta đến với nhau bằng cảm xúc thỏa mãn hơn là tình yêu đích thực. Khi ấy mỗi bên cố gắng đem tới sự mới lạ về hình thức để đáp ứng nhu cầu yêu thích của đối phương, dù có khi phải vắt kiệt năng lượng mới có thể tạo dựng được một hình ảnh ấn tượng, mục đích không gì hơn là khiến cho bên kia hệ lụy vào mình hơn, biến họ thành đối tượng sở hữu vững chắc của mình hơn.

    Nhưng làm sao người kia đủ sức để tạo dựng những hình ảnh gợi cảm mới lạ mãi được. Tại vì họ còn bao nhiêu chuyện cần phải làm chứ đâu phải lúc nào cũng giành hết năng lực cho ta, vả lại, nhu cầu hưởng thụ của ta cứ tăng tốc mà năng lực trong người kia cứ suy giảm theo thời gian. Và khi người kia không còn đủ sức để cung cấp thức ăn cảm xúc cho ta nữa, ta sẽ lâm vào tình trạng đói khát và sự phản bội sẽ dễ dàng xảy ra. Ta trách người kia cũng đúng vì chính họ đã nuông chìu ta, đã tập cho ta thói quen yêu bằng cảm xúc thay vì đánh thức ta thăng hoa những giá trị tâm hồn. Nhưng lỗi ở nơi ta nhiều hơn, ta biết “mới chuộng cũ vong” là bản tính nằm trong máu thịt của mình, đáng lẽ ta phải tìm cách chế phục nó trước khi quyết định sống chung với người khác, thì ta lại biến đối tượng thương yêu trở thành kẻ phục tùng cho bản năng hưởng thụ quá lớn của mình.

    Nếu vì sự xuống cấp về phẩm chất bên trong của người kia mà khiến ta trở nên nhàm chán thì chứng tỏ tình yêu của ta giành cho họ chưa đủ lớn. Lẽ dĩ nhiên là khi người kia không còn giữ được những cái hay cái đẹp trong tâm hồn mà ta đã từng ngưỡng mộ, trái lại họ còn tập tành theo những thói quen mới rất kỳ cục khiến ta vô cùng khó chịu và mệt mỏi, thì sự đổ vỡ hình ảnh đẹp là điều có thể xảy ra. Nhưng ta sẽ không dễ dàng nhàm chán và đi tới sự ruồng rẫy nếu lý trí trong ta đủ mạnh, kịp thời soi sáng cho ta giải quyết vấn đề theo chiều hướng khác. Bởi khi sự hiểu biết được thắp sáng, ta sẽ nhận ra sự xuống cấp của người kia chỉ là một hiện tượng nhất thời chứ không phải là toàn bộ con người của họ, hoặc có thể họ đang bị kẹt vào một nhận thức sai lầm nào đó nên khiến họ không muốn giữ gìn phong độ của mình nữa, hoặc do chính ta là thủ phạm đã khiến họ không còn niềm tin vào bản thân để có cảm hứng duy trì và phát huy những điểm sáng.

    Ta đừng quên nguyên tắc của thương yêu là phải có sự hiến tặng và chia sớt. Ta phải có những năng lượng tích cực để hiến tặng cho người ta thương để họ được hay thêm và đẹp thêm khi gắn bó cuộc đời với ta. Mỗi khi người kia rơi vào tình cảnh khó khăn bế tắc, bị gục ngã giữa muôn trùng cám dỗ của cuộc đời thì ta phải có khả năng đánh thức và đưa cánh tay tình thương đến để nâng đỡ hay chở che. Chứ mình nói mình thương người ta mà khi người ta bị xuống cấp, cần sự giúp đỡ của mình, thì mình lại than van là nhàm chán và muốn bỏ chạy. Cái đó chỉ là một sự đổi chác sòng phẳng chứ đâu phải là tình thương. Ta phải có trách nhiệm với bất cứ những gì ta đã gây ra. Ta đã đi vào cuộc đời của người ấy và đã góp phần đẩy tâm thức họ tới mức yếu kém như vậy thì ta không thể đổ thừa hay than trách gì cả. Thái độ đúng đắn nhất là mở lòng ra chấp nhận và giúp đỡ.

    Nhưng có khi bên kia chẳng hề có một thay đổi nào, họ vẫn hay vẫn đẹp như họ trước đây, nhưng ta lại không hạnh phúc khi nhìn thấy họ nữa, ta nói ta nhàm chán mà không lý giải được tại sao. Có thể tâm thức ta đang bị khủng hoảng bởi những biến động của hoàn cảnh, hay do ta bị vướng kẹt vào thành kiến từ một việc làm sai trái gần đây của người kia mà ta không còn nhìn thấy họ như chính họ đang là, ta nhìn họ bằng một tâm thức khác mà ta cứ ngỡ là họ đang thay đổi. Cũng có thể do nhu yếu hưởng thụ trong ta đang tăng tốc, ta tiếp xúc thế giới bên ngoài và ngưỡng mộ những nhân vật mà ta cho là chuẩn mực rồi ta muốn người thương của mình phải được như vậy, nếu người thương của ta không làm được thì ta cho rằng ta đang tiến bộ còn họ thì đang bị tụt lùi. Cũng có thể ta vẫn còn thấy cái hay cái đẹp của người ấy, nhưng họ lại không phục tùng ta, trái lại họ có vẻ khinh thường ta nên cuối cùng ta cũng trở nên nhàm chán họ.

    Mới chuộng cũ vong

    Thái độ nhàm chán thường xuất phát từ sự ích kỷ của ta, ta chỉ muốn người kia phải như thế này hoặc như thế nọ để phục vụ cho cảm xúc thỏa mãn của ta thôi, chứ ta không nghĩ gì đến cuộc đời của họ. Chính vì vậy mà người có bản tính mau chóng nhàm chán thì rất sợ gánh phần trách nhiệm, họ luôn bận tâm để tìm tòi khám phá cái mới chứ không sẵn sàng chi tiêu năng lượng để đền bù cho những thứ mà họ muốn từ bỏ. Nhưng đạo đức không cho phép họ làm như vậy. Làm người mà chỉ biết rút tỉa năng lượng của kẻ khác thì còn kém xa loài ong lấy mật hoa mà không hề làm cho hoa tổn thương. Họ không xứng đáng tiếp tục nhận lãnh năng lượng tình thương và che chở của đất trời. Họ chắc chắn sẽ không có những tháng ngày bình yên và sẽ bị đào thải dù sớm hay muộn.

    Ý thức được mình đang sở hữu một bản năng bình thường hóa cảm xúc rất lớn, ta hãy quyết tâm quay về chăm sóc lại tâm hồn mình, dừng bớt cuộc rong ruỗi đi tìm những đối tượng hấp dẫn ở bên ngoài. Ta hãy thường xuyên tập ngồi xuống thật yên cho tâm tư lắng đọng mà không tiếp tục dùng nó để thăng hoa những cảm xúc không cần thiết. Từ khi thức dậy cho đến khi lên giường ngủ, lúc nào nhận biết tâm mình đang lang thang đi tìm những cảm giác mới lạ thì ta hãy nhìn vào tình trạng tâm thức lúc ấy bằng một thái độ không thành kiến và nở một nụ cười thật tươi để xác nhận là ta và cảm xúc vừa có cuộc chạm trán. Khả năng phát hiện này sẽ giúp cho ta nhạy bén hơn khi nhìn ra tâm của mình trong những lần sau và góp phần làm cho cảm xúc bị suy yếu.

    Nếu khi “mới chuộng” mà ta không đủ sức để ngăn chặn thì ta hãy quan sát lại tâm mình khi “cũ vong”. “Mới chuộng” và “cũ vong” là hai tâm thức khác nhau. Một cái quá hưng phấn muốn có cho bằng được, còn một cái quá nhàm chán muốn bỏ cho bằng được. Ta thấy có nhiều người để cho cảm xúc này tràn lắp ra lời nói và hành động, khiến ta có cảm tưởng như họ đang bơi đuối sức trong một dòng nước đang chảy xiết. Cảm xúc cũng giống như dòng nước, mức độ mãnh liệt của nó có thể khiến người ta vượt núi băng đèo để tìm đến nhau, nhưng cũng sẵn sàng dùng tới những thủ đoạn kinh rợn nhất để tiêu diệt nhau. Cho nên thiết lập được thói quen quan sát và buông bỏ bớt thái độ nhàm chán sẽ giúp ta không dễ trở thành kẻ bội bạc, dù có khi ta không vượt thắng nó nhưng ít ra ta cũng có cơ hội hiểu rõ hơn guồng máy hoạt động của cơ chế cảm xúc trong ta.

    Ta có thể tháo gỡ cơ chế ấy ra từng mảnh vụn từ những cảm xúc yêu thích và chống đối nhỏ nhặt vẫn thường xảy ra trong đời sống. Mỗi khi ta muốn thay đổi cách ăn mặc, giọng nói, thể hình, xe cộ, chỗ ở, sở thích đến cả quan hệ bạn bè, thì ta nên tự hỏi có phải mình đang muốn tạo dựng thêm cảm giác mới lạ cho chính mình và những đối tượng kia không, có phải vì ta không đủ niềm tin phẩm chất bên trong có giá trị đích thực nên ta chú trọng tới hình thức bên ngoài không? Điều đó chẳng tội vạ gì nhưng đó là lý do mà ta trở thành nạn nhân của kẻ không giữ được lập trường, hay dễ dàng bỏ cuộc khi gặp khó khăn. Lẽ dĩ nhiên đời sống là phải luôn khám phá sáng tạo, nhưng nó phải được thực hiện trên một tâm thức vững vàng, một lý trí kiên định và một tinh thần trách nhiệm thì ta mới đủ bản lĩnh đi về phía mặt trời sáng tỏ mà không bị tan chảy như những giọt sương.

    Cảm xúc cũng vô thường

    Nắng bừng vỡ giọt sương

    Mời lên tâm tỉnh thức

    Càng nhìn lại càng thương

    Trích "Hiểu về trái tim"

    Tạp bút

  • Tuyệt vọng
    chequangtho

    Sống trong đời sống thì phải có hy vọng, tin vào ngày mai tốt đẹp hơn là cách để cứu rỗi linh hồn ta qua cơn đau hụt hẫng trước thực tại phũ phàng hay còn nhiều điều bất như ý. Nhưng nếu ta đổ dồn hết niềm tin hy vọng về một phía, cũng như ta đem hết tài sản của mình ra để đánh một canh bạc sau cùng mà lỡ canh bạc ấy thất bại thì cuộc đời ta kể như không còn gì nữa. Ta không còn gì để sống. Không có gì lạc lõng cho bằng khi ta không còn biết tin tưởng vào đâu, hay nói đúng hơn là ta không còn năng lực để tin tưởng vào bất cứ điều gì nữa. Không thể bám vào sự sống thì chắc chắn ta sẽ héo tàn và lụn bại.

    Trong giây phút tuyệt vọng nhiều người đã tìm tới cái chết, vì trái tim của họ không đủ lớn để chứa đựng nổi sự mất mát quá lớn lao. Trái tim chưa đủ lớn là tại vì trong quá khứ họ chưa có thói quen chịu đựng cảm xúc xấu khi thất bại, hay chưa bao giờ đón nhận một hoàn cảnh trái ngang nào có tầm vóc lớn lao đến như vậy. Nhưng đôi khi trên thực tế sự mất mát ấy cũng không quá lớn lao như tâm tưởng, không phải không có nó thì không sống được, chỉ tại tâm thức khi bị tổn thương nặng nề, cái tôi không còn chỗ bám, nên nó rơi vào một khoảng trống chơi vơi mà không định dạng được mọi thứ xung quanh và phía trước. Chính vì vậy mà những kẻ tuyệt vọng luôn thấy tương lai mịt mờ đen tối.

    Khi tuyệt vọng, tâm ta trở nên lu mờ hơn bao giờ hết, ta nhìn mọi thứ bằng con mắt bi quan chán chường và có cảm tưởng như mình không còn gì để sống. Sự thật là đất trời vẫn đang ôm ấp nuôi dưỡng ta, những người thân yêu vẫn luôn bảo bọc chở che ta, những điều kiện thuận lợi vẫn tồn tại yên ổn bên ta. Chỉ tại trong khi hy vọng vào đối tượng này ta đã vô tình giới hạn hoặc chấm dứt niềm tin vào những đối tượng khác, ta bị năng lực khát khao quá lớn trong lòng thúc đẩy đi về phía ấy mà bất chấp tất cả. Ngay khi hy vọng ta đã tạo ra thế mất cân đối, không tự chủ được bản thân mình, thì đừng hỏi tại sao khi niềm hy vọng vỡ tan là ta không thể đứng vững. Đó là triệu chứng bỏ tâm chạy theo cảnh nên khi cảnh mất thì tâm không còn chỗ nương tựa, cái tôi dường như lạc mất.

    Ta quên mất rằng ta là một hợp thể vô ngã, có tới hằng triệu điều kiện đang dang tay góp sức để tạo nên hình hài và tâm thức này, sự thất bại về tình yêu hay một lý tưởng cao đẹp cũng chỉ là một phần của đời sống. Nếu ta từng biết quan tâm chăm sóc nhiều mối quan hệ mật thiết chung quanh, biết phân cái tôi ra nhiều nơi, biết đặt niềm tin vào lý tưởng một cách không tuyệt đối thì ta sẽ không bao giờ rơi vào vực thẳm của tuyệt vọng. Lẽ dĩ nhiên có những hy vọng đã trở thành thất vọng, nhưng từ thất vọng đến tuyệt vọng là một khoảng cách rất lớn, nó tùy thuộc vào vốn liếng mà ta đã cất công đầu tư và thái độ của ta khi đặt xuống niềm hy vọng ấy. Cho nên không phải ai bị thất vọng cũng trở thành tuyệt vọng, mà không phải ai tuyệt vọng cũng chết chìm mãi trong khổ đau.

    Một người vững chãi thì chỉ xem sự thất bại là một bài học kinh nghiệm để góp phần đi tới sự thành công. Họ tin rằng những gì họ đã khổ công gầy dựng thì không bao giờ mất hẳn, nó sẽ chuyển từ dạng này sang dạng khác hoặc đang bảo lưu ở dạng vô tướng để chờ đợi những điều kiện khác tới kết hợp. Họ có nội lực vững mạnh nên sẵn sàng đối diện và chấp nhận sự tổn thất nặng nề mà không than van hay bỏ cuộc, vì họ biết con người của mình vĩ đại hơn những gì chưa thể hiện được hay bị lấy đi. Nói đúng hơn là cái tôi của họ chưa từng bị lạc mất, họ chưa từng đem cuộc đời mình ra để rao bán hay đặt cược.

    Tương lai đi về đâu?

    Khi rơi vào vực thẳm khổ đau tuyệt vọng và muốn buông xuôi tất cả thì ta hãy tự hỏi mình: thật ra ai đã khiến ta ra nông nổi này? Nếu câu trả lời là chính người ấy thì ta hãy hỏi thêm rằng: người ấy là ai mà sao ta lại dễ dàng phó thác cuộc đời mình cho họ thao túng như vậy? Họ chỉ có thể làm cho ta mất niềm tin nhưng họ không có quyền làm cho ta khổ. Bởi đời sống mà ta đang sở hữu không phải là đời sống của riêng ta, ta không có quyền coi thường hay hủy hoại nó. Nó là tác phẩm được tạo thành từ cha mẹ, anh chị em, bạn bè, những bậc ân nhân khác trong đời, và cả tổ tiên hay giống nòi nữa. Họ luôn có mặt trong ta, trong từng tế bào và hơi thở. Họ đang theo ta đi về tương lai, nếu ta ngã xuống thì họ sẽ ngã theo, tương lai ta ra sao thì một phần họ cũng trở thành như thế ấy.

    Dẫu biết rằng chọn đến cái chết là ta đã chịu khổ đau đến mức cùng cực rồi, trái tim của ta như sắp tan vỡ vì không thể chứa nổi niềm đau quá lớn đang đè xuống. Nhưng suy cho cùng thì ta cũng đang làm một quyết định rất ích kỷ, ta chỉ muốn tìm cách trốn thoát cơn cảm xúc xấu đang bùng vỡ mà chính ta cũng có phần trách nhiệm trong đó. Ta cứ nghĩ mình là kẻ khổ đau nhất trên đời nên mọi người không có quyền trách giận cho cái quyết định của mình. Đúng là không ai nỡ trách giận một người đang đau khổ, nhưng ta không có quyền làm cho những người thân yêu của ta khổ, đâu phải người kia làm ta khổ thì ta có quyền làm cho người khác khổ. Và liệu ta có bình yên nơi thế giới xa lạ nào đó khi tâm hồn còn đầy dẫy khổ đau và ruột cứ quặn lên vì trách nhiệm làm người còn dang dở.

    Không có cái tương lai nào tách lìa với hiện tại, hiện tại như thế nào thì tương lai cũng đồng tính chất như thế ấy. Khổ đau từ trái tim thì liệu pháp để bứng gốc rễ khổ đau cũng nằm trong trái tim. Ta đừng chạy đi tìm kẻ đã làm khổ mình để trừng phạt hay tìm một nơi mà mình cho là bình yên để trốn tránh. Dù ta có làm được chuyện đó thì vết thương trong ta cũng không thể nào lành lặn được, cái đó chỉ làm thỏa mãn cơn cảm xúc trong nhất thời, ta không bao giờ lấy lại những gì đã mất từ bên ngoài. Nhưng ta cũng cẩn thận, nhiều khi ta không muốn thoát khỏi vực thẳm khổ đau không phải vì ta không đủ sức. Có thể một phần ta muốn tự giam mình trong khổ đau để kích động vào lương tâm của người kia như một thái độ trừng phạt, một phần ta muốn chìm đắm trong cảm xúc quặn đau ấy như để thương hại bản thân mình.

    Trong văn học gọi hành động đó là “thú đau thương”. Khi rơi vào cảm xúc khổ đau quá lớn, một kẻ yếu đuối và chỉ biết nghĩ đến bản thân thì thường lấy đau thương để gặm nhấm rồi than thân trách phận chứ không tích cực đi tìm một lối thoát. Họ thích nằm co như con tôm để nghe những bản nhạc tình sầu đứt ruột, hoặc thích người khác tưới tẩm vào nỗi khổ niềm đau của mình bằng cách công nhận mình là kẻ khổ nhất trên đời và rất đáng tội nghiệp, chứ không chịu cho ai kéo mình ra khỏi vực thẳm tối đen ấy cả. Đó là triệu chứng bệnh trầm cảm, thích giam cảm xúc mình ở cung bậc thấp để thỏa mãn mặc cảm thua sút người khác. Thật ra trong sâu thẳm thì đó cũng là cách để loan báo với mọi người về cái khổ đau mà mình đang gánh chịu, nhưng lại muốn được xót thương hơn là cứu giúp. Bởi muốn cứu giúp thì phải trả ta về đúng vị trí còn căng đầy niềm hy vọng như thuở ban đầu, còn không thì thà để ta như vậy. Ta không muốn thành kẻ trắng tay.

    Rác cũng là hoa

    Trong bài hát Tôi ơi đừng tuyệt vọng, Trịnh Công Sơn đã đưa ra giải pháp rất đúng “Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh”. Phải trải nghiệm, phải đứng lên từ khổ đau tuyệt vọng thì mới thấy được như vậy. Trước đó nhạc sĩ đã khẳng định “Em là tôi và tôi cũng là em”. Em là tâm lý tuyệt vọng, là một biểu hiện nhất thời của cái tôi rộng lớn. Không thể nói tuyệt vọng là toàn bộ con người của ta, tính chất của nó là vô thường nên nó không thể chiếm cứ mãi vị thế điều khiển tâm thức. Nhưng điều kỳ diệu là chính cái tâm lý tuyệt vọng ấy cũng chứa đựng tính chất của sự hồi sinh. Tại vì nhờ có lần chịu đựng ấy mà tâm ta trở nền kiên định và rộng lớn hơn, ta bắt đầu hiểu rõ hơn guồng máy hoạt động của cảm xúc và tâm ý của mình để lần sau nhạy bén hơn trong tỉnh thức.

    Cũng giống như đem rác chuyển hóa thành phân hữu cơ để nuôi hoa, góp phần làm ra hoa. Hoa trở thành rác mà rác cũng có thể biến thành hoa. Thành ra ranh giới giữa em tuyệt vọng và tôi chỉ cách nhau trong đường tơ sợi tóc. Khi lạc lòng thì em bé dễ hờn dễ khóc năm xưa trổi dậy, nhưng chỉ cần sự tỉnh thức trở lại thì cái tôi vững chãi sẽ được nhặt về. Vậy nên ta muốn có bình minh, muốn vượt thoát cơn khổ đau tuyệt vọng thì ta phải làm mới tâm hồn mình, thay vì đuổi theo kẻ khác để trừng phạt hay chìm đắm trong thú đau thương. Giải pháp hay nhất và duy nhất đó là phải “hồn nhiên”, phải sống được với con người chân thật của mình. Con người chân thật là con người chưa từng đón nhận những vai vế của cuộc đời nên không cần phải che đậy hay trình diễn, con người ấy nhìn đâu cũng bằng mắt trong suốt như bé thơ chứ không mang theo những thành kiến.

    Nghĩa là ta phải bỏ nỗi khổ niềm đau kia vào trong một ngăn của chiếc tủ tâm hồn rồi tạm khóa lại, mau chóng trở về chăm sóc những ngăn tủ cần thiết khác mà ta đã từng bỏ quên. Cảm nhận từng bước chân khi tiếp xúc với mặt đất, quan sát từng dòng hơi thở đang luân lưu, ngồi thật im để lắng nghe những tiếng động chung quanh và cả tiếng vô thanh, ngắm nhìn đóa nụ hoa đang rung mình nở nhụy trong sáng nay và làm tan vỡ những giọt sương lấp lánh. Ta hãy thu gọn bớt những công việc bề bộn có tính chất căng thẳng, mệt mỏi và phương hại đến phẩm chất trong tâm hồn. Ta nên tập chấp nhận thật nhiều những cảm xúc xấu thay vì trước nay hay kháng cự, và buông xả bớt những cảm xúc tốt thay vì trước nay hay tìm kiếm. Cách đó sẽ làm cho tâm hồn mau chóng lành lặn và ngày càng trở nên vững mạnh, ta sẽ không còn khiếp sợ hay để cho hoàn cảnh thao túng nữa.

    Nếu biết nhìn sâu sắc ta sẽ cảm ơn những ai đã từng đem đến cho ta những khổ lụy, vì nhờ có như thế ta mới thấy rõ nội lực yếu kém của mình để kịp thời quay về nuôi dưỡng. Và chính nhờ chuyến trôi dạt đến tận cùng nỗi đau ấy mà năng lực sinh tồn tiềm tàng trong ta mới bừng dậy, ta mới ý thức sâu sắc về giá trị của cuộc đời mà quyết tâm thiết lập lại cách sống và cách đặt niềm tin của mình. Ta hãy tin vào vô thường, mọi thứ rồi cũng sẽ đổi thay, ta sẽ không còn tuyệt vọng và người kia sẽ không còn dại khờ mà làm cho ta khổ đau nữa. Bởi vì trong ta và người kia đều có chất liệu rất trần gian mà cũng đôi khi thấy yêu thương quá cuộc đời này!

    Tạ ơn đời mầu nhiệm

    Tạo duyên có rồi không

    Hết không rồi lại có

    Cho ngày mới đơm bông
    Trích "Hiều về Trái TIm"

    Tạp bút

  • Biết Đủ
    chequangtho

    Tương lai đi về đâu?

    Có phải cách đây vài năm ta đã từng mơ ước nếu mình kiếm được việc làm với mức lương đó, mua được căn nhà tiện nghi sang trọng đó, sở hữu được chiếc xe đời mới đó thì chắc là mình sẽ rất hạnh phúc, coi như mình đã thành công và mãn nguyện. Bây giờ nhìn lại những ước nguyện ấy đều đã thành tựu hết rồi sao mình vẫn chưa thấy hài lòng, vẫn chưa thấy hạnh phúc, vẫn còn khắc khoải mong cầu? Vấn đề là tại những điều kiện tiện nghi kia đã mất dần tính giá trị, hay nó vẫn như vậy mà chỉ có ta tâm là thay đổi? Sự biến động thất thường của tâm thức, mới yêu thích rồi mau chóng nhàm chán, cũng do bản năng hưởng thụ quá lớn của chính mình chưa có cơ hội thuần hóa, nhưng một phần không kém quan trọng đó chính là sự tác động mãnh liệt của tâm thức cộng đồng.

    Ta khó có thể tách khỏi dòng chảy xã hội nếu ta không có một nhận thức đúng đắn, một nội lực vững vàng và một gia đình hay đoàn thể đầy tình thương và có cùng hướng đi với ta. Hai thập kỷ qua, hàng loạt nghiên cứu xã hội và tâm lý học cho thấy không có sự quan hệ then chốt giữa số tiền kiếm được và mức độ thỏa mãn có được. Người ta cảm thấy hụt hẫng khi họ bỏ ra quá nhiều thời gian và năng lực để tích góp tiền bạc, đến khi có nó trong tay thì tuy có đó nhận được cảm giác sung sướng nhưng nó rất cạn cợt và lại tan biến rất nhanh. Dần dần con người không còn tin tưởng và định nghĩa những cảm giác thỏa mãn vật chất ấy chính là hạnh phúc, họ tỉnh táo nhận ra rằng tiền bạc không chỉ không mua được hạnh phúc mà có thể hủy diệt cả hạnh phúc.

    Không hủy diệt làm sao được, từ khi con người háo hức phát triển ngành công nghiệp để cho ra hàng loạt những sản phẩm cao cấp phục vụ sự hưởng thụ tăng tiến của con người, thì chính lúc đó con người đã mất trắng chủ quyền sống. Thời gian và năng lực để phục vụ cho công việc đã không còn đủ để trang trải cho những sinh hoạt căn bản nhất của họ nữa. Tuy họ có đầy đủ tiện nghi nhưng họ gần như không thể tận hưởng, lúc nào họ cũng bận rộn với công việc với khách hàng. Họ không có thời gian chăm sóc sức khỏe, không có cơ hội trò chuyện với mọi người, không có điều kiện học hỏi thêm kinh nghiệm sống, không sắp đặt được những bữa cơm đoàn tụ gia đình, không thể lắng nghe và thấu hiểu những người sống bên cạnh. Tệ hại nhất là khi con người lao vào chiến trường kinh tế thì lòng tham của họ bùng vỡ, và từ đó hàng loạt phẩm chất đạo đức bị đánh gục.

    Vậy đó, con người ngày càng biến mình thành những cỗ máy vô tri, không còn cảm nhận mình đang sống và những gì đang biểu hiện trong dòng cảm xúc hay suy tư của mình, cũng như không còn nhận diện những giá trị mầu nhiệm cuộc sống đang diễn ra chung quanh, mà lúc nào họ tin rằng họ đang có một tương lai rất sáng sủa. Làm sao nắm bắt được tương lai nếu hiện tại đang diễn ra mà ta không nắm bắt được? Nhiều khi mình hỏi họ mùa thu vừa qua có đẹp không thì họ rất ngạc nhiên: “Ủa mùa thu đã đến rồi a, tôi bận quá nên có hay biết gì đâu”, nhưng rồi họ cũng chẳng buồn quan tâm hay tiếc nuối vì với họ đó là thứ hưởng thụ xa xỉ, phi kinh tế. Hình như bây giờ bất cứ cái gì họ làm hay tiếp xúc, dù đó chỉ là buổi gặp gỡ thân mật với bạn bè, thì họ cũng nghĩ liệu những việc ấy có đem tới lợi lộc gì không? Sự lạm dụng vật chất đến mức nghiện ngập đã dần xiết con người vào vòng dây khổ đau một cách êm ái.

    Nhiều người nghĩ rằng mình phải hy sinh đời mình để thế hệ con cháu được sung sướng nên họ cứ nai lưng ra làm quần quật đầu tắt mặt tối. Nhưng hành trang vào đời của một người trẻ đâu chỉ có trương mục đầy ắp, cái chúng cần hơn hết có thể là sự quan tâm, thấu hiểu và chia sẻ được những khúc mắc và mơ ước trong cuộc sống, chúng cần có một gia đình hạnh phúc để chúng nương tựa và học hỏi. Đó là chưa nói có những người trẻ đã quen lối hưởng thụ từ nhỏ nên bị chao đảo ngay khi rứt ra khỏi vòng tay gia đình, bao nhiêu tài sản cha mẹ để lại chính là cơ hội để chúng tiêu phá cái tuổi căng đầy sức sống, sớm lao mình vào những đam mê trụy lạc. Rốt cuộc cha mẹ hy sinh cho con nhưng con lại oán giận cha mẹ, bởi chúng nghi ngờ cách tích góp tiền bạc kia có thật sự vì chúng hay vì lòng ham muốn làm giàu không thể cưỡng lại của cha mẹ. Thật tội nghiệp, những người trẻ ấy bước vào đời mà không biết đi đâu, tin vào đâu.

    Quan niệm“cực trước sướng sau” vẫn còn in đậm trong trí não hầu hết mọi người nên họ không ngại hy sinh tuổi thanh xuân của mình để có được một tài sản vững vàng cho tương lai. Ta hãy đến hỏi những người đang ở tuổi về hưu ấy có thật sự hưởng nhàn, hay họ đang sống trong sự lạc lõng cô đơn vì cái họ cần là được hiểu được thương chứ không phải những thứ đó, mà chính tính độc tài và ngờ vực là hậu quả của cuộc chiến khốc liệt kinh tế đã đẩy họ ra khỏi vòng tay của những người thân. Họ căm ghét thực tại, họ không chấp nhận mình một thời oanh liệt mà bây giờ phải ngồi bó gối như một kẻ vô dụng, dù biết là không thể nhưng họ vẫn luôn khát khao được sống lại thời tuổi trẻ để họ sống thật tươi vui, thật hay và thật đẹp. Cái hay và cái đẹp mà họ đã để cho dang dở chính là tình yêu, là tình huynh đệ, là một việc gì đó ý nghĩa cho đời.

    Kinh tế và phi kinh tế

    Chủ nghĩa thực dụng (pragmatism) được hình thành vào khoảng giữa thế kỷ 19 và phát triển rầm rộ vào thế kỷ 20, nổi bật nhất là ở Mỹ. Chủ nghĩa này đề cao kinh nghiệm và hiệu quả, trong đó mọi hành động con người là vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Vì nó đã thỏa mãn được nhu yếu hưởng thụ vốn dĩ không cùng của con người nên nó nhanh chóng được sự ủng hộ nhiệt liệt của mọi tầng lớp, nó vượt qua hẵn chủ nghĩa duy vật và cả chủ nghĩa duy tâm, bác bỏ những vấn đề cơ bản của triết học hay tôn giáo vốn được đặt ra nhiều thế kỷ qua và nó vẫn tồn tại vững mạnh cho tới ngày nay.

    Từ nền tảng đó người ta mới phân định rạch ròi giữa kinh tế (economic) và phi kinh tế (non - economic). Những gì có thể đem tới lợi nhuận thì gọi là kinh tế, còn những gì không đem tới lợi nhuận hay tổn thất là phi kinh tế. Thí dụ một buổi gặp gỡ bạn bè mà mình khai thác được nhiều thông tin bổ ích, hoặc ít nhất có thêm những quan hệ tốt có thể hỗ trợ cho những mối làm ăn của mình, nên người ta gọi buổi gặp gỡ đó là xứng đáng, là thực tế; còn tốn mấy giờ đồng hồ mà chỉ nghe toàn là những câu chuyện thương tâm, hay nhắc lại những kỷ niệm xa xưa cũ rích, hoặc chỉ đơn giản là uống trà ngắm lá thu thì họ cho là lãng phí, phi thực tế. Phi thực tế tức là phi kinh tế, người ta bây giờ dùng chữ thực tế để chỉ cho kinh tế. Người không thực tế là người không đầu óc kinh tế.

    Người làm kinh tế luôn ý thức loại trừ những vấn đề liên quan tới tình cảm, không có chuyện nhường nhịn hay cảm thông trong khi làm ăn, tất cả đều phải đi theo nguyên tắc 2 lần 2 là 4. Nhưng ai làm kinh tế, con người hay cỗ máy? Nếu là con người thì phải được bồi dưỡng sức khoẻ, phải được nghỉ ngơi, phải được quan tâm nâng đỡ, phải được thấu hiểu và thương yêu chứ. Vậy tại sao ta không can đảm ngủ một giấc thật sâu, ăn một bữa cơm thật chậm, ngồi yên trong tĩnh lặng thật lâu hay lắng nghe những nỗi khổ niềm đau của kẻ khác thật bền? Ta đừng vội cho đó là những thứ phi kinh tế, vì nếu không có nó thì ta sẽ không thể làm kinh tế và cũng sẽ chẳng có cái gì là nền kinh tế cả. Vì trong sự thật không có cái gì có thể đứng độc lập (independence) được, chúng phải liên lập (inter - dependence) với những yếu tố khác dù trực tiếp hay gián tiếp. Kinh tế phải gắn liền với xã hội, môi sinh, giáo dục, chính trị, tôn giáo…thì kinh tế mới tồn tại và phát triển được.

    Cho nên ta có thể mạnh dạn nói tình cảm cũng là kinh tế hay kinh tế cũng là tình cảm, nghĩa là tình cảm nuôi con người để con người có năng lực làm kinh tế, và kinh tế nuôi con người có tiện nghi ổn định để con người thoải mái thương yêu. Nhưng bản năng con người là luôn bảo vệ cái tôi ích kỷ của mình nên phần lớn người ta thà hy sinh tình cảm hơn là kinh tế, vì làm kinh tế thì mình có thể bỏ túi riêng còn thương yêu thì phải san sẻ bớt. Biết bao cuộc tình tan vỡ, huynh đệ tương tàn, chiến tranh giữa các sắc tộc cũng vì mức ảnh hưởng quá lớn của kinh tế trong nhận thức của con người. Kinh tế lớn mạnh là đồng nghĩa với bản năng hưởng thụ ích kỷ của con người lớn mạnh. Người ta biết nói không có kinh tế thì tình cảm sẽ khó bền nhưng người ta lại quên rằng không có tình cảm thì kinh tế cũng trở thành vô nghĩa. Làm giàu để làm gì mà ta không thể sống vui tươi, bình an, hạnh phúc và trải lòng ra để thương yêu?

    Hiểu về trái tim

    Tìm hướng đi lên

    Hình như cái lẩn quẩn nhất của con người thời đại này chính là họ không xác định được cái gì là phương tiện (means) và cái gì là mục đích sống (goal). Tất cả những vật chất kia chỉ đem tới sự thoải mái dễ chịu hơn trong cuộc sống mà ta gọi là tiện nghi, nhưng nó không phải là lý do để ta sống. Ta sống vì ta là một sinh linh, một thực tại mầu nhiệm, nên ta cần được phát huy đúng bản chất của mình là được thảnh thơi, bình an và hạnh phúc. Bất kỳ hành vi nào của ta, dù thương yêu hay làm kinh tế, cũng phải phản ánh được mục đích cao cả ấy. Ta không thể nói ta đang còn bận làm ra phương tiện, để năm hay mười năm nữa thì ta mới nắm được mục đích. Bây giờ ta còn kẹt cứng trên phương tiện, bị phương tiện xô đẩy đến phờ phạc, thì làm sao ta chắc sẽ dùng nó để đạt được mục đích, biết đâu ta sẽ ngã gục trên chính phương tiện ấy cũng không chừng.

    Bhutan là một trong những nước nghèo nhất thế giới, nhưng lúc nào họ cũng có sẵn những nụ cười và luôn cảm thấy hạnh phúc với cuộc sống hiện tại. Bởi vì người dân này ý thức rằng một đất nước phát triển không có nghĩa là phải hy sinh môi trường hay hạnh phúc cộng đồng, họ đặt ra tiêu chí GNH (Gross National Happiness - tổng hạnh phúc quốc gia) để chạm được mục đích của đời sống ngay trong thực tại mà không cần thông qua con đường viễn vông và đầy nguy hiểm của vật chất cao cấp. Nhờ “không giống ai” như vậy mà đời sống của họ rất an ninh, mức độ tội phạm hay ly dị rất thấp và hơn hết là họ rất tận hưởng giá trị cuộc sống từng ngày nên tuổi thọ rất cao.

    Mối quan tâm về hạnh phúc ngày càng thu hút sự chú ý của nhiều nước phát triển. Họ bắt đầu thật sự lắng nghe những khát khao sâu sắc của người dân mà quyết định giảm chỉ số GDP (Gross Domestic Product - tổng sản phẩm nội địa) để mọi người giảm giờ làm mà có cơ hội trở về với những sinh hoạt căn bản trong cuộc sống. Tại Anh, khoảng 81% người dân đề nghị chính phủ chỉ nên tập trung vào việc làm cho người dân sống hạnh phúc hơn là giàu có, họ yêu cầu cấm quảng cáo nhắm vào đối tượng trẻ con để hạn chế khuynh hướng tôn sùng vật chất. Còn ở Nhật Bản thì hoảng hốt khi nhìn lại mức độ tội phạm và làm việc tăng giờ không mấy tiến bộ so với thập niên 80 mặc dù kinh tế đứng nhất nhì thế giới, các vị lãnh đạo cấp cao đã nhìn vào tấm gương sống “biết đủ” của Bhutan nên mạnh dạn lên nhiều dự án “làm ít hơn, chơi nhiều hơn” để chỉ số GDP luôn song hành với chỉ số GNH, nghĩa là kinh tế phải đi liền với hạnh phúc.

    Vấn đề “hạnh phúc quốc gia” đã thu hút nhiều thành phần của xã hội nhảy vào cuộc, từ kinh tế gia, triết gia, bác sĩ tâm lý, nhà sinh vật học và kể cả tôn giáo, nhưng thực tế cho thấy xây dựng GNH khó gấp trăm ngàn lần so với GDP. Bởi vì con người cần phải có ý thức đúng đắn trở lại hạnh phúc là gì, rồi phải trải qua một thời gian khá lâu để thuần phục bản năng hưởng thụ quá lớn của mình thì mới đủ sức gạt bỏ bớt được những phương tiện hấp dẫn. Muốn vậy ta phải loại trừ ngay lập tức chủ nghĩa thực dụng và xây dựng trở lại nếp sống văn minh tâm linh vốn có lâu đời của tổ tiên. Đó là nếp sống mà ta luôn có cơ hội tìm về chính mình, gạn lọc những cấu bẩn phiền não và nuôi dưỡng những hạt giống tốt đẹp tâm hồn. Nơi ấy, con người luôn ý thức rằng mọi thứ luôn có mặt trong một thứ, nên chủ nghĩa cá nhân được thay thế bằng tình nhân ái bao la.

    Chờ đợi một chính sách ban hành để mọi người cùng làm sẽ rất lâu vì phần lớn đều chưa tin sống ít vật chất là có thể hạnh phúc, hoặc nhiều người vẫn cho rằng con người phải lên tới đỉnh cao vật chất thì mới chịu quay trở lại tinh thần? Nhưng thực tế thì “nhà giàu cũng khóc” và chẳng có mấy ai muốn từ bỏ lối hưởng thụ cao cấp, bởi lòng tham của con người khi đã giản nở rồi rất khó thu lại. Và đợi đến khi ấy ta còn hồn phách nữa đâu mà cảm nhận và giữ gìn những giá trị hạnh phúc, vì mảnh đất tâm của ta đã khô cằn và chay sạn bởi cái gọi mà mưu sinh mất rồi. Hãy nhớ lại lời nhắc nhở của người đi trước “Tri túc đãi túc hà thời túc, tri nhàn đãi nhàn hà thời nhàn”, muốn đủ mà cứ chờ sẽ đủ thì khi nào mới đủ, muốn thảnh thơi mà cứ hẹn sẽ thảnh thơi thì bao giờ mới được thảnh thơi. Hãy nhân danh đứa con của vũ trụ hay ít nhất là của giống nòi mà ta hãy buông bỏ lối hưởng thụ xa hoa để có thể thảnh thơi ngay từ bây giờ, để mở đường cho con cháu đi lên.

    Giữ bàn tay cho khéo

    Tiếp nhận nếp tổ tiên

    Trao truyền cho con cháu

    Cùng tìm hướng đi lên

    Trích "Hiều từ trái tim"

    Tạp bút

  • Nhìn Lại
    chequangtho

    Nhìn lại thân mình

    Có một ông lão mù ngồi xin ăn lặng lẽ bên vệ đường. Phố xá đông đúc người qua lại nhưng ai nấy cũng vội vàng nên chẳng mấy ai để ý đến ông lão, mặc dù bên cạnh ông lão có để một tấm biển lớn “Xin mở lòng từ bi, tôi đã bị mù” (Have compassion, I am blind). Mãi đến xế trưa, bỗng có một anh chàng thương gia trẻ ăn mặc sang trọng tiến gần lại, ông lão nghe bước chân sát cạnh mình liền đưa bàn tay sờ lên đôi giày của anh ta và lòng mừng rỡ vì nghĩ hôm nay chắc mình sẽ không bị đói. Nhưng anh chàng thương gia không móc tiền cho ông lão mà anh ta lại lấy viết ra ghi cái gì đó phía sau tấm biển giấy.

    Ông lão thất vọng vì anh chàng cũng vô tình quay gót như bao người khác, nhưng không bao lâu thì bỗng dưng chiếc lon của ông lão lại vang lên những tiếng rang rảng của những đồng xu và cả những tờ giấy bạc của những người qua đường. Ông lão sờ lên chiếc lon đầy ắp tiền lòng vừa mừng khôn xiết và cũng không kèm chế nổi sự ngạc nhiên. Vài giờ sau anh chàng thương gia trẻ kia quay lại kiểm tra, ông lão sờ lên đôi giày sang trọng thì biết là người dừng lại ban nảy nên ông gạn hỏi ngay anh đã viết gì trên tấm biển kia. Anh chàng vỗ vai ông lão nói rằng anh ta cũng viết với nội dung như vậy nhưng từ ngữ có khác đi đôi chút, rồi anh ta vui vẻ bước đi. Câu ấy là “Hôm nay là một ngày nắng đẹp, nhưng tôi không nhìn thấy được” (Today is a beautiful day, but I can not see it).

    Câu viết đơn giản ấy như một tiếng chuông vang lên nhắc nhở mọi người hãy dừng lại để ý thức có một thực tại rất mầu nhiệm đang xảy ra, đó là một ngày nắng đẹp. Nếu ai đã sống trong những ngày tháng mùa đông âm u lạnh giá thì chắc chắn sẽ rất yêu quý một ngày nắng đẹp như thế. Nhưng ta vì có nhiều thứ phải lo toan và nắm bắt quá nên ta đã bỏ lỡ rất nhiều cơ hội với sự sống. Thì đây, một tấm biển của một ông lão mù đã làm cho ta không chỉ ý thức về một ngày nắng đẹp đang lên, mà còn nhắc nhở rằng ta đang có một đôi mắt sáng. Đó là một thứ tài sản vô giá mà biết bao người không có được. Một đôi mắt có thể nhìn thấy trời xanh mây trắng, có thể thấy muôn màu muôn vẻ trên thế gian này. Còn gì khổ cho bằng ta không thể nhìn thấy được chính mình và cả người thương của mình. Nhưng nhiều khi vì tham vọng mà ta cứ lầm lũi lao tới phía trước, không nhận biết được những gì đang xảy ra trong ta và chung quanh ta thì ta đâu khác gì một kẻ mù.

    Dường như đã từ lâu rồi ta đánh mất thói quen nhìn lại mình. Ta cứ lo đuổi bắt những đối tượng bên ngoài hay trong xa vời vì ta tin tưởng rằng hạnh phúc của mình nằm ở nơi đó. Nhiều lần thất vọng khi phát hiện ra chúng chỉ là những cảm xúc sung sướng trong nhất thời chứ không phải là hạnh phúc chân thật, nhưng ta vẫn cố chấp lao tới tìm kiếm cho bằng được, vì chung quanh ta ai cũng làm như vậy, ta không thể thua sút. Nhưng có một đôi mắt sáng chẳng phải là một điều kiện hạnh phúc hay sao? Ta sẽ làm gì với tất cả những tài sản và danh vọng mà ta giành lấy được khi ta không còn nhìn thấy chúng được nữa. Mà ta đâu chỉ có mỗi đôi mắt là quý giá, hãy nhìn kỹ lại hình hài của mình từ trên đầu xuống dưới bàn chân, ta sẽ thấy tất cả những gì mình đang có đều là điều kiện căn bản của hạnh phúc cả, không có nó ta sẽ không cảm nhận được thứ hạnh phúc nào nữa.

    Nếu đã xác nhận nó là hạnh phúc thì tại sao ta không trân quý giữ gìn, lại bỏ bê và thậm chí còn đày ải nó đến kiệt sức để đạt được những thứ hạnh phúc khác. Đó có phải là hành động khôn ngoan không? “Hôm nay là một ngày nắng đẹp” là một câu xác định, phải đứng ngay trên đất của thực tại, không còn chạy lăng xăng, phải dừng lại thực sự để tiếp xúc thì ta mới phát biểu được như thế. Cho nên muốn nhìn lại thì điều kiện tiên quyết là phải dừng lại, không dừng lại thì sẽ không nhìn thấy gì cả, hoặc sẽ thấy rất mù mờ và có thể sẽ sai lệch. Dừng lại để tiếp nhận giá trị sâu sắc bên trong, thay vì lao tới để nắm bắt những cái cạn cợt bên ngoài, đó đâu phải là thái độ sống của một người thiếu thực tế. Nếu đã thấy rõ ta không được gì từ bên ngoài hãy tìm về nơi chính ta đi, ta vốn có sẵn một kho tàng hạnh phúc to tát kìa. Mà nhiều khi ta không nắm được cái bên ngoài chính vì ta không có khả năng nắm cái bên trong, nói cách khác, nắm được bên trong thì mới có hy vọng nắm được bên ngoài. Song, người sống được với chính mình thì lại hay khước từ nắm cái bên ngoài, xem nó không quan trọng, đôi khi cho đó là xa xỉ hay vô ích nữa.

    Vậy để nhìn lại những gì mình đang có thì ta buộc phải dừng lại, không thể dừng lại tất cả thì dừng lại bớt, phải có thái độ buông bỏ bớt những điều kiện hấp dẫn lôi kéo bên ngoài, phải thu gọn lại những đòi hỏi từ nơi đối tượng khác, dồn năng lượng về phía mình để trở về tiếp quản lại gia tài thân tâm mình. Có thể nó đang xuống cấp trầm trọng, nhưng ta đừng nao núng, cũng đừng phiền trách hay áp đặt nó. Lỗi thường xảy ra là ta bỏ bê chúng cho đã, rồi khi quay về ta lại tỏ thái độ không chấp nhận, lại muốn nó phải như thế này thế kia. Chấp nhận là điều kiện cần phải có trong tiến trình chăm sóc thân tâm. Đó là lỗi của ta, là kết quả của quá trình sống thiếu tỉnh thức của ta, ta không chấp nhận là ta quá tham lam. Cái gì tốt đẹp ta cũng đều muốn cả mà không chịu chăm sóc giữ gìn.

    Trở về thân tâm phải có thái độ nhẹ nhàng hòa nhã thì ta mới có thể hiểu được tình trạng thật của nó. Ta hãy để ý lại bước chân của mình khi bước lên cầu thang, khi đi vào công ty hay dạo trên phố, thay vì cứ ngó dáo dác chung quanh hoặc suy nghĩ lung tung đến chuyện khác. Đi cũng là một sự sống, cũng là một điều kiện của hạnh phúc, cũng là một phần của cái tôi. Một ngày kia khi mình không thể sử dụng đôi chân được nữa thì có thể tương lai sự nghiệp của mình cũng sẽ sụp đổ theo, vậy nên, mình hãy đi cho đàng hoàng tử tế. Mình phải đối xử tử tế với chính mình trước thì mới hy vọng đối xử tử tế với người khác một cách thật lòng. Ta hãy cảm nhận bước chân của mình đi, hãy bước đi với tư cách của một kẻ tự do hạnh phúc nhất trên đời, và hãy nở nụ cười hạnh phúc vì mình còn làm được điều đó. Đi trong tỉnh thức như thế bước chân ta sẽ trở nên mềm mại và đĩnh đạc hơn, năng lượng bình yên trong ta sẽ thoát ra và sẽ ôm lấy mặt đất vốn đã bị rạn nứt quá nhiều vì những bước chân căng thẳng, mưu toan và đầy thù hận của con người.

    Ta hãy tập thêm cho mình thói quen nhìn như đang nhìn, đóng cánh cửa như đang đóng cánh cửa, đưa tay bưng chén trà như đưa tay bưng chén trà, nở nụ cười như đang nở nụ cười, mở lời nói như đang mở lời nói…chứ không mang theo bất cứ một ý niệm nào, dù là thái độ yêu thích hay ghét bỏ. Loại bỏ bớt những thái độ không cần thiết trong mỗi động thái cử chỉ ở mọi lúc mọi nơi thì đó là một thái độ quay về đúng đắn. Thái độ ấy sẽ giúp ta có một kỹ năng nhạy bén và vững vàng để đi vào lĩnh vực tâm hồn, một khu vườn kỳ bí mà không phải ai cũng đủ khả năng khám phá được sự thật của nó. Ta phải nhìn lại một cách thành công từ những cái thô thiển nhất thì ta mới hy vọng tiếp xúc được những cái tinh tế nhất. Nếu ta không ý thức được bước chân, giọng nói hay hơi thở một cách thuần thục thì ta đừng trông mong nhìn thấu nổi những tâm lý phức tạp như buồn tủi, cô đơn, tuyệt vọng của mình. Điều này phải cần đến một quá trình trải nghiệm, sự thông minh đành phải nhường chỗ cho lòng kiên nhẫn và cả sự từ tốn với chính mình.

    Hiểu về trái tim

    Nhìn lại tâm mình

    Cảm xúc (emotions) là một phần của tâm, nó là những chuỗi phản ứng yêu thích cái này ghét bỏ cái kia cứ tuôn chảy bất tận trong tâm như một dòng thác đổ. Ta có bao giờ để ý đến phản ứng khó chịu khi đi ngoài trời tuyết lạnh hay thích thú khi bưng uống chén trà nóng không? Hay ta cứ mãi bận lòng chống đối cái lạnh hay mân mê cái ấm mà bỏ qua một sự thật quan trọng là dòng cảm xúc đang chi phối mình. Chính nó quyết định cho thái độ sống của mình chứ không phải đối tượng bên ngoài. Nếu mình kịp thời nhận ra cảm xúc ấy là phi lý, thời tiết mùa đông thì phải lạnh, mình phải chấp nhận sự thật đó như một lẽ đương nhiên rồi tìm cách để bảo vệ cơ thể chứ mình không khó chịu hay ghét bỏ nó. Buông bỏ được thái độ chống đối đó thì ta sẽ đi dưới tuyết một cách rất an nhiên, có khi ta sẽ cảm thấy tuyết rất đẹp và là một phần tất yếu của sự sống nữa.

    Uống chén trà ấm cũng vậy, nếu mình thấy được sự yêu thích đang diễn ra trong tâm và sắp mở lời tấm tắc ngợi khen thì hãy dừng lại và buông bỏ thái độ ấy. Đừng dễ dãi để cho hạt giống yêu thích bị kích hoạt như thế, nếu không, sau này với những đối tượng lớn hơn và có tính chất trả giá đắt hơn thì ta sẽ không cưỡng lại nổi. Uống trà với một tâm hồn tinh khiết, cảm nhận hương vị của nó một cách trọn vẹn mà không nhận xét hay phê phán thì ta sẽ đạt tới đỉnh cao của sự thưởng thức. Đành rằng yêu ghét là bản năng tự vệ tự nhiên của con người, không ai có quyền ngăn cấm ta yêu ghét cả, nhưng ta nên xét lại tất cả những phản ứng tự vệ ấy đều hợp lý và cần thiết hết chăng, hay chúng chỉ là sự nông nổi nhất thời của cái tôi ích kỷ và thiếu hiểu biết. Người sống từng trải thường nhận ra được chân lý sống là càng bớt yêu thích và ghét bỏ thì sẽ càng nắm được hạnh phúc, vì hạnh phúc có từ nơi tâm hồn bình yên, dừng lại mọi lao xao tranh đấu bên ngoài.

    Phần lớn cảm xúc bắt nguồn từ tâm tưởng (perceptions) quá phong phú của ta. Tâm ta như một anh chàng họa sĩ tài ba, có khả năng vẽ vời đủ mọi cảnh tượng từ hấp dẫn đến rùng rợn và có khi phóng đại quá xa với thực tế. Người ta mới nhìn mình chăm chú là mình tưởng họ yêu thích mình, người ta mới nhắc nhở một câu là mình nghĩ họ căm ghét mình. Mình mới có tài sơ sơ mà tưởng là quá giỏi nên cứ muốn đội đá vá trời. Hoặc mình thật sự có tiềm năng nhưng vì thất bại đôi lần là mình không còn tin tưởng bản thân nữa, mình tưởng mình vô dụng và chắc ai cũng nghĩ mình như vậy. Đó là chứng bệnh hoang tưởng, một trong những hội chứng đáng báo động nhất của thời đại. Con người bây giờ đang dần đánh mất khả năng hiểu biết và tin tưởng chính mình nên họ sống mòn trong mộng tưởng. Đúng là không có trí tưởng tượng thì không có nền văn minh của nhân loại, nhưng một khi nó vượt qua mức kiểm soát của đạo đức thì sẽ trở thành đại họa. Biết bao cuộc tình gãy đổ, huynh đệ tương tàn, chiến tranh khốc liệt cũng vì mộng tưởng điên đảo của con người. Khi mộng tưởng vỡ tan thì sự ăn năn đã không còn kịp cứu rỗi.

    Người sống tỉnh thức là phải luôn phát hiện kịp thời những hình ảnh đang được xây dựng trong tâm mình, đó là một quá trình được góp nhặt từ những dữ kiện mà chính ta trải nghiệm hoặc tích lũy từ kinh nghiệm của kẻ khác. Công trình xây dựng ấy có thể nhồi nặn ra một dự án hay một tương lai rất tốt đẹp và khả thi nếu nó được sự hỗ trợ chặt chẽ của tâm an định và tâm hiểu biết. Và nó sẽ trở thành thứ vọng tưởng làm não loạn tâm thần hay tiêu phá đến khánh tận năng lượng và trí tuệ sáng tạo của ta nếu nó được hình thành từ những tham vọng cuồng nhiệt mà bất chấp mọi hậu quả. Cả hai tiến trình ấy ta đều quan sát, tìm ra nguyên nhân gốc rễ và những điều kiện hợp tác để hình thành. Cần thiết thì ta hãy tháo gỡ guồng máy đó để trả tâm hồn ta trở về vị trí bình yên và nhẹ nhõm. Nên nhớ trong quá trình nhìn lại tâm tưởng, ta vẫn không mang theo thái độ chê trách, phẫn nộ hay áp đặt. Hãy để yên đó và im lặng quan sát, từ khi nó hình thành đến tan rã.

    Ngoài ra ta còn phải có trách nhiệm nhìn lại những tâm hành (mental formations) của mình. Từ những tâm hành tốt như là nhường nhịn, chấp nhận, tha thứ, thương yêu đến những tâm hành xấu như là ích kỷ, giận hờn, kỳ thị, thù hận, ta đều luôn nhận diện ra mặt mũi của chúng khi chúng phát hiện lên trên bề mặt ý thức. Với sự quan sát tinh tế, ta còn có thể phát hiện ra nguyên nhân nào khiến những hạt giống ấy từ trong chiều sâu tâm thức trồi đầu ra, có thể do ta bất cẩn để cho hoàn cảnh tưới tẩm hay do những phiền não khác trong tâm kích hoạt vào chúng, biến chúng thành những tâm hành, rồi tạo nên những hành động mà ta phải chịu trách nhiệm. Dù lý do nào, ta cũng nhận diện và quan sát với tâm bình thản. Nếu không phải đối phó trình diễn với ai, ta nên để cho chúng phát hiện hết mức để ta nhìn thấy rõ chân tướng thì ta mới có cơ hội đào xới chúng tận gốc. Dùng ý chí để can thiệp chỉ nên là trường hợp bất đắc dĩ thôi, dùng nhiều quá thì ta chỉ trấn áp được trong nhất thời nhưng tương lai nó sẽ trở lại mà ta bất giác vì cứ ngỡ mình đã chiến thắng.

    Nếu lúc nào ta cũng nhìn lại cảm xúc, tâm tưởng và tâm hành của mình thì ta sẽ không còn lo sợ của những loại vi khuẩn độc hại tàn phá tâm ta mà ta không hay biết. Ta sẽ không còn thốt lên những câu nói “Tôi cũng hiểu tại sao tôi lại làm như vậy”, hay “Tôi muốn mở lòng ra chấp nhận nhưng tôi làm không được”. Chìa khóa làm chủ bản thân bắt đầu từ chỗ đó. Khi làm chủ được bản thân mình thì ta sẽ dễ dàng làm chủ cuộc đời mình. Một điều kỳ diệu là khi ta trở về làm mới thân tâm mình, lấy bớt những chất độc vốn đã tích tụ từ lối sống thiếu tỉnh thức vừa qua thì ta sẽ nhìn lên mọi đối tượng bằng một con mắt khác. Ta sẽ nhìn thấy cánh rừng mùa thu tuyệt đẹp chứ không phải là sự tàn tạ, ta sẽ thấy nụ cười bé thơ dễ thương như thiên thần chứ không phải phiền toái, ta sẽ thấy người thương của ta là mầu nhiệm chứ không phải là oan trái. Đó mới là cái nhìn đúng đắn.

    Sự thật là tâm ta như thế nào thì ta sẽ dệt lên đối tượng như thế ấy. Trong quá khứ, vì không biết rõ sự thật này nên ta cứ đổ thừa hoàn cảnh và gắng sức thay đổi chúng, và ta đã thay đổi không biết bao lần rồi mà rốt cuộc khổ đau vẫn chưa hề thuyên giảm. Vậy khi ta đã tạo được thói quen quan sát thân tâm mình một cách thường trực và nhạy bén thì bấy giờ ta nên nhìn lại những đối tượng mà trước đây ta đã từng ghét bỏ hay muốn loại trừ. Dưới ánh sáng mới của tâm thức, những thành kiến trong ta đã rơi rụng, ta sẽ nhìn họ với lăng kính nhận diện đơn thuần (mere recognition), nhìn như họ đang là chứ không phải như chính tâm trạng hay cảm xúc ta đang là, thì chắc chắn ta sẽ thấy rõ được nguyên nhân sâu xa nào khiến họ trở nên như vậy. Chừng hiểu ra được gốc rễ nguồn cơn, ta sẽ cảm thông và chấp nhận dễ dàng, đôi khi ta còn rất biết ơn họ đã giúp ta có những bài thực tập gian nan mà cũng thật giá trị. Thế mới nói, một nhận thức đúng đắn có thể tái thiết lập nền hòa bình ngay lập tức. Tất cả đều do tâm mà ra.

    Cho nên làm gì thì làm, ta cũng đừng bao giờ quên nhìn lại mình như một bổn phận không thể thiếu giữa một cá thể đối với một cá thể, hay một cá thể đối với đoàn thể hoặc đại thể. Như lời nhắc nhở của thiền sư Tuệ Trung Thượng Sĩ vào thời nhà Trần nước ta: “Phản quang tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”. Nhìn lại mình là bổn phận của mỗi người, vì nó có thể làm cho mình có bình an và hạnh phúc chân thật, mọi sự tranh đấu chỉ đem lại sự thỏa mãn nhất thời, đuổi theo nó để nắm bắt thì chẳng được gì đâu!

    Tâm ý đã mệt nhoài

    Thương ghét mãi chưa nguôi

    Dừng nói năng phân biệt

    Tôi tìm về chính tôi

    Trích "Hiểu từ trái tim"

    Tạp bút

  • Thất Bại
    chequangtho

    Ai trong chúng ta cũng đều sợ thất bại, vì thất bại có thể làm hao tổn tài sản, năng lực và cả niềm tin hy vọng nữa. Nói chung sự thất bại nào cũng mang lại cảm giác xấu (unpleasant) cả, nhưng tùy vào quan niệm sống và thái độ của mỗi người đối với sự thất bại mà cảm giác xấu ấy sẽ biểu hiện và ảnh hưởng tới mức độ nào.

    Nếu ta cho rằng mình sẽ không bao giờ bị thất bại vì tài năng và bản lĩnh có thừa, thậm chí ta rất ghét sự thất bại, ta còn cho rằng thất bại là xấu xa là nhục nhã, nên khi đối đầu với sự thất bại ta sẽ dễ bị chao đảo và ngã quỵ. Nhiều khi sự tổn hại về tài sản và năng lực cũng chẳng là bao, nhưng chính cái kẹt vào danh dự mới làm ta khổ. Ta vừa phải lo thu dọn bao nhiêu thứ tàn dư sau cuộc chiến bại, vừa phải tìm cách ứng phó để giữ gìn sĩ diện. Đó là chưa nói đến sự tưởng tượng của ta về thái độ coi khinh của mọi người khi họ biết ta thất bại, mà chính ta cũng tự vẽ vời thêm thảm cảnh đáng thương của mình trong những ngày sắp tới sống trong thất bại. Chính thái độ ấy đã nhấn cuộc đời ta chìm xuống.

    Cũng có khi ta chưa quen thất bại hoặc chưa bao giờ bị thất bại nặng nề như vậy nên ta rất dễ lúng túng rồi cố bám víu vào mọi thứ. Một người vừa bị mất việc thì tìm kiếm ngay việc khác để làm, một người lỡ tay làm hư một tác phẩm thì vội vàng bắt tay vào tác phẩm mới, một người vừa bị phụ tình thì mau chóng lao tới đối tượng khác để được cảm giác thương yêu. Tất cả những phản ứng sau sự thất bại thường là cố gắng khẳng định cái tôi của mình, vì theo ta nếu không nắm được gì trong tay thì chẳng còn gì là ta nữa. Nhưng phần lớn những gì ta cố bám trong khi đang trải qua sự thất bại đều là lầm lẫn. Ta chỉ đang tìm cách xoa dịu và khỏa lấp sự tổn thương ích kỷ của mình, chứ không phải ta đang có sự đầu tư đúng mức cho đối tượng. Bi kịch thường hay xảy ra trong những lần cảm xúc bùng vỡ như thế, bởi sự chọn lựa không hề có sự soi sáng chín chắn của lý trí.

    Nhiều khi ta lại đi tìm cái tôi của mình ngay nơi con đường tâm linh. Đáng lẽ ra những phương pháp thực tập chuyển hóa có thể giúp ta chữa trị và hồi phục rất nhanh chóng, nhưng khi vết thương chưa kịp lành là ta đã vội đặt cho mình những mục tiêu chuyển hóa to tát cần phải đạt được. Ta lầm tưởng đó là thái độ quyết tâm hướng thượng, nhưng thực chất là ta đang củng cố cái tôi yếu đuối của mình. Ta phải làm một điều gì đó để ta thấy được sự tồn tại của mình. Trong tình trạng năng lượng cạn kiệt mà ta lại đặt thêm một tham vọng mới, dù tham vọng ấy được coi là chính đáng đi nữa thì nó vẫn đốt cháy hết năng lượng dự trữ trong ta, sức ép ấy khiến ta phải tiếp tục chiến đấu chứ không được nghỉ ngơi. Cũng như khi cục tuyết rơi từ đỉnh núi xuống, nếu nó cứ cố bám vào tuyết trên đoạn đường rơi xuống thì cục tuyết sẽ lớn dần và trở thành cục tuyết khổng lồ khi rơi tới chân núi, sức tàn phá của nó rất ghê gớm. Đó là hiệu ứng quả cầu tuyết (snowball effect).

    Ta đã từng thấy có nhiều người càng hướng tới tâm linh thì họ càng vướng kẹt và suy yếu vì họ vẫn chưa dừng lại cuộc tranh đấu. Nhiều người tìm đến công tác từ thiện hay phục vụ cộng đồng cũng để khỏa lấp nỗi đau thất bại từ cuộc đời. Tuy những công tác cao cả ấy có thể mời lên những năng lượng tốt đẹp trong tâm hồn nhưng vết thương kia vẫn còn đó, sau này khi năng lượng xoa dịu không còn dồi dào nữa thì nó sẽ đau nhức trở lại. Tìm tới danh vọng khi thất bại trong tình cảm, hay tìm đến tình cảm khi danh vọng thất bại cũng đều như vậy, cũng là cách để cứu vớt cái tôi yếu đuối của mình và cũng sẽ đón nhận những thất bại sâu đậm hơn. Bởi sự đầu tư vội vàng sau những lần thất bại thường mang theo rất nhiều hy vọng, cũng như kẻ chơi bạc vốc hết túi tiền để đặt cược lần sau cuối.

    Hiểu về trái tim

    Chỉ là chưa thành công

    Một sự thành công phải luôn hội tụ vô số điều kiện phù hợp với nó, nhưng không phải lúc nào ta cũng chủ động nắm hết mọi điều kiện vì có thể nó hoàn toàn nằm ngoài tầm tay của ta. Dù điều kiện quyết định sự thành công có khi nằm ngay trong ta và tưởng chừng rất dễ dàng để chế tác ra, nhưng vì thiếu kinh nghiệm và sáng suốt nên ta cũng không biết thêm bớt như thế nào để gọi là đủ điều kiện cho nó. Đây cũng là lẽ thường nhiên, vì nếu ai cũng nắm được mọi bí quyết đưa tới sự thành công thì con người đã không còn là con người và thế gian này đã biến thành cõi thiên đường mất rồi. Như vậy khi sự việc bất thành thì ta phải hiểu rằng những điều kiện đưa tới sự thành công chỉ là chưa hợp lý, có thể dư hoặc thiếu, chứ không hẳn là vô nghĩa.

    Chữ “thất bại” có thể khiến ta hiểu lầm là ta không được gì cả, hoàn toàn trắng tay, trong khi những gì ta đã gầy dựng nên vẫn còn đó chứ có mất đâu. Những kỹ năng tập luyện, những kinh nghiệm và kiến thức tích lũy, cũng như những yếu tố thuận lợi bên ngoài mà ta đã cất công gom lại sẽ được sử dụng một cách xứng đáng cho công trình hay đối tượng kế tiếp. Cho nên khi thành công ta phải hiểu rằng sự thành công này đang đứng trên vai của sự thất bại trong quá khứ, đó chính là ý nghĩa của câu nói “Thất bại là mẹ của thành công”. Không có sự thành công vững bền nào mà không được làm ra từ những thất bại nho nhỏ ban đầu. Vì vậy ta nên tập gọi sự việc bất thành là “chưa thành công” thay vì gọi là thất bại. Cách gọi đó sẽ giúp ta không dễ dàng suy sụp tinh thần hay thất vọng vì ta biết rằng cơ hội vẫn chưa chấm dứt, thua keo này ta vẫn có thể bày keo khác.

    Thật ra, thất bại là một phần rất quan trọng của cuộc sống. Khi thất bại ta sẽ thu mình lại, mặc dù bị đè nặng trong cảm giác rất khó chịu nhưng đó là cơ hội để ta nhìn lại mình rõ hơn. Ít nhất lòng tự hào, háo thắng hay chủ quan trong ta cũng rơi rụng bớt. Đó là lý do mà các bậc trải nghiệm luôn rất lo lắng khi thấy người trẻ dễ dàng gặt hái được thành công, nhất là sự thành công vay mượn quá nhiều từ những điều kiện thuận lợi bên ngoài. Họ chưa nếm trải những cảm giác xấu khi thất bại, cái tôi của họ chưa từng bị bầm dập khi đi ngang qua những giai đoạn khốn đốn vì không biết phải xoay sở bằng cách nào, và họ cũng chưa kịp mời lên những phẩm chất quý giá đạo đức trong tâm hồn như tính từ hòa hay đức khiêm cung, thì sự thành công lớn có thể trở thành tai họa cho chính cuộc đời họ và mọi người chung quanh. Ta đã từng chứng kiến rất nhiều người trẻ có những thành công vang dội nhưng lại mau chóng ngã đổ vì chính thái độ biến đổi khôn lường của họ.

    Vả lại, bản năng sinh tồn của con người vốn rất vĩ đại, chỉ khi nào đối đầu với những lần thất bại sâu cay thì nó mới chịu phát hiện ra, nhờ vậy mà nội lực con người trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Cho nên ta đừng sợ thất bại. Nếu thấy mình chưa đủ vững vàng thì ta cũng đừng vội mong cầu thành công, hãy vui vẻ đón nhận sự thất bại như đón nhận cơ hội đào luyện sức chịu đựng và chuyển hóa tâm tính của mình. Người trí thường hay từ khước những điều kiện thuận lợi mà tìm tới những hoàn cảnh khắc nghiệt để phát huy hết năng lực tiềm ẩn, họ xem nhẹ những thành công chỉ mang lại những cảm giác thỏa mãn đơn điệu theo thị hiếu của cuộc sống để chọn cái to tát hơn chính là chiến thắng với những bóng tối phiền não trong họ. Đó mới chính là những người hùng thật sự.

    Hiểu về trái tim

    Mỉm cười với thất bại

    Bài tập đầu tiên khi đón nhận sự thất bại đó chính là nhìn lại thái độ phản ứng của mình. Ta phải ghi nhận cái gì đang biểu hiện trong dòng cảm xúc hay tâm thức của mình, mà không dùng ý chí để đàn áp hay phủ nhận nó. Cần nắm rõ hiện trạng tâm lý để ta đánh giá chính xác nội lực của mình mà quyết định hứng chịu một mình hay cần đến sự trợ giúp của người thân, thay vì chỉ cố gắng che đậy để bảo vệ danh dự hay dựa dẫm vào những đối tượng khác để xoa dịu sự tổn thương. Để làm được điều này ta cần phải có thói quen thường xuyên nhìn lại tâm mình trong mọi tình huống. Nhìn lại mình đã là một bước luyện tập đáng nễ, mà nếu có thể nhìn bằng thái độ không thành kiến thì cái nhìn đó sẽ đạt tới mức thấu suốt bản chất của mọi đối tượng. Có thể ta sẽ thấy những phiền não trong ta mới là nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại, hoàn cảnh chỉ đóng vai trò phụ.

    Tham vọng là phiền não ta thường phát hiện ra nhiều nhất trong những lần thất bại. Bởi ta luôn bị sự kích động quá lớn của trào lưu xã hội nên thấy ai có cái gì ta cũng muốn có cho bằng được, mà thực chất ta không biết rõ mình có cần nó hay không và mình có đủ khả năng để đạt được nó hay không. Tham vọng có thể khiến cho tâm tưởng nhồi nặn ra lòng tự tin một cách không căn cứ. Ta thường dễ bị ý muốn thành công dẫn dắt thay vì tìm kỹ trong kinh nghiệm và kiến thức tích lũy của mình có những chất liệu nào đóng góp nên sự thành công. Nếu chỉ có cái muốn mà ta đã vội vắt kiện năng lượng ra đầu tư thì đó là một hành động rất ngây thơ, bị cảm xúc chi phối trầm trọng. Những lần phát hiện ra lòng tham của mình đang vận hành, ta nên nở nụ cười để xác nhận rằng ta đã thấy nó rồi, nó không thể gạt gẫm ta được nữa vì ta đã thấu hiểu đường đi nước bước của nó.

    Chấp nhận sự thất bại là thái độ rất quan trọng trong tiến trình trị liệu. Ta nên nhớ rằng trạng thái tâm lý đang chịu đựng sự thất bại rất quan trọng, nó là một phần tất yếu của cái tôi thuần phục và vững chãi. Nếu ta đã phấn đấu hết lòng rồi mà vẫn không thành công thì chắc chắn nguyên nhân tùy thuộc ở bên ngoài, lực bất tòng tâm, ta không cần phải day dứt hay trách móc bản thân, cứ kiên nhẫn chờ đợi đến khi điều kiện hội đủ. Vượt qua được tâm lý tổn thương và mặc cảm là ta đã vượt qua hơn một nửa nỗi khổ niềm đau vì thất bại. Thỉnh thoảng ta cũng nên tự hỏi mình có cần đeo bám mãi sự thành công không, nó có phải là điều kiện tiên quyết cho hạnh phúc của ta trong hiện tại không, để ta buông xả bớt những mục tiêu chỉ đem lại những giá trị tầm thường hay vô nghĩa. Đừng bao giờ quên rằng sự thất bại dù lớn lao đến đâu cũng chỉ là một phần của cuộc sống, nó không thể làm phương hại tới những giá trị mầu nhiệm mà ta đang nắm giữ trong tầm tay.

    Thành bại đã bao lần

    Tuổi xuân trôi lần lựa

    Nụ cười trên môi chờ

    Bao giờ cho nhau nữa

    Trích "Hiểu về trái tim"

    Tạp bút

  • Giữ bàn tay cho khỏe - 5 hiệp ước bảo vệ sinh mạng chung
    chequangtho

    Khi nhìn vào đóa hoa đào có thể ta cho rằng đóa hoa này là do chính cây đào sinh ra, đây là một sự thật nhưng không hoàn toàn đúng. Quan sát kỹ hơn ta sẽ thấy hoa đào còn được làm ra bởi những điều kiện khác như mặt trời, gió, nước, khoáng chất, côn trùng hay rác nữa. Những thứ này tuy không phải là hoa đào, tạm gọi là phi hoa đào, mới nhìn vào tưởng chừng nó không có liên quan gì tới hoa đào, nó và hoa đào tách biệt hoàn toàn, nhưng nếu không có những thứ ấy thì hoa đào không thể có mặt được. Hoa đào tuy được làm ra từ cây đào, nhưng cây đào này và tổ tiên của nó cũng được làm ra từ những thứ không phải là giống đào, cho nên nói chính xác hơn là không có gì là hoa đào cả, chỉ có cái hợp thể được tạo nên từ những điều kiện phi hoa đào thôi. Cái chữ “phi” thật ra cũng không nên có, vì chính nó đã tạo ra một cá thể hoa đào chứ nào phải ai khác.

    Đây không phải là vấn đề triết học, mà là một sự thật rất hiển nhiên, chỉ cần trầm tĩnh và nhìn sâu một chút là ta thấy ngay sự thật. Nếu hoa đào biết được sự thật nó cũng chính là lá, là cành, là thân, là rễ của cây đào, mà nó cũng đồng thời là vạn vật bên ngoài đã và đang không ngừng nuôi dưỡng nó thì nó sẽ không bao giờ dám tự hào, kiêu ngạo và sống ích kỷ. Hoa đào chỉ là một tướng trạng đại diện cho tất cả những gì mà tổ tiên của hoa đào và cả vũ trụ này trao tặng, và tướng trạng này chỉ biểu hiện một thời gian rồi lại đổi sang tướng trạng khác. Cho nên hoa đào không chỉ yêu bản thân mình mà còn phải yêu luôn lá, cành, thân, rễ hay vạn vật sống chung quanh nữa. Có lẽ hoa đào đã hiểu rõ điều đó nên xưa nay nó luôn sống hết mình, luôn chịu đựng trận giá rét thấu xương để khi nắng ấm mùa xuân về nó tung ra những đóa hoa tươi thắm và thơm ngát. Nhìn lên cây nào chỗ nào cũng trổ đầy hoa, thật cảm động và khâm phục, nhưng hoa đào không hề coi khinh hay xâm phạm quyền lợi của ai cả. Nó đã sống hết trách nhiệm dễ thương của nó.

    Có bao giờ đưa bàn tay lên và ta tự hỏi bàn tay này thực ra là của ai mà có thể làm nên bao điều hay ho như nấu ăn, sửa chữa, cắm hoa, viết lách, hội họa, thiết kế, kinh doanh, nâng đỡ kẻ khác hay tạo nên bao tuyệt tác cho đời? Câu hỏi thật đơn giản nhưng có thể ta đã từng trả lời sai. Ta có thấy trong bàn tay này, ngoài di truyền ra, ta còn được đón nhận tất cả những tài năng và đức hạnh của thế hệ phía trước mà gần gũi nhất là cha mẹ của ta? Khi nấu một tô canh chua thì ta phải biết rằng cả tổ tiên cùng nấu chung với chúng ta, vì nếu không có sự khám phá và trải nghiệm của tổ tiên thì sức mấy ta biết nấu được một tô canh chua ngon như vậy, mà thậm chí ta cũng không biết thế nào là canh chua, danh từ canh chua cũng không có. Sự thật là tổ tiên không chỉ có mặt trong ta qua từng tế bào, mà còn trong từng nhận thức và nếp sống nữa. Dù muốn dù không thì ta cũng phải nhìn nhận sự thật ấy chứ không thể chối cải hay loại trừ được, vì họ cũng chính là ta kia mà.

    Thân phận của ta cũng không khác mấy với hoa đào. Ta cũng chính là sự tiếp nối của tổ tiên huyết thống và cả tổ tiên tâm linh, là tướng trạng đại diện chứ không phải riêng biệt. Điều duy nhất khiến ta có chút khác biệt với họ là ta đã có công tổng hợp tất cả những yếu tố trao truyền ấy lại thành một chỉnh thể mới để thể hiện một đời sống mới với một sứ mệnh mới. Và như thế ta phải vay mượn thêm những điều kiện khác nữa trong thực tại thì ta mới có thể làm công tác tổng hợp ấy được. Những điều kiện đó chính là thiên nhiên, là những gì mà hoa đào đã từng vay mượn, nghĩa là ta không ngừng giao thoa và chịu tác động của muôn người, muôn loài. Ngoài ra ta còn nương tựa vào nhiều thứ khác nữa như kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, tôn giáo…thì ta mới có thể trở thành một con người hiểu biết và tài giỏi như hôm nay. Càng nhìn lại mình sâu sắc ta càng thấy mình cũng như muôn loài, cũng được làm ra từ những cái không phải ta, bởi sự thật ta chính là vô ngã (non self). Cho nên khi xưng ta hay nhìn vào những tác phẩm của ta thì ta phải hiểu rằng nó vốn là hợp thể, là thành phẩm chung, không có cái gì để gọi là riêng biệt cả.

    Không cần nhờ triết học hay tôn giáo thì ta mới khám phá ra sự thật này vì nó rất rõ ràng. Tổ tiên ta ngày xưa nhờ có nhiều cơ hội nhìn lại mình, ít chạy theo ngoại cảnh, nên dễ dàng thấy rõ nguyên tắc tương tức nhau để tồn tại, vì vậy họ luôn thực tập thương yêu kẻ khác cũng như thương yêu chính bản thân mình. Đó không phải là vấn đề cao thượng hay từ bi gì cả, mà đó là thái độ sống đúng đắn, phù hợp với sự vận hành của vũ trụ. Sống như vậy là sống có hiểu biết, sống có bình an và hạnh phúc. Ta bây giờ luôn tự cho mình là văn minh, có đủ loại bằng cấp, mà lại không thấy hoặc không chấp nhận nổi sự thật ấy, nên ta cứ lao mình theo chủ nghĩa cá nhân để ra sức tích góp mọi quyền lợi để phục vụ cái ta cho là riêng biệt của mình, đôi khi ta còn xâm lấn của kẻ khác, vơ vét tài sản chung và gây thương hại đến môi trường chung quanh mà rốt cuộc ta vẫn là kẻ khổ đau.

    Trách nhiệm

    Hãy click vào hình để tải về mẫu tham gia “Giữ bàn tay cho khóe-5 hiệp ước bảo vệ sinh mạng chung”

    Chưa bao giờ hai chữ “trách nhiệm” được nhắc nhở nhiều như bây giờ, mặc cho báo đài cứ kêu ca mỗi ngày nhưng dường như nó không lay động nổi nhận thức và trái tim lãnh cảm của con người với những cái được gọi là của chung. Sự thực dụng đến mức thô thiển khiến người ta không những không muốn chịu trách nhiệm cho những cái mình đang cùng thừa hưởng mà còn góp phần tàn phá. Họ tưởng rằng chỉ có tiền bạc, quyền hành hay tình yêu mới là cái quan trọng nhất, nhưng thử lấy nước hay không khí ra khỏi thì họ có còn sống để đeo đuổi những thứ kia nữa không? Nên nhớ kinh tế cũng chính là phi kinh tế, kinh tế không thể có mặt và đứng vững khi những lĩnh vực khác chao đảo hay hư hoại. Tình yêu cũng vô ngã, cũng đứng trên những thứ phi tình yêu mà hợp thành, nghĩa là không có cái gọi là tình yêu nếu nó muốn đứng riêng. Vậy mà khi yêu nhau cũng như khi làm kinh tế, người ta lại sẵn sàng gạt bỏ những liên hệ và điều kiện mật thiết chung quanh, quên hết bổn phận trách nhiệm, sống theo cái tôi nông nổi nhất thời, thì đừng hỏi tại sao yêu là khổ hay làm ăn cứ thất bại hoài, vì ngay từ vạch xuất phát đã sai lầm rồi.

    Sự bùng nổ kinh tế thị trường đã đánh thức lòng tham vốn bị thuần phục bởi đạo đức suốt mấy nghìn năm qua để giữ gìn phẩm chất cao đẹp mà vũ trụ đã trao tặng cho con người. Khi bị cảm xúc thỏa mãn khống chế người ta cứ nhắm mắt lao vào tranh giành quyền lợi, không còn quan trọng đến những giá trị mà tổ tiên ta đã từng cố gắng tạo dựng và giữ gìn. Bây giờ phần lớn người ta sống trong tình trạng bất an không phải vì thiếu ăn thiếu mặc mà vì muốn có đủ thứ tiện nghi như kẻ khác, làm như thể nếu không giàu có thì không thể sống hay hạnh phúc được. Vì lẽ đó hễ cái nào có thể đem tới quyền lợi trước mắt thì người ta chụp bắt ngay, bất chấp đó là phương tiện gì. Đến khi gặp phải những tai nạn rủi ro thì người ta lại than trời trách đất sao chẳng công bằng, mà họ không hề biết rằng chính lối sống hưởng thụ ích kỷ và thiếu trách nhiệm đã khiến họ không còn năng lượng dự trữ để ứng phó với những bất trắc vốn dĩ rất tự nhiên của đời sống, và một sự thật khác là chính vũ trụ đã hồi đáp lại những gì mà họ đã không dễ thương với vũ trụ trước nay.

    Vũ trụ không phải là đấng quyền năng thượng đế, đó là qui luật vận hành rất tự nhiên của vạn vật, cá thể nào gây nhân thì cá thể đó phải gặt quả. Nhiều khi “cha ăn mặn mà con lại khát nước” mới ngậm ngùi vì con cũng là sự tiếp nối của cha, cha với con bản chất vốn là một. Cho nên ta đừng hòng thoát khỏi bàn tay vũ trụ khi ta vẫn còn trú ẩn trong vũ trụ này, nếu ta không muốn chịu tai ương hay con cháu uất hận mình đã để chúng chịu hậu quả xấu xa thì hãy ngưng ngay lối sống vô trách nhiệm của mình. Vũ trụ vốn rất công bằng, nhiều khi mình cướp đoạt tài sản hay tranh giành địa vị của kẻ khác nhưng vũ trụ lại rút năng lượng của mình ở dạng tình cảm hay sức khỏe hoặc có khi sinh mệnh cũng không chừng. Ngược lại, nếu mình biết bồi đắp cho những cái chung thì vũ trụ sẽ rất biết ơn, sẽ ban tặng cho mình những nguồn năng lượng quý báu bất ngờ.

    Vậy nên “trách nhiệm” không phải là sự hy sinh, chịu thiệt thòi mà đó là bổn phận căn bản của mỗi công dân có mặt trong vũ trụ nếu muốn có một đời sống bình an và hạnh phúc. Bởi vì vũ trụ luôn dự trữ sẵn một nguồn năng lượng an lành vĩ đại để hiến tặng, nhưng nếu ta không mở lòng ra để hướng tới những đối tượng khác hay cái chung thì ta không thể kết nối được. Nói dễ cảm nhận hơn thì năng lượng vũ trụ chính là tổng năng lượng của vạn vật hữu tình và vô tình gộp lại, nếu ta phát ra năng lượng nào thì sẽ thu về gấp bội lần năng lượng ấy. Như vậy giữ gìn cái chung cũng chính là giữ gìn cái riêng. Mà thực ra không có cái gì là chung hay riêng cả, chỉ có nhận thức sai lầm con người chia cắt giữa cái tướng trạng biển hiện và cái bản thể ẩn tàng mà thôi. Chính vì vậy mà tổ tiên ta đã từng khuyên “ Có đức mặc sức mà ăn”, đức chính là thái độ biết buông bỏ cái tôi ích kỷ và tham lam của mình để luôn chia sẻ với muôn người và muôn loài thì vũ trụ sẽ nuôi dưỡng ta suốt đời. Ta sẽ trở thành đứa con cưng của vũ trụ. Suy cho cùng trách nhiệm cũng chính là quyền lợi, chỉ là chuyển đổi từ dạng công sức, tài năng hay tiền bạc sang dạng năng lượng khác cao quý hơn mà chính ta không tài nào chế biến nổi.

    Có rất nhiều vấn đề đang cần phải kêu cứu nhận thức đúng đắn trở lại của con người như hàng loạt công trình xây dựng bị rút ruột, tình trạng kinh doanh hóa chốn học đường, việc chế tạo các trò chơi điện tử hủy diệt tuổi thơ, sự tham lam đến tàn nhẫn trong việc giả mạo hàng hóa đến thực phẩm, cuộc tranh đua chế tạo vũ khí hạt nhân để lấn chiếm lãnh thổ, hay nhiều vụ tham nhũng dẫn đến kinh tế quốc gia kiệt quệ làm cho dân tình sống cảnh lầm than…Những vấn đề nóng bỏng ấy cần sự nhìn lại và quan tâm đúng mức của chính phủ hay liên hiệp quốc thì mới hy vọng ngăn chặn được. Song, có những tình trạng cũng đang ở mức báo động “đỏ” mà nhiều người trong chúng ta vẫn chưa nhìn thấy nên cứ vô tâm tàn phá khiến hiểm họa đang dần bủa vây khắp nơi trên quả địa cầu, trong khi chính mỗi cá nhân có thể góp phần vào việc thay đổi tình trạng, đó chính là môi sinh.

    Môi sinh chính là bà mẹ (mother earth) của chúng ta, là căn nhà (home) của chúng ta, nếu nó có mệnh hệ gì thì chúng ta sẽ lãnh đủ hết. Ta hãy nhìn lại môi trường mình đang sinh sống bằng con mắt tỉnh táo và hiểu biết để thấy rõ tình trạng của nó bây giờ như thế nào.

    Vấn đề túi nylon: Chúng ta biết rằng túi nylon được làm ra từ nhựa PVC (polyvinyl chloride) khi đốt cháy sẽ thành chất dioxin rất độc hại, gây khó thở và có thể nôn ra máu, làm giảm khả năng miễn dịch, tạo ra các triệu chứng ung thư hay dị tật bẩm sinh. Dùng túi nylon màu để đựng thực phẩm dễ khiến thực phẩm nhiễm các kim loại như chì, cadimin góp phần làm bại não và gây ung thư phổi. Túi nylon khi bị vứt xuống cống sẽ làm tắt nghẽn các hệ thống thoát nước, tạo điều kiện cho muỗi và các dịch bệnh phát sinh. Nếu nó lẫn trong đất thì cỏ không mọc nổi và dẫn đến sự xói mòn các vùng đồi núi.

    Ở Wales, miền tây nam nước Anh, mỗi năm người ta vứt khoảng 480 triệu túi nylon và loại này phải mất cả nghìn năm mới tự phân hủy được. Cho nên chính quyền Wales đã tuyên bố thực tập giới hạn sử dụng túi nylon vào năm 2011, họ sẽ đánh thuế 15 xu nếu dùng túi nylon để đựng những thứ mà họ mua sắm. Số tiền này sẽ dành cho các dự án bảo vệ môi trường. Trong khi ở Ireland (Ái Nhĩ Lan) đã áp dụng từ năm 2002, cũng 15 xu cho 1 túi nylon, và họ đã thu được 109 triệu bảng (khoảng 153 triệu đô la Mỹ). Số lượng túi nylon được sử dụng từ đó giảm đến 90% và chi phí xử lý rác cũng xuống thấp rõ rệt. Còn ở Sài Gòn cứ mỗi một ngày tiêu thụ khoảng 5 triệu túi nylon, tương đương với 35 tấn, chủ yếu ở các siêu thị vì dân ta đang rat thích lối đựng hàng tiện nghi này mà không ngờ phía sau sự tiện nghi ấy là một thành phố “ô nhiễm trắng” đang kêu cứu.

    Ở bên Đức, Pháp và Hòa Lan đang tiến hành sử dụng túi sản xuất từ tinh bột khoai tây hay giấy mà tự nó có thể phân hủy sau 3 tháng. Ở Việt Nam ngày xưa, ông bà ta dùng lá sen, lá chuối để gói hàng hay xách giỏ đi chợ mà vẫn có thể sống an toàn và vững chãi. Hình ảnh ấy tuy thô sơ nhưng nói lên nếp sống rất sâu sắc và văn minh của ông bà ta. Đã đến lúc ta cần quay về học lại nếp sống đẹp của truyền thống, bớt chạy theo lối tiện nghi xa xỉ, ta hãy cùng nhau thực tập chỉ dùng túi vải, túi mây hoặc bất cứ loại nào không gây nhiễm độc cho môi sinh để đựng hàng hóa khi đi chợ. Đừng đợi chính phủ lên tiếng cảnh báo hay phạt tiền rồi ta mới chịu làm, như thế sẽ quá muộn để cứu lấy hành tinh xanh này.

    Vấn đề giấy: Chúng ta biết rằng rừng đóng vai trò rất quan trọng đối với sự tồn vong của chúng ta. Nhờ có tán lá xòe rộng mà nước mưa không xối thẳng xuống mặt đất nên lớp đất trên mặt khó bị rửa trôi theo nước mưa và nắng cũng không đốt cháy mặt đất. Rừng không chỉ bảo vệ đất mà còn làm tăng độ màu mỡ cho đất, là nơi dự trữ nguồn nước để các sinh vật sống trong đất và cũng vừa chảy chậm về nuôi các con sông trong thời gian không mưa. Do vậy những vùng có rừng che phủ sẽ giảm bớt hạn hán. Không những vậy rừng còn có chức năng làm cho các cơn lũ xuất hiện chậm hơn và giảm mức đột ngột. Và điều quan trọng hơn hết là rừng đã hấp thụ khí thải CO2 (carbon dioxide) từ khói xe và nhà máy để nhả ra dưỡng khí O2 (oxy) cung cấp cho lá phổi con người. Có thể nói rừng chính là lá phổi mẹ của chúng ta, nhưng chúng ta đã làm gì để giữ gìn lá phổi vĩ đại ấy?

    Một trong những lý do khiến hàng vạn khu rừng liên tục ngã xuống đó là việc sản xuất giấy. Cứ 1 tấn giấy thành phẩm thì phải cần có 5m3 gỗ và 100m2 nước. Đối với những loại giấy bao bì phải mất ít nhất 400 năm nó mới tự phân hủy. Nhưng nếu tái chế thì mỗi tấn giấy ta có thể tiết kiệm 32m3 nước vừa đủ cung cấp cho 3.000 toilet công cộng và 4.200 kwh năng lượng điện. Cho nên sẽ không có gì sai khi phát biểu rằng nếu rừng ngã thì ta cũng sẽ ngã theo (forest falls we fall). Nhưng ta và con cháu của ta không thể ngã xuống chỉ vì lối sống thiếu tỉnh thức và nông cạn của mình. Vậy nên từ bây giờ trở đi, ta hãy thực tập với nhau sẽ hạn chế tối đa việc sử dụng khăn giấy, thay vào đó ta dùng trở lại khăn vải để chùi miệng hay khăn lông để lau tay. Ngay cả chén hay ly giấy, ta chỉ dùng trong trường hợp bất khả kháng, chứ không xem đó là cách tiện lợi thỏa đáng.

    Sử dụng lại cách cũ tuy hơi mất công một chút nhưng nó vừa đối trị thói quen dễ dãi lười biếng của ta, vừa giúp ta không trở thành thủ phạm gián tiếp tiếp tục hủy diệt vô số cánh rừng xanh tươi. Đối với giấy sử dụng trong việc học tập hay văn phòng cũng nên tận dụng hết mức, ít nhất là phải xài hết hai mặt rồi mới bỏ đi. Cách nay chừng vài thập niên thôi, ta đã từng biết gom lại những quyển tập niên học cũ làm “kế hoạch nhỏ” để có tiền mua tập cho niên học sau. Thời ấy, ai làm diều bằng giấy tập được xem là hạng sang. Kinh tế phát triển đã làm cho ta có đầy đủ mọi thứ nhưng cũng chính từ ấy ta trở nên phung phí, quên đi rất nhiều nguyên tắc sống căn bản để giữ gìn sức khoẻ và thăng hoa tâm hồn.

    Vấn đề nguồn nước: Chúng ta biết rằng khi rừng ngã xuống hay không khí bị nhiễm độc thì cũng đồng nghĩa là nguồn nước sạch đã dần cạn kiệt. Hiện nay có khoảng 1/6 dân số thế giới không được dùng nước sạch, và hằng năm có hơn 2 triệu người mà phần lớn là trẻ em chết vì khát hay vì các chứng bệnh liên quan tới nguồn nước. Thật ra trong 30 năm qua nhu cầu nguồn nước sạch của con người đã vượt qua khả năng cung cấp, trong khi một số ít quốc gia đang cố gắng lập ra những nhà máy lọc nước mặn thì đa phần còn lại tiếp tục phun thuốc trừ sâu loại độc hại, tuôn chất thải từ kỹ nghệ chăn nuôi hay tiêu xài một cách lãng phí. Các hiệp hội bảo vệ môi trường trên thế giới dự báo chừng khoảng 50 năm nữa con người của cả địa cầu này phải chịu cảnh hạn hán kinh niên và đi hứng từng giọt nước để uống nếu cứ đà lãng phí hay làm ô nhiễm như hiện nay.

    Chúng ta chắc không quên mình đã từng sống qua những giai đoạn thiếu thốn nguồn nước, phải thức hôm thức khuya để hứng từng xô nước từ giếng làng về xài cho sinh hoạt cả gia đình trong ngày, và bây giờ thảm cảnh ấy vẫn còn đang tiếp diễn ở Châu Phi, hay một vài khu vực ở Châu Á và trong tương lai sẽ là toàn cầu. Khi ấy chúng ta có thật nhiều tiền cũng không thể nào mua được nước, nước đã bị nhiễm ô và từ giã ta ra đi xa rồi. Mặc dù hiện nay tại một số nơi nước đang nằm trong quyền quản lý của một vài tập đoàn kinh doanh và nó đã trở thành mặt hàng đắt đỏ đứng sau điện và xăng dầu, nghĩa là người nghèo là không được phép dùng nước sạch, trong khi nguồn nước là tài sản của thiên nhiên, ai cũng có quyền sử dụng nhưng không ai có tư cách làm ô nhiễm hay tranh giành làm của riêng. Chúng ta không muốn thảm cảnh ấy lặp lại một lần nữa với mình và con cháu mình, vậy thì ngay bây giờ vẫn chưa muộn nếu ta quyết tâm tiết kiệm nước.

    Mỗi khi đánh răng ta hãy nhớ tắt ngay vòi nước, vì trong 2 phút vô tâm ấy ta đã phung phí hàng chục lít nước sạch có thể cứu sống vài trẻ em đang chết khát trên thế giới. Khi rửa chén ta cũng nên rửa trong thau, đừng vì cái chén mà ta xả nước ồ ạt, dù ta có tiền để trả mỗi tháng. Chỗ hao phí nước nhiều nhất trong sinh hoạt hằng ngày chính là trong nhà tắm. Kể từ bây giờ ta nên cùng nhau thực tập giới hạn trở lại dùng vòi sen, thay vào đó ta hứng nước vào xô để tắm. Cách này tuy không tiện lợi nhưng giúp ta dễ dàng ngừng xả nước khi không thật sự cần thiết và biết được mình đã sử dụng bao nhiêu nước. Việc làm này tuy nhỏ nhưng hiệu quả tức thì mà không cần phải có một chính sách ban hành ta mới làm được. Con cháu mai sau không bị khuyết tật bẩm sinh, không bị cằn cỗi hay chết yểu, và còn nhìn thấy màu xanh của hành tinh này sẽ rất biết ơn nếp sống của ta hôm nay.

    Vấn đề khói xe: Theo WHO, tổ chức y tế thế giới, mỗi năm có gần 600.000 người tại Châu Á bị chết vì các bệnh thuộc đường hô hấp liên quan tới không khí. Thủ phạm hàng đầu gây ra tình trạng ô nhiễm này là khói xe. Ở Bắc Kinh mỗi ngày có 2,6 triệu xe phun khói lưu hành và nơi đây đã được mệnh danh là thành phố xe hơi. Cứ 5 người Bắc Kinh là có một người sở hữu xe riêng, với số dân 15 triệu nên giao thông ở Bắc Kinh không những trì trệ mà còn đến mức nghẹt thở. Ở HongKong khói xe luôn giăng kín thành phố đến nổi 1/3 số ngày trong năm người ta không thể ngắm các dãy phố hay hải cảng. Và ở Hà Nội mỗi ngày phải hít vào phổi khoảng 100mg bụi PM10 (particulate matter) cực kỳ độc hại, 5.000mg CO và 50mg khí thải khác như NO2, SO2 vì khói xe phong tỏa mù mịt.

    Cho nên mỗi khi cầm chìa khóa xe lên ta hãy nên tự hỏi nhiều lần là ta đang định đi đâu đây? Nếu thật sự cần thiết thì ta cứ đi, còn thấy mục đích kia không chính đáng ta hãy can đảm để chiếc chìa khóa xuống, đừng vì chút cảm hứng mà ta lại đi hủy diệt chính lá phổi hay sinh mệnh của mình và muôn loài. Ngoài ra, ta cũng nên dùng những loại xe chạy bằng nhiêu liệu bất hại như điện, hoặc cố gắng sử dụng xe công cộng khi có thể, ta vừa tiết kiệm xăng vừa không góp phần gây ô nhiễm mà cũng vừa tiếp nhận lại tính tương tác giữa mình và mọi người trong cộng đồng đang sinh sống. Đón xe đi chung với nhau là hình ảnh rất đẹp, nó kéo người ta lại gần nhau và phá vỡ phần nào chủ nghĩa cá nhân.

    Vấn đề ăn thịt: Chúng ta biết rằng địa cầu đang bị hâm nóng dần và ước tính có thể vài năm tới đây các tảng băng ở Băng Đảo và Tây Nam Cực sẽ tan rã rất nhanh và mực nước biển sẽ dâng cao đột ngột. Nó không những làm ảnh hưởng đến phân nửa dân số thế giới đang sống ven bờ biển, mà còn khiến cho hàng tỉ tấn chất mêtan (CH4) trong lớp băng dày đặt kia vỡ ra, làm cho địa cầu càng nóng lên dữ dội và hàng loạt thảm họa thiên tai sẽ xảy ra như hạn hán, sức nóng gia tăng, sa mạc hóa, đất lún chìm, sông băng rút ngắn, biển chết, loài hoang dã bị tuyệt chủng và sức khỏe con người bị suy sụp trầm trọng.

    Thế giới đang báo động tình trạng hiệu ứng nhà kính (the greenhouse effect) và hết sức nỗ lực giảm khí thải trong kỹ nghệ hay giao thông, nhưng phải mất thời gian khá lâu tình trạng mới khả quan vì nó có liên quan tới quyền lợi của nhiều tập đoàn sống trục lợi hay guồng máy chính trị độc tài và tham nhũng. Trong khi ăn chay thuần chất hữu cơ là giải pháp có thể làm ngay nơi mỗi cá nhân và hiệu ứng rất cao trong việc làm nguội địa cầu, vì chăn nuôi đóng góp hơn 50% chất thải mêtan vào bầu khí quyển này. Liên hiệp quốc cho rằng chính việc phá rừng để chăn nuôi đã tiêu phá lá phổi chung nên phải chịu trách nhiệm 20% tất cả khí nhà kính. Ngoài ra chính việc chăn nuôi gia súc lấy thịt tăng nhanh trong những năm gần đây đã khiến cho nhiều dịch bệnh nguy hiểm xuất hiện. Và có lẽ từ khi con người đắm chìm trong những món ăn cao cấp lấy từ mạng sống của nhiều loài động vật cũng chính lúc con người đánh mất lòng bao dung cao cả của một bậc đàn anh.

    Trách nhiệm

    Cho nên:

    1- Ý thức việc vứt bỏ túi nylon gây nhiễm độc cho bà mẹ thiên nhiên vì phải mất cả nghìn năm nó mới tự phân hủy, con xin nguyện chỉ sử dụng túi vải để đựng hàng hóa khi đi chợ.

    2- Ý thức nếu rừng ngã thì con không thể thở và cũng sẽ ngã theo, con xin nguyện chỉ sử dụng chén, ly hay khăn giấy trong những trường hợp không còn cách nào khác hơn.

    3- Ý thức nguồn nước thiên nhiên đang dần cạn kiệt và hàng triệu người đang chết khát trên thế giới, con xin nguyện tiết kiệm từng ngụm nước dù khi tắm rửa.

    4- Ý thức khói xe gây nhiễm ô không khí, tạo ra những trận mưa axít làm chết rừng, hư hại nguồn nước, con xin nguyện chỉ lái xe vào những mục đích thực sự chính đáng, và sẽ cố gắng dùng xe công cộng khi có thể.

    5- Ý thức việc chăn nuôi gia súc lấy thịt gây ra nhiều dịch bệnh nguy hiểm, chất thải làm cho địa cầu nóng thêm dẫn đến những thảm họa thiên tai, và con người ngày càng đánh mất lòng từ ái vốn rất cao cả dành cho muôn loài, con xin nguyện ăn chay thường xuyên để góp phần xoa dịu và giữ gìn sinh mạng chung.

    Trách nhiệm

    Hãy click vào hình để tải về mẫu tham gia “Giữ bàn tay cho khóe-5 hiệp ước bảo vệ sinh mạng chung”

    Vì tình thương và hiểu biết, thưa bà mẹ thiên nhiên, con xin tự nguyện ký kết năm hiệp ước này. Con ý thức rằng con đang gìn giữ gia tài rất quý báu của tổ tiên và phải có trách nhiệm trao truyền cho con cháu, con không thể để cho tâm hồn chúng nghèo đói mà lạc lõng đi về tương lai. Nếu bàn tay này còn tiếp tục gây ra những năng lượng độc hại có tính chất hủy diệt sinh mạng chung thì con sẽ có tội với các bậc tiền nhân và với vũ trụ. Vì vậy từ nay con xin hứa sẽ giữ bàn tay thật trong sạch để cùng đưa con cháu đi lên.

    Giữ bàn tay cho khéo

    Tiếp nhận nếp tổ tiên

    Trao truyền cho con cháu

    Cùng tìm hướng đi lên

    Tạp bút

  • Khổ Đau
    chequangtho

    Người ta vẫn thường hay nói nghèo là khổ, nghèo khổ, chứ ít ai nói giàu khổ cả. Thực ra người nghèo có nỗi khổ của người nghèo, mà người giàu cũng có nỗi khổ của người giàu. Người nghèo vì không chấp nhận cái nghèo, oán ghét cái nghèo, muốn được giàu nên họ khổ. Người giàu sợ bấy nhiêu tài sản chưa đủ làm người khác nể phục, sợ bị phá sản, sợ người khác lợi dụng hay hãm hại mình nên khổ. So ra, cái khổ của người giàu còn phức tạp và nan giải hơn người nghèo. Phải chi trong xã hội ai cũng như ai, ai cũng sở hữu tài sản như nhau thì chắc chắn ý niệm giàu nghèo sẽ không có. Cho nên, nếu ta thoát ra khỏi ý niệm giàu nghèo, không bị cuốn theo quan niệm của xã hội, ta thấy hưởng thụ vật chất không phải là lý do lớn nhất khiến ta có mặt ở trên đời này thì ta sẽ không bao giờ than khổ.

    Cực cũng vậy, người ta vẫn thường gộp chung cực với khổ, cực khổ. Trong khi bản thân của sự cực nhọc chưa chắc đã là khổ. Chỉ vì ta bỏ thêm thái độ của mình vào, ta kháng cự lại nó, ta muốn mình không phải vất vả nhiều nhưng vẫn có đầy đủ mọi thứ như những người khác nên ta khổ. Ta chỉ so sánh, đòi hỏi, chứ không cần tìm hiểu căn nguyên sâu xa tại sao ta lại cơ cực. Ta đã từng chứng kiến có những người chỉ cần người thân của họ qua khỏi cơn bệnh hiểm nghèo, dù người ấy không thể tiếp tục lao động, thì họ vẫn vui lòng đem hết thân mạng của mình ra để bảo bọc. Có những người làm công tác cứu hộ, họ biết lao vào lửa dữ, chui xuống lòng đất hay đi ngang qua lằn tên mũi đạn sẽ rất nguy hiểm đến tính mạng, nhưng vì tình thương mà họ không hề xem đó là nỗi khổ. Dù nhiều người cho rằng cái cực tâm trí mới thật là khổ, phải suy tính đủ điều mới gánh vác nổi công việc; nhưng trong thời buổi kinh tế suy thoái như hiện nay mà còn có công việc để làm, để suy tính thì đã là hạnh phúc lắm rồi.

    Và điều mà ta thường than thở với nhau nhiều nhất đó là đau khổ, hễ đau là phải khổ, như là một sự thật không thể thay đổi. Ai đó tát vào mặt ta một cái có thể làm ta đau, nhưng nếu ta có lỗi với người ấy và sẵn sàng đón nhận thì cái tát đó sẽ không làm ta khổ. Đằng này bằng một thái độ khinh miệt, họ đã “tặng” cái tát để sỉ nhục ta trước mọi người thì ta khổ thật đấy. Làm ăn bị thất bại, tiền bạc mất trắng, ai mà chẳng đau vì đó là mồ hôi nước mắt mà ta đã chắt chiu dành dụm suốt bao năm trời. Nhưng từ cái đau ấy đến cái khổ vẫn còn một khoảng cách khá xa, nếu ta biết rõ nguyên nhân thất bại và hoàn toàn chấp nhận. Và có lẽ, cái đau thống thiết nhất của nhân sinh chính là sự chia lìa, nên thường được ví như khúc ruột cắt đứt làm đôi, “đoạn trường thương đau”. Nhưng nếu ta ý thức được hợp tan là chuyện nhân duyên, biết đâu đó cũng là cơ hội để hai người nhìn lại mà thay đổi chính mình để tạo ra cái duyên mới trong tương lai tốt đẹp hơn.

    Cuộc sống luôn có những điều hợp với ý ta nhưng lại trái với sở thích người khác, hoặc thỏa mãn nhu cầu người khác nhưng lại ngược với lòng ta. Ngay cả chính bản thân ta cũng có lúc “sáng nắng chiều mưa” mà ta còn không hiểu nổi. Có những cái trước kia ta ghét cay ghét đắng nhưng bây giờ lại thích. Có những thứ trước kia ta hết sức say mê nhưng bây giờ lại chán ngán không muốn nhìn tới. Có những vấn đề trước kia ta vốn xem thường nhưng bây giờ lại cảm thấy rất hệ trọng. Giả sử mọi mong muốn của ta đều thành tựu hết thì thử hỏi ta sẽ trở thành cái gì và cuộc đời này sẽ ra sao? Vậy mà ta cứ cố gắng đòi hỏi cho bằng được mà ít khi nào chịu suy xét cặn kẽ những mong muốn của mình có thật sự hợp lý không, tức là nó có cần thiết và phù hợp với khả năng của ta hay hoàn cảnh hiện tại của ta không, và nó có ảnh hưởng hay liên quan đến người khác không. Vì vậy hầu hết những nỗi khổ mà ta thường kêu ca, thật ra, chỉ vì nó bất như ý với ta mà thôi. Rõ ràng cái khổ của ta không hẳn là cái khổ của kẻ khác. Cho nên thay vì than van “khổ quá” thì ta hãy nên nói “nó không như ý tôi” mới đúng. Cách gọi này sẽ đánh động vào ý thức để giúp ta nhìn lại thói quen phản ứng của mình thay vì rượt đuổi theo đối tượng khác. Từ đó ta sẽ hiểu quan niệm “đời là bể khổ” chỉ là do cách nghĩ, hay chỉ là định kiến.

    Khổ đau mầu nhiệm

    Ta đừng bao giờ quên rằng ta không phải là một cá thể tồn tại biệt lập, mà ta phải luôn chịu sự tương tác của bao nguồn lực chung quanh, từ bạn bè, gia đình đến xã hội và cả thế giới bao la nữa. Dù ta có tài năng đến đâu, dù ta có chuẩn bị kỹ lưỡng đến mức nào, thì những điều bất như ý vẫn cứ xảy ra theo lẽ tự nhiên của nó. Hễ có thành thì phải có bại, có hợp thì phải có tan. Tại sao ta chỉ muốn thành và hợp, còn bại và tan để cho ai? Lúc may mắn sao ta không tự hỏi xem mình có thật xứng đáng với thành quả này và có nên đón nhận nó hay không, mà khi gặp xui rủi thì ta lại khóc than ầm ĩ, đòi hỏi công bằng. Ta đã hưởng quá nhiều tặng phẩm của vũ trụ rồi thì lâu lâu bị vũ trụ lấy lại chia cho kẻ khác, thiết tưởng đó cũng là lẽ đương nhiên chứ đâu có gì là thua thiệt.

    Đối với những mất mát quá lớn tất nhiên ta phải cần có thời gian mới chấp nhận và cân bằng được. Nhưng có những điều quá đỗi bình thường, nếu không nói là tầm thường, mà ta cũng than khổ thì đó là lỗi của ta. Trời mưa cũng khổ, kẹt xe cũng khổ, bị lỗi hẹn cũng khổ, thức ăn không vừa miệng cũng khổ, chiều cao không như ý cũng khổ, mau già cũng khổ, không ai hỏi thăm cũng khổ, được nhiều người thương cũng khổ… Tất cả chỉ do lòng tham của ta quá lớn mà nội lực của ta lại quá yếu kém nên nó đã dìm ta xuống khổ đau đó thôi. Ta đừng đổ thừa hoàn cảnh. Không ai có thể làm cho ta khổ được nếu ta có một hiểu biết đúng đắn và một khả năng chấp nhận đủ lớn. Để có khả năng chấp nhận rộng lớn đó ta cần phải biết “thu gọn” những mong cầu không cần thiết của mình. Ngay cả với những điều chính đáng, nếu không có nó mà ta vẫn sống vững vàng và hạnh phúc được thì ta cũng nên cố gắng khước từ để tâm ta bớt lệ thuộc vào hoàn cảnh, để khi hoàn cảnh biến động thì ta vẫn bất động.

    Ngoài ra ta cũng nên luyện tập cho mình cách đối mặtvới khó khăn, hoặc tự tạo cho mình một cách nghĩ, một cách sống đừng quá cầu mong sự an toàn, để sức chịu đựng trong ta mau chóng lớn mạnh. Một đứa trẻ lớn lên trong môi trường bảo bọc quá đầy đủ, muốn gì được nấy, nên khi bước vào đời không có chút vốn liếng kinh nghiệm nào để chống chọi với những khó khăn, nghịch cảnh, chỉ cần một tác động nhỏ xíu như bị chê bai là nó đã chao đảo và muốn bỏ cuộc ngay. Cũng như những loại cây mọc trên đất tơi xốp trông xanh tươi mơn mởn nhưng chỉ cần một cơn gió lớn đi ngang qua đã gãy đổ; còn những loại cây mọc trên đá núi tuy dáng dấp khẳng khiu nhưng độ bám rất vững vàng, không gió bão nào xô ngã nổi. Cho nên ta không thể cầu nguyện cho cuộc đời đừng xô đẩy mình vào những hoàn cảnh nghiệt ngã, nhưng ta có thể làm cho mình không bị ngã trước những sóng gió cuộc đời bằng một trái tim vững chãi.

    Để có được trái tim vững chãi, ta phải bớt chạy theo những cái mình vốn ưa thích và cố gắng chấp nhận những thứ mình vốn không ưa thích. Thích hay không thích đều là sự thể hiện của cảm xúc phục vụ cái tôi trong nhất thời, chỉ cần điều chỉnh lại nhận thức thì cái cảm xúc ấy sẽ tan rã ngay. Ta đừng vội kêu ca sống mà không hưởng thụ thì sống để làm gì? Có ai cấm ta hưởng thụ đâu. Nhưng cái gì cũng có cái giá của nó cả, ta cứ dung dưỡng cho cái tôi yếu đuối đi rồi đừng hỏi tại sao mình cứ khổ hoài. Lẽ dĩ nhiên, một người đã có trái tim vững chãi thì bao nhiêu danh lợi cũng không là vấn đề, họ có đủ bản lĩnh để vượt lên danh lợi hay sử dụng danh lợi một cách hữu ích cho đời. Song, thực tế số người có ý niệm muốn buông bỏ thói quen hưởng thụ rất hiếm, còn số người làm được lại càng hiếm hơn. Nhất là xã hội ngày nay, người ta dám đạp đổ cả thành trì đạo đức để tranh giành quyền lợi, bất chấp hậu quả xảy ra cho chính mình,con cháu mình hay người khác. Vì vậy mà con người sống ngày càng khổ hơn. Cũng vì lẽ đó mà khổ đau đã vô tình trở thành bản trường ca bất tận, và không ai mà không một lần hòa giọng ngâm nga nó.

    Đúng, khổ đau là một thực tại không ai chối cãi, nhưng tính chất của nó vốn không cố định. Khổ đau không phải là bản chất mặc định của cuộc đời này. Thật ra không có gì là khổ đau cả, chỉ là guồng máy tâm thức trong ta vận hành sai lệch nên nó đã tạo ra những phản ứng chống đối lại những hoàn cảnh mà nó cho là trái nghịch. Rất may guồng máy tâm thức ấy là một hợp thể linh động nên có thể điều chỉnh được. Bắt đầu từ nhận thức đúng đắn trở lại về những gì liên quan đến mình luôn tương quan với vạn vật để nó không tiếp tục tạo ra những phản ứng ích kỷ. Đồng thời, nó cần có một khả năng quan sát và phân tích thật tinh tường về những thói quen mà ta đã tạo dựng trong quá khứ đến nay. Tiến trình tháo gỡ những tâm lý tiêu cực ấy chính là tiến trình vượt thoát khổ đau. Càng bớt tự ái tổn thương là càng bớt khổ đau. Hết nghĩ cho cái tôi là hết khổ đau.

    Suy cho cùng, ta cần phải biết ơn khổ đau. Bởi khổ đau vừa giúp ta ý thức được cái gì là hạnh phúc, vừa giúp khả năng chịu đựng trong ta lớn mạnh để ta có thể phát tiết hết bản năng sinh tồn tiềm ẩn của mình, cũng như hoa đào phải nhờ cái rét mùa đông mới tung cánh tỏa ngát hương khi nắng xuân về. Nếu không bị lạc đường ta sẽ khó biết mình sợ hãi, nếu không bị xúc phạm ta sẽ khó biết mình nóng giận, nếu không bị dối gạt ta sẽ khó biết mình dễ tổn thương, nếu không bị bỏ rơi ta sẽ khó biết mình yếu đuối. Thông qua bản năng sinh tồn mà ta thấy rõ từng ngõ ngách sâu kín của phiền não tạo nên khổ đau. Từ đó, ta biết cách điều chỉnh lại tâm thức và nếp sống của mình sao cho hài hòa với vũ trụ, để sự hiểu biết và tình thương trong ta bừng nở, để ta có thể nắm tay nhau đi giữa thăng trầm của cuộc đời này một cách thong dong tự tại.

    Vậy nên, tâm ta như thế nào ta sẽ cảm nhận khổ đau như thế ấy, vì khổ đau vốn từ tâm sinh ra cũng mà từ tâm diệt đi.

    Nếu không có khổ đau
    Biết đâu là hạnh phúc
    Nhờ mộng mị hôm nào
    Ta tìm về tỉnh thức.

    Trích "Hiuể về trái tim"

    Tạp bút

  • Tình Thương
    chequangtho

    Có bao giờ ta tự hỏi vì sao ta lại thương người ấy? Vì họ dễ thương ư? Ồ, như vậy là ta chỉ đến để hưởng cái dễ thương ấy chứ ta đâu có thương. Cái đó ai làm cũng được, người nào cũng có thể “thương” một người dễ thương mà. Người dễ thương tức là người rất ngọt ngào, rất nhẹ nhàng, và đặc biệt lúc nào cũng quý mến hay nhún nhường trước ta. Nếu họ dễ thương với người khác mà không dễ thương với ta thì chưa chắc ta thấy họ dễ thương và ta thương. Trong những mối quan hệ ruột rà cũng vậy, có phải vì “trách nhiệm phải thương” bởi họ có dính líu với cuộc đời ta, hay ta thật sự thương họ vì họ cần đến tình thương của ta? Không ít người cảm thấy mình chịu tổn thất quyền lợi quá nhiều cho người thân nên họ đã “đóng cửa trái tim”, không thể thương nữa. Thân chỉ trở thành thương khi cái thân ấy ít nhiều còn có thể mang tới cho ta quyền lợi, dù chỉ là thái độ nể trọng hay được tiếng là người tốt.

    Ai thương ta thì ta mới thương lại. Nghe có vẻ đổi chác sòng phẳng quá, nhưng đó là sự thật. Đúng là rất khó có thể thương một người mà họ không hề thương ta, thậm chí còn thù ghét ta hay làm khổ ta nữa. Thà họ thương ta ít hơn thì cũng còn chấp nhận được. Trừ phi đó là tấm lòng của cha mẹ hay các bậc tu hành đạt tới từ bi thì mới có thể thương yêu mà không đòi hỏi điều kiện. Ta như thế nào họ cũng thương. Nhưng ta đã từng chứng kiến có nhiều bậc cha mẹ cam tâm dứt bỏ con mình chỉ vì nó bị tật nguyền, hư hỏng; hoặc có những vị nổi tiếng làm công tác từ thiện nhưng lại dễ dàng làm ngơ trước đứa trẻ bụi đời chìa tay xin ở nơi không ai hay biết. Cho nên thương yêu tuy là thiên tính của con người, song ta phải luyện tập rất nhiều để chuyển hóa sự ích kỷ hẹp hòi thì tình thương mới chân thật được.

    Tình thương chân thật trước tiên phải là thái độ muốn hiến tặng. Ta đừng nhầm lẫn với thái độ lăng xăng cố làm vừa lòng người ấy bằng đủ cách mà thực chất chỉ vì muốn “lấy thêm điểm”. Sự hiến tặng chân thật phải xuất phát từ tấm lòng muốn cho bên kia được an vui và hạnh phúc hơn. Vì vậy mỗi vật phẩm ta đem tới phải hoàn toàn vì quyền lợi của họ chứ không được “ké” quyền lợi của ta vào, dù chỉ cần họ thấy được tấm lòng của ta. Mà muốn người kia thấy được tấm lòng của ta đối với họ cũng không ngoài mục đích khiến họ thương thêm hoặc đánh giá cao về ta đó thôi. Dù biết rằng trái tim ta chưa quảng đại để có thể thương người kia mà không cần được thương lại, nhưng cũng đừng vì thế mà ta cứ phải kèm theo điều kiện trong mỗi lần hiến tặng. Vì đó không còn là tình thương nữa.

    Mà suy cho cùng thương người khác đã là một sự hưởng thụ rồi. Chẳng phải trên đời này có biết bao người muốn thương nhưng không có người để thương đó sao. Người thì thiếu gì, nhưng người để thương ắt phải dính dấp gì đó đến ta, chứ đâu thể tự nhiên muốn thương ai là thương được đâu. Nói đúng hơn, đối tượng ấy phải từng có cảm tình hay ân nghĩa với ta, hoặc ít ra họ phải chấp nhận và thấy vui sướng khi biết ta thương họ thì ta mới thương được. Cho nên có người để thương là hạnh phúc lắm rồi, đâu cần đòi hỏi họ phải làm gì thêm cho ta nữa. Coi chừng ngày nào đó mọi người bỏ ta chạy hết, ta chẳng còn ai để thương thì khốn khổ. Sống mà không thể thương yêu thì đó là một tai nạn. Vậy nên ta hãy thương sao để đối tượng thật sự được thừa hưởng, mà ta vẫn không trở thành kẻ khổ lụy vì thương. Và dù thế nào, ta cũng cố gắng đừng làm lu mờ nghĩa đẹp của tình thương.

    Tình thương là chia sớt

    Nếu như hiến tặng là đem tới niềm vui thì chia sớt là lấy đi nỗi khổ. Ai cũng có lúc gặp khó khăn hay vướng vào nỗi khổ, nhưng họ sẽ không cảm thấy buồn tủi mà còn có thêm nghị lực để vượt qua nếu có người thương luôn ở bên cạnh chia sớt. Dù ta không đủ sức kéo họ ra khỏi vũng lầy khổ đau, nhưng ít ra sự có mặt kịp thời của ta cũng đủ làm cho niềm đau kia vơi đi nhiều rồi. Bởi họ cảm nhận được lòng chân thành của ta. Họ biết ta thật sự thương cuộc đời của họ, muốn gánh vác phần nào trách nhiệm cho cuộc đời họ và muốn đồng hành với họ đi về tương lai. Một nỗi đau khi được chứa đựng bởi hai trái tim thì nó không đủ sức làm thành nỗi đau nữa. Đó là lý do mà ta luôn cần có nhau trong cuộc đời này.

    Thử nghĩ, sống với một người lúc nào cũng nói thương ta, nhưng khi ta gặp khó khăn thì họ tỏ ra chẳng hề hay biết. Đến nỗi ta đã trực tiếp báo cho họ biết và chỉ xin họ ngồi xuống lắng nghe để thấu hiểu thôi, mà họ cũng có đủ thứ lý do để thoái thác. Họ nghĩ họ đã quá cực khổ để đem tiền bạc và danh dự về cho ta rồi, nên họ không còn đủ sức để nhận thêm những phiền toái nữa. Ta hãy tự giải quyết lấy. Đáng lẽ khó khăn kia chỉ là khó khăn thôi, nhưng chính thái độ hờ hững vô tâm của họ đã khiến cho khó khăn ấy biến thành nỗi khổ. Ta biết chứ. Ta biết họ đang rất bận rộn và không có nhiều năng lượng để giúp ta giải quyết vấn đề, nhưng ta chỉ cần thái độ biết chia sẻ của họ thôi. Dù chỉ là một lời hỏi han cũng đủ làm ta cảm thấy ấm áp. Bởi thái độ ấy báo cho ta biết đó là người đang cùng chịu nỗi đau với ta.

    Có hiểu mới có thương, không hiểu mà thương thì tình thương ấy sẽ rất hời hợt. Mà muốn hiểu nhau thì cần phải lắng nghe nhau, phải biết bên kia muốn gì hay không muốn gì để ta ứng xử cho hợp lý. Dù có những yêu cầu không thật sự chính đáng, nhưng ta cũng cần biết để hiểu họ đang vướng kẹt vào tâm lý nào mà kịp thời tháo gỡ. Nếu ta cứ nhân danh tình thương rồi làm theo kiểu của mình thì rốt cuộc không giúp được lại còn làm cho nỗi khổ lớn thêm. Dĩ nhiên thiện chí là cần thiết. Bởi ta phải kiên nhẫn mới lắng nghe nổi, đôi khi phải năn nỉ người kia nói ra hết những “niềm đau chôn giấu”, phải đón nhận những năng lượng nặng nề từ những lời kể lể, khóc than hay đầy sân hận của họ mà không cảm thấy bị tổn thương. Nên thiện chí phải là thái độ biết nghĩ cho người kia hơn là nghĩ cho mình (thương), mà cũng phải biết cách nghĩ sao cho đúng đắn (hiểu) thì mới giúp được.

    Vậy nếu đã thật sự thương nhau thì ta phải luôn biết và hiểu được những gì đang xảy ra cho nhau mà không cần phải đợi loan báo. Lòng phải hiểu được lòng mới là tình thương chân thật. Chỉ cần thỉnh thoảng ta quan tâm tình trạng sức khỏe của họ, sẵn sàng xắn tay áo phụ họ rửa dọn bếp núc, giúp họ sửa lại cái thắng xe, không nỡ nhờ vả khi thấy họ đang bận bịu, ngồi yên bên cạnh khi họ hoang mang,… cũng đủ làm người kia cảm nhận được sự chân thành của ta rồi. Nhưng để có đủ năng lực làm tất cả những điều đó, thì ta phải ý thức rằng, chia sớt và hiến tặng là hai chất liệu không thể thiếu trong bất cứ tình thương nào, không có nó thì không có gì để gọi là tình thương cả. Bởi hạnh phúc của người ta thương cũng chính là hạnh phúc của ta. Nếu ta không giúp người thương của ta thì ai sẽ giúp bây giờ?

    Tình thương yêu rộng lớn
    Luôn đem tới niềm vui
    Cùng sớt chia nỗi khổ
    Dìu nhau về thảnh thơi.

    Trích "hiểu về trái tim"

    Tạp bút
  • 1 / 1

Xin nhẹ bước nơi sân ga — tàu ký ức đang đỗ.

10.542 chuyến · 36.638 lời nhắn · 29.501 hành khách

Đà Lạt Hoa · Sân ga ký ức · 2006 · NodeBB

Powered by NodeBB Contributors
  • Bài viết đầu tiên
    Bài viết cuối cùng