Bỏ qua nội dung
📖 Trang viết

Giới thiệu về người Mạ - phong tục tập quán

  • adminA

    **Tiếp theo chủ đề về người K'ho , hôm nay Tuấn xin giới thiệu về người Mạ

    Người Mạ** (có tên gọi khác Châu Mạ, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung, Mạ Ngắn) là dân tộc thiểu số với số dân năm 1999 khoảng 33.338 người[1], cư trú chủ yếu ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đồng Nai (Việt Nam). Tiếng dân tộc Mạ thuộc ngữ chi Ba Na của ngữ tộc Môn-Khmer

    Kinh tế

    Người Mạ làm nương rẫy trồng lúa và cây khác như ngô, bầu, bí, thuốc lá, bông... Công cụ sản xuất thô sơ, có các loại xà-gạt, xà-bách, dao, rìu, gậy chọc lỗ. Trong tỉnh Lâm Đồng (huyện Cát Tiên), người Mạ có làm ruộng nước bằng kỹ thuật lùa cả đàn trâu xuống ruộng để trâu giẫm đất đến khi sục bùn thì gieo lúa giống (xạ lúa). Người Mạ nuôi trâu, bò, gà, vịt, ngan... theo cách thả trâu, bò vào rừng sống thành đàn, chỉ khi cần giết thịt hoặc giẫm ruộng mới tìm bắt về. Phụ nữ Mạ nổi tiếng về nghề dệt vải truyền thống với những hoa văn tinh vi hình hoa lá, chim thú với nhiều màu sắc. Nghề rèn sắt nổi tiếng ở nhiều làng. Họ tự luyện quặng lấy sắt để rèn các công cụ sản xuất và vũ khí như xà gạt lưỡi cong, lao... Ở vùng ven Đồng Nai, người Mạ làm thuyền độc mộc để đi lại, vận chuyển và đánh cá trên sông.
    ** Tổ chức cộng đồng**

    Người Mạ sống thành từng bon (làng), mỗi bon có từ 5 đến 10 nhà sàn dài (nhà dài là nơi ở của các thế hệ có chung huyết thống). Đứng đầu bon là quăng bon (già trưởng làng).
    ** Hôn nhân gia đình**

    Nhà trai chủ động trong hôn nhân, nhưng sau lễ cưới chú rể phải sang ở nhà vợ, đến khi nộp đủ đồ sính lễ cho nhà gái mới được đưa vợ về ở hẳn nhà mình.
    ** Văn hóa**

    Kho tàng văn học dân gian Mạ gồm nhiều truyện cổ, truyền thuyết, huyền thoại độc đáo. Nhạc cụ có bộ chiêng, đồng, trống, khèn bầu, khèn sừng trâu, đàn lồ ô, sáo trúc 3 lỗ gắn vào trái bầu khô.
    ** Nhà cửa**

    Nhà người Mạ không chỉ có những đặc trưng đáng chú ý mà còn có thể "đại diện" cho nhà của người Cờ Ho, Chil trên cao nguyên Lâm Đồng. Mạ là cư dân lâu đời trên mảnh đất này. Hiện nay nhà người Mạ đã có rất nhiều thay đổi. Nhà sàn chỉ còn ở những vùng cao, vùng thấp nhà đất đã chiếm ưu thế. Nhà ở cổ truyền của người Mạ là nhà sàn dài tới 20-30 m (nay đã hiếm). Nay vẫn là nhà sàn nhưng là nhà ngắn của các gia đình nhỏ.
    Bộ khung nhà với ba vì hai hoặc bốn cột. Kết cấu đơn giản thường là ngoãm tự nhiên và buột lạt. Mái hồi khum tròn nhưng không có "sừng" trang trí. Hai mái chính cũng hơi khum nên mặt cắt của nóc có hình "parabôn". Mái nhà rất thấp nên phần mái bên trên cửa, người ta phải làm vồng lên để ra vào khỏi đụng đầu.
    Tổ chức mặt bằng sinh hoạt cũng có những đặc điểm đáng chú ý: khu vực giữa nhà là nơi sinh hoạt chung của mọi gia đình (tiếp khách, cúng bái...), nơi này có bàn thờ thần bếp và có một cái cột để buộc ché rượu cần khi tiếp khách. Còn dưới chân vách hậu là một dãy dài những ú, ché đựng rượu cần... Các hộ gia đình ở về hai bên của khu trung tâm.
    Phần diện tích và không gian trong nhà dành cho các gia đình cũng có những đặc điểm rất dễ nhận: giữa nhà là một kho thóc, mặt sàn kho các mặt sàn nhà khoảng trên 1 mét.
    Dưới gầm kho thóc đặt bếp. Trên bếp có dựa treo. Giáp vách haậu là sạp dành cho mọi thành viên trong gia đình. Giáp vách tiền là một sạp nhỏ và thấp (khoảng 70-80 cm) trên để bát, đĩa, vỏ bầu khô và các thứ lặt vặt khác.
    Nhà người Cờ Ho hoặc Chil về hình thức thì nhà của họ cũng giống nhà ngườ Mạ. Cái khác ở cách bố trí trong nhà là giáp vách tiền, cái sạp ở nhà người Mạ thì người Cơ ho còn kết hợp làm chuồng hà.
    ** Trang phục**

    Có cá tính riêng về tạo hình áo nữ, đặc biệt là phong cách thẩm mỹ. Mùa làm nông, nhiều người ở trần, mùa rét choàng tấm mền. Có tục cà răng, căng tai, đeo nhiều vòng trang sức.
    ** Trang phục nam**

    Thường để tóc dài búi sau gáy, ở trần, đóng khố. Khố cũng có nhiều loại khác nhau về kích thước và hoa văn trang trí. Loại khố trang trọng có đính hạt cườm, tua dài. Bên cạnh đó họ còn mặc áo chui đầu, xẻ tà, vạt sau dài hơn vạt trước che kín mông. Aáo có các loại : dài tay, ngắn tay và cộc tay. Thủ lĩnh búi tóc cắm lông chim có bộ khiên giáo kèm theo.
    Trang phục nữ

    Phụ nữ để tóc dài búi sau gáy. Xưa họ ở trần mặc váy, có bộ phận mặc áo chui đầu. Aáo nữ mặc vừa sát thân, dài tới thắt lưng, không xẻ tà, vạt trước và sau áo bằng nhau; cổ áo tròn thấp. Tổng thể áo chỉ là hình chữ nhật màu trắng. Nửa thân dưới áo trước và sau lưng được trang trí hoa văn các màu đỏ, xanh là chính trong bố cục dải băng ngang thân với các mô típ hoa văn hình học là chủ yếu. Chiều dọc hai bên mép áo được dệt viền các sọc trang trí. Váy là loại váy hở được dệt trang trí hoa văn với những phong cách bố cục đa dạng. Về cơ bản là các sọc : màu xanh, đỏ, vàng, trắng trên nền chàm chủ yếu là hoa văn hình học theo nguyên tắc bố cục dải băng ngang truyền thống. Có trường hợp nửa trên váy dệt trang trí hoa văn kín trên nền sáng (trắng) với hoa văn hình học màu đỏ xanh.
    Nam nữ thường thích mang vòng đồng hồ ở cổ tay có những ngấn khắc chìm - ký hiệu các lễ hiến sinh tế thần cầu mát cho chủ nhân nó. Nam nữ đều đeo hoa tai cỡ lớn bằng đồng, gà voi, gỗ; cổ đeo hạt cườm. Phụ nữ còn mang vòng chân đồng nhiều vòng xoắn.

  • adminA

    Đâm trâu - lễ hiến sinh lớn nhất của người Mạ

    Sau mùa thu hoạch, già làng mời các vị lớn tuổi trong làng họp để bàn về lễ đâm trâu. Mọi việc được thống nhất và khoảng một tháng sau thì già làng họp lần nữa và quyết định ngày tiến hành. Họ chuẩn bị trong vòng 7 ngày. Lễ hội thường diễn ra ở cánh đồng gần làng hoặc nơi rộng rãi và bằng phẳng. Họ dựng hai cây nêu bên trên có gắn biểu tượng hình bông lúa được buộc các tua xanh đỏ. Một con trâu đực được kết hoa ở trên đầu đóng cột vào cây nêu. Họ đốt đống lửa to, bên cạnh đàn ông đánh đồng la, đàn bà hát múa, các cụ già thổi kèn bầu, kèn môi… Họ đi vòng quanh theo con trâu.
    Sau đó già làng đại diện cho cả Bon cầm chà gạc chém bên chân trái con trâu, trâu đi thêm vài vòng nữa. Nam nữ thanh niên nhảy múa sôi động, cồng chiên đánh inh ỏi. Già làng lại chém tiếp chân bên phải. Lúc này con trâu chỉ còn lê được hai chân trước. Vài vòng sau họ chém nốt hai chân còn lại.
    Tiếp đến già làng dùng giáo đâm vào ức con trâu. Trâu chết họ bỏ lên đống lửa thui chín. Một nửa con trâu được xẻ ra từng miếng nhỏ chia đều cho từng thành viên trong các hộ gia đình ở làng, nửa còn lại xẻ ra ăn uống tại sân lễ. Họ uống rượu cần, ăn bánh nếp mà mỗi nhà mang tới cùng góp chung vui. Thường là sau 3 ngày thì lễ hội kết thúc nhưng các vị lớn tuổi trong làng ăn uống cho tới ngày thứ bảy mới thôi.
    Dân tộc Châu Mạ được gọi bằng nhiều tên khác nhau như: Chau Mạ, Chê Mạ, Mạ Ngan, Mạ Xôp, Mạ Tô, Mạ Xrê… Họ sống tập trung tại Tà Lài (huyện Tân Phú-Đồng Nai) …Nương rẫy đóng vai trò chủ yếu trong đời sống của người Mạ. Ðây là loại rẫy đa canh, ngoài trồng lúa còn trồng các loại cây khác như bắp, bầu, bí, thuốc lá, bông vải, ở vùng sông Ðồng Nai, người Mạ làm ruộng bằng kỹ thuật lùa cả đàn trâu xuống ruộng quần đất đến khi nhão bùn thì gieo lúa giống./.

  • adminA

    **LỄ CÚNG YANG KOI CỦA NGƯỜI MẠ

    Dân tộc Châu Mạ được gọi bằng nhiều tên khác nhau như: Chau Mạ, Chê Mạ, Mạ Ngan, Mạ Xôp, Mạ Tô, Mạ Xrê… Họ sống tập trung tại Tà Lài (huyện Tân Phú-Đồng Nai) …Người Mạ tin có thần (Yàng). Họ thờ cúng nhiều Yàng như Yàng Hiu (thần nhà), Yàng Koi (thần lúa), Yàng Bơnơm (thần núi). Họ thường giết súc vật tế thần vào những dịp được mùa, sinh đẻ, bệnh tật, chết chóc. Trong một năm, người Mạ có rất nhiều lễ cúng. Quan trọng nhất là lễ cúng Yang Bơnơm và Yang Koi với sự tham gia đông đảo của cộng đồng. Yang Bơnơm thường được tổ chức cúng vào tháng 02 đến tháng 03 âm lịch, sau khi thu hoạch xong mùa màng (tương tự như lễ cúng Sa Yang Va của người Chơ ro). Trước đây lễ cúng được tổ chức tại nhà dài, người cúng là người có uy tín trong cộng đồng thay mặt dân làng hành lễ, cầu xin phúc đến họa trừ cho mọi người.**

    Để tổ chức lễ cúng, đàn ông Mạ vào rừng chọn những cây tre cao, thẳng đem về khoảng sân để hành lễ. Họ lấy hai cây tre non cao từ 3m đến 4m chẻ ngọn thành các nhánh và được trang trí bằng những hình vuông với các chùm bông tỉa ra. Chính giữa cây tre cắm chùm gai mây tượng trưng cho bông lúa. Những hoa văn hình học trên các vật trang trí thể hiện qua các tay dan, các dây nối kết từ gốc đến ngọn thẳng lên trời cao. Cây tre được phân chia thành nhiều nấc với các hình vuông, tròn bao trùm và tỏa xuống phía dưới gốc có nhiều dây trang trí các hình tượng con dê bằng lạt tre rất sinh động. Hai cây tre này được chôn trước sân, ở mỗi bông xòe ra cài một chén cơm nhỏ. Dưới gốc cây tre là những chóe rượu cần được bày sẵn. Lễ vật tùy theo điều kiện kinh tế của buôn làng mà già làng đứng ra làm chủ tế. Ở từng hộ riêng, tùy khả năng mà gia chủ giết gà, vịt, heo, dê hoặc trâu để làm lễ cúng và gia chủ tự cúng, không mời Thầy Cúng hoặc Bà Bóng.
    Sau lễ cúng, mọi người cùng chung vui dự tiệc. Đêm xuống họ đốt lửa vui ca nhảy múa, thể hiện sức mạnh qua các trò chơi của thanh niên… Nhạc cụ hòa nhịp theo các bài hát, điệu nhảy múa. Theo truyền thống, việc vui chơi kéo dài đến 3 ngày đêm, có khi cả tuần. Nhưng ngày nay thường diễn ra trong một ngày đêm. Dẫu quy mô, nghi thức đã giản tiện hơn trước nhưng lễ cúng Yang Koi vẫn được tôn trọng trong đời sống tâm linh dân tộc Mạ.  
    Bên cạnh đó lễ hội đâm trâu được xem là lễ hiến sinh lớn nhất của người Mạ. Cứ 3 năm một lần làm lễ hiến sinh là con trâu đực béo tốt. Dù không còn diễn ra theo định kỳ nhưng có nơi đồng bào vẫn bảo lưu lễ thức này vào những dịp làng gặp may mắn, mùa màng bội thu.
    Sau mùa thu hoạch, già làng mời các vị lớn tuổi trong làng họp để bàn về lễ đâm trâu. Mọi việc được thống nhất và khoảng một tháng sau thì già làng họp lần nữa và quyết định ngày tiến hành. Họ chuẩn bị trong vòng 7 ngày. Lễ hội thường diễn ra ở cánh đồng gần làng hoặc nơi rộng rãi và bằng phẳng. Họ dựng hai cây nêu bên trên có gắn biểu tượng hình bông lúa được buộc các tua xanh đỏ. Một con trâu đực được kết hoa ở trên đầu đóng cột vào cây nêu. Họ đốt đống lửa to, bên cạnh đàn ông đánh đồng la, đàn bà hát múa, các cụ già thổi kèn bầu, kèn môi… 
    Họ đi vòng quanh theo con trâu. Sau đó già làng đại diện cho cả Bon cầm chà gạc chém bên chân trái con trâu, trâu đi thêm vài vòng nữa. Nam nữ thanh niên nhảy múa sôi động, cồng chiên đánh inh ỏi. Già làng lại chém tiếp chân bên phải. Lúc này con trâu chỉ còn lê được hai chân trước. Vài vòng sau họ chém nốt hai chân còn lại. Sau đó già làng dùng giáo đâm vào ức con trâu. Trâu chết họ bỏ lên đống lửa thui chín. Một nửa con trâu được xẻ ra từng miếng nhỏ chia đều cho từng thành viên trong các hộ gia đình ở làng, nửa còn lại xẻ ra ăn uống tại sân lễ. Họ uống rượu cần, ăn bánh nếp mà mỗi nhà mang tới cùng góp chung vui. Thường là sau 3 ngày thì lễ hội kết thúc nhưng các vị lớn tuổi trong làng ăn uống cho tới ngày thứ bảy mới thôi.
    
  • adminA

    Lễ Nhô Gùng Mìr của người Mạ ở Lâm Đồng
    Địa vực cư trú truyền thống của người Mạ ở Lâm Đồng nói chung, người Mạ ở Lộc Bắc, Lộc Bảo huyện Bảo Lâm nói riêng mở về ba phía: rừng thiêng, rẫy và nguồn nước. Trên những lối mòn dẫn đến những nơi ấy luôn đầy ắp những huyền thoại thể hiện mối giao cảm giữa con người với con người, con người với tự nhiên hiện hữu qua lễ nghi trong một mùa vụ canh tác hay những biến cố xảy ra trong cộng đồng. Đường vào rừng thiêng (gùng krong), ra rẫy (gùng mìr), đến nơi lấy nước (gùng dạ) là lối người Mạ đi, về vật lộn với tự nhiên vốn giàu lòng ban phát nhưng cũng đầy hiểm họa, trắc ẩn để phục vụ nhu cầu của sự sinh tồn. Và, ở một môi trường văn hóa mà mọi vật đều có linh thần - cái hữu linh huyền bí chế ngự tư duy con người, thì gùng krong, gùng dạ hay gùng mìr cũng đồng thời là chốn lui tới của các Yàng, là nơi con người phải cúng tế phụng sự cho tín ngưỡng đa thần truyền thống với tâm nguyện cầu an cho gia đình, tộc họ hay lớn hơn là cộng đồng.
    Việc cúng tế thần linh ở gùng krong và gùng dạ thường gắn với các nghi lễ vòng đời hay những nghi lễ bắt buộc do vị phạm luật tục (nhất là hôn tục). Trong khi đó, dù có liên quan nhất định và mật thiết đến thành tố văn hóa khác của cộng đồng nhưng gùng mìr lại thường được tổ chức gắn với hay đúng hơn là trong thời gian biểu của các lễ nghi nông nghiệp. Người Mạ ở Lộc Bắc, Lộc Bảo huyện Bảo Lâm có thể tổ chức cúng tế và giết vật hiến sinh ở gùng mìr (như là một tiểu lễ) khi làm lễ Nhô năng bri (lễ thức đầu tiên trong một vụ canh tác rẫy); hoặc làm lễ Nhô gùng mìr riêng biệt nếu có điều kiện về vật hiến tế. Tên gọi của lễ hội này gắn liền với không gian chính diễn ra nghi thức lễ và các hoạt động hội-gùng mìr tiếng Mạ nghĩa là đường vào rẫy (thực chất chỉ ngã ba đường từ buôn vào rẫy).
    Đầu mùa mưa, vào khoảng tháng 3 - tháng 4 (Dương lịch hàng năm), sau khi rẫy đã được phát, đốt, dọn sạch, nghi lễ Nhô Gùng mìr được tổ chức nhằm gửi gắm nguyện vọng của người Mạ đến các đấng thần linh mong cho mưa thuận gió hòa, công việc chọc lỗ tra hạt diễn ra thuận tiện.
    Nhô Gùng mìr được một tộc họ tổ chức. Ngày tiến hành lễ cúng được các già làng (kuăng *bon), chủ rừng (chau bri hay chau kuăng bri), trưởng tộc (pônào hoặc pônàu), chủ gia đình (pơ hìu – tương ứng một nhà dài) họp bàn và quyết định. Vật hiến sinh và các vật lễ khác dựa vào sự tự nguyện đóng góp của các gia đình trong buôn hoặc được phân công chuẩn bị (có tính bắt buộc). Thời gian chuẩn bị lễ được đánh dấu bằng một lễ cúng nhỏ. Già làng, trưởng tộc, chủ nhà và chủ rừng thông báo với thần linh ngày tổ chức lễ cúng chính và các con vật hiến tế. Thời gian chuẩn bị kéo dài trong nhiều ngày và các công việc chuẩn bị được già làng phân công cụ thể đến từng thành viên trong gia tộc: đàn ông, trai tráng lên rừng chọn cây làm nêu, chặt đọt mây, săn thú, bắt cá, … phụ nữ và trẻ nhỏ giúp gia đình hái rau, dọn dẹp nhà cửa, làm rượu cần, phát quang đường từ buôn làng vào rẫy,… Những người có vai vế trong tộc họ, người đứng đầu buôn đi mời khách ở các buôn làng lân cư hoặc thân nhân ở xa.
    Đến ngày đã hẹn với thần linh, mọi người trong gia tộc cùng tề tựu về nhà già làng, trưởng tộc.
    Lễ thức đầu tiên được tiến hành bên ngoài ngôi nhà sàn truyền thống. Bên cây nêu nhỏ được làm đối diện với cửa khách ngôi nhà, lễ vật dùng để gọi thần linh gồm: dê (be), gà (iar - đọc là ia
    -r), *vịt (đà), một vài choé rượu cần (tơrnơm). Chủ lễ (thường là trưởng tộc hoặc chủ nhà) cùng những người tham dự cúng (chủ các gia đình thành viên - tiểu gia đình) cắm cần rượu vào choé, miệng gọi mời thần linh, thông báo cho thần linh biết: đã đến ngày hẹn, vật hiến tế (đã hứa) sẵn có, rượu ngon đã đến ngày *uống, *mời Yàng về dự lễ, nhận các con vật hiến tế, uống nước rượu đầu tiên. Chủ lễ tay cầm lục lạc, miệng đọc mời 8 Yàng cha và 12 Yàng con, mỗi Yàng được đánh dấu bằng một lần nhúng chuỗi lục lạc vào trong choé rượu và các số đến từ 1 đến 12. Sau ba lần gọi Yàng cha và Yàng con, chủ lễ tay cầm cần rượu (lấy ngón tay bịt cần) lấy nước rượu đầu tiên vẩy lên cây nêu. Mỗi lần mời rượu cho Yàng kèm theo những nguyện vọng của dân buôn về sự an lành trong cuộc sống, về mong muốn một vụ gieo trồng mới diễn ra thuận tiện, con người, công việc của con người luôn nhận được sự chở che của các đáng thần linh.
    Sau nghi thức gọi Yàng, họ dùng cơm nếp bôi lên cây nêu, choé rượu cúng; nhổ một nhúm lông các con vật hiến sinh đốt chung với trầm (khói bay lên để Yàng về nhận lễ); các con vật hiến tế lần lượt được giết: trước nhất là dê, sau đến các con vật nhỏ: gà, vịt. Khi vật hiến tế đã cắt cổ, chủ lễ bôi máu vật hiến tế và rắc gạo giã chung với bột nghệ (người Mạ quan niệm, đây là thức ăn ưa thích của Yàng) lên cây nêu, choé rượu, lên trán những người dự lễ.
    Máu vật hiến tế ngay sau đó được mang vào nhà bôi lên sờnào (hoặc jờnàu, tạm hiểu như bàn thờ tổ tiên trong nhà của người Kinh), bôi lên chiêng choé qúy, bôi lên các bó cây nghi lễ dắt trên mái nhà, mái vách cửa khách (đối diện với sờnào), hàm các con vật đã hiến tế hay săn bắt được trên mái,… Thao tác bôi máu lên không gian thiêng, vật thiêng trong nhà luôn gắn liền với các câu thần chú gọi Yàng, những lời khẩn khoản của gia đình, gia tộc… Nếu chuẩn bị được nhiều rượu, trong lần gọi Yàng trong nhà có thể khui một choé, dùng nước rượu đầu tưới lên các bó cây nghi lễ, chiêng choé thiêng, lên mái cửa ra vào,… sau khi đã bôi máu các con vật hiến tế lên những thứ đó.
    Chân, lông, đuôi, một đoạn ruột của các con vật hiến sinh được sâu thành chuỗi treo trên cây nêu.
    Cồng chiêng bắt đầu được phép diễn tấu trong nhà dài. Bài bản/điệu thức được người Mạ Lộc Bắc quy định chặt chẽ: sau nghi thức gọi Yàng, cồng chiêng phải diễn tấu theo thứ tự các bài bản sau: Rùng Yàng tít, Rùng Yàng Kuăng, Jùn jai rơhàng. Quan niệm của người Mạ tại địa phương cho rằng: chiêng trống (sau nghi thức gọi thần linh) có tác dụng thay lời mời thiết tha của con người, thần linh nghe tiếng chiêng / bài chiêng sẽ mau chân đến; những bài bản chiêng nếu tấu sai, không theo thứ tự thần linh sẽ không đến hoặc quở phạt con người.
    Tiếp đến, chủ nhà lầm lượt mời rượu những người dự cúng lần lượt theo vai vế, mời tất cả những người khách của gia tộc nếm nước rượu may mắn mà Yàng ban cho.
    Một bữa cơm với những món ăn truyền thống: cháo ruột non dê (đía be), đọt mây (gol), rau rịa (biếp nse), … dọn ra ở chân nêu thiết đã những người tham dự lễ cúng ( sa ti - ăn bằng tay, cách ăn truyền thống).
    Lần gọi Yàng thứ hai diễn ra khi các con vật hiến sinh đã nướng qua lửa than (nướng để thực hiện nghi lễ, không phải nướng chín để ăn). Việc gọi thần linh cũng diễn ra tại cây nêu và trước không gian thiêng trong nhà. Lời cúng trong lần gọi Yàng này tương tự như lần cúng trước nhưng thay vì bôi máu vật hiến sinh, một tiểu tiết bắt buộc để Yàng nhận lễ là bôi gan của vật hiến sinh lên những chỗ đã bôi máu. Một miếng thịt nhỏ dê, gà (nguyên con), vịt (một nửa, bên có đầu) được để trên gâng tơrnơm (cột rượu cần nghi lễ cắm ở chính diện không gian thiêng trong nhà).
    Chiêng trống lại nổi lên không ngớt nhưng ngoài những bài bản dành cho thần linh, họ được thỏa sức tấu những bài nhạc mà mình yêu thích: Nao tình ngăn, Cing Mạ Tô, Yo đàn dạ, … Người đói ra bếp tìm cơm, người khát đến bên choé rượu cần. Dù là ban ngày, lửa các bếp trong nhà vẫn phải đỏ, cuộc vui trải theo bước chân đầy ngẫu hứng của những bài chiêng kéo dài vào đêm. Dù có thể không được mời nhưng ai nghe tiếng chiêng cũng có quyền đến vui hội. Người chủ vui vẻ tiếp đón, người khách bất chợt cao hứng gia nhập vào những tay chiêng; những người “lạc tay”, không thuộc làn điệu tự nguyện nhường chỗ cho thành viên mới.
    Chiều hôm đó, chủ nhà dùng cơm nếp bôi lên không gian thiêng trong nhà xin phép thần linh cho phép dựng nêu ở sân lễ chính (ngã ba đường từ buôn vào rẫy). Mọi người trong gia tộc cùng nhau ra sân lễ. Họ cùng nhau dựng cây nêu chính Nđăl cao vút với nhiều tua ngù và họa tiết được cất công trang trí trong nhiều ngày; cây nêu cột trâu kơnơng rpu (thấp hơn) có bốn nhánh cong vút tỏa về bốn phía. Trên những nhánh nêu, chỗ của thần linh đã có và vị thần thường xuyên được nhắc đến (chứ không phải là thần tối thượng như những tôn giáo có địa vị độc tôn) là N’Đu có một ngôi nhà riêng (hìu N’Đu) sát cạnh cây nêu chính (bên trong rào cúng). Rào cột trâu là công đoạn cuối cùng được hoàn thành (rào cột trâu có tác dụng ngăn con trâu hiến tế di chuyển về một phía trên sân lễ). Khi nêu đã vươn lên giữa không gian, chủ lễ dùng cơm nếp bôi lên các cây nêu, miệng đọc lời khấn xin các Yàng cùng tề tựu về sân lễ - trên cây nêu - chờ ăn trâu, heo, gà, vịt vào sáng sớm ngày mai. Chủ lễ khấn xin thần đất nơi dựng nêu, mang một ít lông đuôi trâu về đốt chung với trầm báo với các Yàng ở phần không gian thiêng trong nhà.
    Không gian lễ từ thời điểm này tưng bừng quanh nêu. Mọi người cùng nhóm lửa, đánh cồng chiêng quanh nêu, dẫn trâu cột vào nêu. Buổi tối tại không gian lễ chính tưng bừng với rất nhiều điệu cồng chiêng. Trưởng tộc dùng một choé rượu lớn thết đãi cộng đồng. Bên choé rượu và ngọn lửa, người già cùng nhau hàn huyên tâm sự qua những điệu dân ca: tâmpớt mượt mà bằng những câu mời chào nhau uống rượu, hỏi han chuyện làm ăn, chuyện nhà; yalyau khoan nhặt kể lại chuyện xưa, tích cũ - chuyện về những hội lễ ăn trâu truyền thống, chuyện về những ngọn núi thiêng liêng trong vùng cư trú, về dòng tộc tổ tiên…; nrí nrìng bày tỏ nguyện vọng của cộng đồng về một cuộc sống tốt đẹp, quy củ trong buôn làng;…
    Cuộc vui chiêng trống, chuyện trò, hát - kể diễn ra suốt đêm hôm đó. Phụ nữ trẻ nhỏ, người già quây quần quanh bếp lửa, ai mệt thì có thể về nhà ngủ, ai còn hào hứng tiếp tục ở lại cùng với thanh niên, già làng, trưởng tộc đánh chiêng, hát hò… cho đến sáng.
    Sáng ăn trâu mở màn với một nghi thức từ rất sớm. Chủ lễ khấn tại sờnào xin thần linh cho phép ăn trâu. Những người thực hiện nghi lễ và những ai còn ở nhà cùng tập trung về dưới cây nêu ở không gian lễ chính. Chủ lễ miệng gọi thần linh, tay trao xà - gạc ăn trâu (loại xà - gạc chỉ dùng trong nghi lễ) vào tay một người đã được chọn từ trước. Người này tiến về phía con trâu, dùng xà - gạc chặt một chân sau của nó; chủ lễ nhận xà - gạc, chặt chân còn lại; người hạ trâu cầm lao, chọn thế đâm mũi lao ngang xườn vào tim con vật hiến tế. Khi trâu gục xuống, người ta dùng một ống lồ ô (đựng đầy rượu cần) đổ vào miệng trâu, dùng một chiêng cái để ngửa (trong lòng chiêng để một tấm đắp) đặt lên lưng trâu hiến tế.
    Tiếp theo trâu là heo, chủ lễ lại gọi thần, trao cán kao (chiếc cuốc làm cỏ lúa) cho người hạ heo; người này dùng cán kao đập lên đầu con vật; những người dự cúng cùng cầm vào cán kao đập lên đầu con vật một vài lần rồi dùng lao hạ heo cho thần. Các con vật nhỏ lần lượt được hiến tế theo thứ tự: gà, vịt.
    Trong khi việc hiến tế các con vật liên tục diễn ra, cồng chiêng nổi lên không ngớt. Những điệu thức nghi lễ nghiêm trang làm thông điệp để thân linh vui tai, ngon miệng. Người đánh chiêng di chuyển thành vòng tròn quanh con vật hiến tế, di chuyển quanh hệ nêu trên sân lễ.
    Chủ lễ dùng một nửa quả bầu khô lấy máu các con vật hiến tế bôi lên các cây nêu, bôi lên nhà dành cho thần N’Đu; miệng những người dự cúng liên tục đọc những câu nguyện cầu thần linh cho sự an lành đến với buôn làng, lúa lên đều trong mùa gieo trồng mới, lúa lên xanh bông nhiều, chắc hạt…
    Người ta lại cúng một choé rượu (đặt trong rào của cây nêu chính), dâng những nước rượu cần đầu tiên cho thần linh, gọi 8 Yàng cha, 12 Yàng con; bôi máu một lần nữa lên nhà thần N’Đu, lên trán những người dự lễ. Những người ngồi trong rào cúng là những người vai vế trong tộc họ. Đó là những người thay mặt một gia đình (đại gia đình), thay mặt được cả cộng đồng gửi gắm nguyện vọng thiết tha của con người đấng các thần linh. Cùng với cồng chiêng, lời khấn càng góp phần làm cho một vùng không gian huyền ảo, thiêng liêng.
    Thực hiện những nghi thức xong, trâu, heo, … được xẻ thịt. Đầu trâu, một nhúm lông trâu treo trên thân nêu ăn trâu (kơnơng rpu); chân heo, gà, vịt và tai heo treo trên cây nêu chính (Nđăl).
    Ngày hôm sau, chủ các rẫy trong tộc họ mang máu vật hiến tế lên rẫy của mình. Họ đến một góc rẫy, bôi máu vật hiến sinh vào đất, những khóm cây cháy dở đã nảy chồi, miệng khấn xin thần linh về nhận lễ, cho phép con người được chọc lỗ tra hạt, mong cho hạt giống không bị kiến tha, mối đục, chim thú cắn phá và lên đều. Khi trở về nhà, chủ rẫy mang theo một vài cành cây cây cháy dở, một gốc cây (bó kèm theo đất bằng một chiếc lá rừng) bỏ vào phần không gian thiêng trong nhà dài trưởng tộc (cũng đồng thời là chủ đất).
    Trong khi những người chủ rẫy thực hiện nghi lễ tại các rẫy của mình, mọi người trong gia tộc vận vui vẻ ăn uống, chuyện trò, đánh chiêng trống và múa hát. Cuộc vui kéo dài ba ngày đêm. Ngày thứ ba (kể từ sáng diễn ra lễ chính), chủ nhà lại cắm cần một choé rượu nữa làm nghi thức cúng cuối cùng, xin Yàng cho lễ kết thúc. Lúc này, đầu trâu trên cây nêu được hạ xuống xẻ thịt nấu cháo, phần xương đầu trâu dắt trên mái nhà, sừng trâu có thể dùng vào việc làm cán dao, hay trang trí nhà cửa.
    Sau những ngày vui chơi, các thành viên trong tộc họ bắt tay vào việc mùa vụ. Họ cùng nhau lên rẫy chọc lỗ tra các loại hạt giống. Cồng chiêng sau nghi lễ lại được xếp vào phần không gian thiêng trong nhà dài chờ một nghi thức cúng tế nông nghiệp mới, những dịp vui mới.

    Ngọc Khả

  • adminA

    Hôn nhân của người Mạ ở Đồng Nai
    Người Mạ ở Đồng Nai sống chủ yếu tập trung ở xã Tài Lài, huyện Tân Phú, bên hữu ngạn sông Đồng Nai, cạnh khu rừng cấm Cát Tiên. Cho đến nay, dân tộc Mạ ở Đồng Nai còn giữ nhiều nét văn hoá mang tính truyền thống, nổi bật nhất là tục hôn nhân.

    												 													 														###  
    

    Thiếu nữ dân tộc Mạ Ảnh ZVN

    Trước đây, người Mạ thường có quan hệ hôn nhân trong nội bộ tộc. Trai gái Mạ lớn lên, đến tuổi trưởng thành được tự do tìm hiểu, yêu đương. Các bậc cha mẹ khi chọn dâu, rể thường căn cứ vào năng lực, đức hạnh của chàng trai, cô gái. Con gái phải bếp núc gọn gàng, biết dệt thổ cẩm, còn con trai thì xà gạc, gùi, dao phải bén, sức khỏe tốt, chăm chỉ lao động. Người Mạ không ngăn cấm con cô, con cậu kết hôn, song con chú, con bác thì không được phép. Người Mạ cũng không có quan niệm về trinh tiết. Quyền hôn nhân ở người Mạ thuộc về cha mẹ và chủ động phía đàng trai. Khi chàng trai và cô gái ưng nhau, chàng trai về thưa chuyện với cha mẹ nhờ ông mai sang nhà gái thưa chuyện (người Mạ gọi đây là lễ đám nói). Trong đám nói, chàng trai sẽ mặc chiếc khố cùi tua đỏ, tay đeo nhiều vòng đồng, tóc búi cắm hai lông chim trắng dài. đến cửa nhà gái, chàng trai cắm ngọn lao xuống đất, vai vác xà gạc, dao đeo thắt lưng. Khi cha hoặc cậu ruột cô gái ra tiếp nhà trai, chàng trai trình bày mục đích cuộc viếng thăm bằng những vần thơ mộc mạc: Con tìm mảnh đất thấp để gieo lúa nếp/ Con tìm bãi cây non để khai thác trồng tỉa/ Con tìm kiếm cánh đồng, con muốn nhiều vòng tay, vòng cổ/ Con muốn con gái cha, nàng giơ cần cổ để con đeo kiềng/ Con muốn con gái cha, nàng chìa cườm tay để con đeo vòng.

    Đáp lại chàng trai, cha cô gái (hoặc cậu) trả lời: Hãy kiếm nơi đất thấp hai cây gỗ lớn bằng nhau/ Hãy kiếm nơi đầm lầy hai cây thẳng bằng nhau/ Hãy kiếm trong rừng hai cây dầu bằng nhau.

    Vừa dứt câu trả lời, chàng trai liền rút ngọn lao bước vào nhà, rồi để lại đó bảy ngày bảy đêm. Hai họ bàn chuyện bằng những vần thơ theo lối nói vòng vo rồi cùng nhau hút thuốc, uống rượu vui vẻ. Xong việc, đàng trai ra về, còn chàng trai ở lại nhà gái. Tuy đã làm đám nói, song đôi trai gái không được chung sống với nhau trong nhà cô gái, mà làm một túp lều nhỏ xa bòn (làng), trong một góc rừng kín đáo vắng vẻ và chung sống với nhau. Thời gian này, cô gái trang sức rất đẹp, đeo nhiều chuỗi vòng, chuỗi hạt cườm hoặc vỏ ốc, tóc được búi lên cài lược sừng có cắm con dao nhỏ cán sừng, buộc thắt lưng có hoa văn sặc sỡ. Họ hát cho nhau nghe những bài ca mộc mạc chứa đựng tình yêu.

    Theo luật tục, trong ngày cưới, sính lễ đàng trai đưa qua nhà gái là gạo, rượu cần, chiêng, trâu và lợn. Lễ cưới diễn ra trong một đêm vui vẻ, có khi tới hai, ba đêm. Trong lễ cưới, đôi vợ chồng trao nhau vòng đồng cùng nhau ăn miếng gan lợn như lời thề chung sống trọn đời bên nhau. Người Mạ có tục cho cô dâu, chú rể nằm gần nhau trước mặt hai họ và những người dự lễ cưới, rồi phủ lên đôi vợ chồng trẻ một cái mền thổ cẩm hoa văn sặc sỡ tượng trưng cho cuộc sống chung của vợ chồng trước dòng họ. Nếu lỡ cô gái có bầu trước khi cưới, chàng rể không phải là cha của đứa trẻ thì phải nộp cho bòn một con lợn và một con dê để cúng Giàng, nếu đứa trẻ ra đời trước khi cưới, chàng trai phải nộp cho bòn một con trâu.

    Sau khi cưới, chàng trai phải sang bên gia đình vợ ở rể. Được vài năm, cha mẹ họ hàng đàng trai làm lễ trả của cho đàng gái. Trường hợp chưa trả đủ thì hẹn lại lần sau nhưng chàng trai phải tiếp tục ở rể. Thời gian ở rể có khi kéo dài đến suốt đời nếu gia đình đàng trai nghèo quá. Sau lễ trả của này, phụ nữ Mạ thường về cư trú bên chồng. Nếu nhà gái muốn bắt chồng thì phải nộp cho nhà trai bằng số sính lễ nhà trai đưa đi cưới vợ. Ngày nay, tục ở rể và trả nợ vẫn còn tồn tại trong tộc người Mạ, nhưng hình thức tổ chức đám cưới được giản lược đi nhiều. Vợ về nhà chồng hoặc chồng về nhà vợ tùy theo kinh tế của mỗi nhà. Đa số những cặp vợ chồng trẻ cưới xong thường ra ở riêng và ít khi phụ thuộc vào cha mẹ đôi bên.

    Chế độ hôn nhân một vợ một chồng được xác lập bền vừng trong cộng đồng người Mạ. Tuy nhiên cũng có trường hợp đa thê, nhưng phải có sự đồng ý của người vợ đầu tiên. Ngoài ra, người Mạ còn có tục nối dây (khi chồng hoặc vợ chết sớm, người kia có quyền lấy em vợ hoặc em chồng) và hình thức Klỉa (chồng chết ba năm mới được tái giá, nếu vi phạm sẽ bị phạt gấp đôi lễ vật thách cưới trước đây).

    Người Mạ cho việc ngoại tình là một hình thức vi phạm và sẽ bị phạt nặng. Chuyện li dị cũng ít khi xảy ra. Nếu có, người chủ động li dị phải nộp lễ vật theo sự đòi hỏi của người kia.

    Phong Thạnh

Chia sẻ
Đang online
Hết trang — Đà Lạt Hoa
Nhật ký cộng đồng · Powered by NodeBB