CHI CỤC BẢO VỆ THỰC VẬT
LÂM ĐỒNG
QUY TRÌNH
PHÒNG TRỪ TỔNG HỢP BỆNH SƯNG RỄ HẠI RAU HỌ THẬP TỰ
(Theo quyết định số 67/QĐ-SNN
của Sở NN & PTNT Lâm Đồng)
Đà Lạt, tháng 9 năm 2008
- Triệu chứng gây hại:
Bệnh gây hại trên bộ rễ của cây (rễ chính và rễ bên). Bộ phận rễ bị biến dạng sưng phồng lên, có các kích cỡ khác nhau tuỳ thuộc thời kỳ và mức độ nhiễm bệnh.
Cây bị nhiễm bệnh trên vườn trồng
- Cây dần dần biểu hiện các triệu chứng:
- Sinh trưởng chậm, cằn cỗi, lá biến màu xanh bạc, có biểu hiện héo vào lúc trưa nắng, sau đó phục hồi vào lúc trời mát, khi bị nặng toàn thân cây héo rũ cả khi trời mát, lá chuyển màu xanh bạc, nhợt nhạt, héo vàng và cây bị chết hoàn toàn.
- Bệnh hại tấn công vào vùng rễ, gây biến dạng, làm giảm khả năng hút nước, dinh dưỡng và khả năng chống chịu của cây, dẫn đến việc xâm nhập dễ dàng của một số loài nấm, khuẩn gây nên sự thối mục đen toàn bộ rễ cây. Khi cây bị nhiễm bệnh sớm (giai đoạn vườn ươm, hồi xanh) cây khó phục hồi và chết, nhưng nếu cây bị nhiễm ở giai đoạn muộn hơn (giai đoạn hình thành bắp, phân hoá hoa) cây có thể cho thu hoạch nhưng năng suất giảm, chất lượng kém.
- Nguyên nhân, đặc điểm sinh vật học:
2.1 Nguyên nhân lây lan bệnh tại Lâm Đồng:
Điều kiện khí hậu, đất đai thích hợp: Nhiệt độ trung bình năm từ 18 - 200C phù hợp với nhiệt độ tối thích của bệnh hại, độ pH khá thấp: 4.8 - 5.3, độ ẩm đất khá cao >80%,
mặt khác cây rau họ thập tự được trồng quanh năm là những điều kiện ngoại cảnh rất thích hợp để bệnh gây hại nặng do bội nhiễm và mức độ lây lan nhanh.
Đất, nguồn nước tưới bị nhiễm bệnh: Tàn dư cây bệnh sưng rễ không được nông dân tập trung tiêu huỷ, phần lớn thu gom trên bờ ruộng hoặc đổ xuống các mương nước tưới tiêu làm cho đất bị bội nhiễm và nguồn nước tưới tiêu bị nhiễm bệnh sưng rễ gây lây lan nhanh cho các ruộng lân cận và khu vực vùng phía thấp.
Cây giống bị nhiễm bệnh: Một số vườn ươm cây giống sử dụng nguồn nước nhiễm bệnh, giá thể bị nhiễm bệnh không được xử lý.
2.2 Đặc điểm của bệnh sưng rễ:
Bệnh do nấm Plasmodiophora brassicae.W gây ra. Là loài nấm cổ sinh đơn bào (không có nhánh, sợi nấm) và là loài nấm ký sinh bắt buộc. Chúng chỉ phát triển và sinh sản trong tế bào ký chủ còn sống mới hoàn tất vòng đời. Nấm có thể tồn tại trong đất 7 -10 năm ở dạng bào tử tĩnh, cũng có thể lâu hơn. Bệnh phát triển thích hợp trên đất chua (pH thấp 104 bào tử/1g đất.
Khi phát triển trong cây, bào tử động tiếp tục được hình thành ở pha thứ cấp và tấn công những cây bên cạnh hoặc di chuyển, phát tán xa hơn. Bào tử tĩnh được hình thành rất nhiều trong tàn dư cây bệnh và giải phóng ra đất khi rễ cây bị phân huỷ (thối đen, mục). Nấm bệnh không lây lan qua hạt giống nhưng lây nhiễm gián tiếp qua hạt giống trong quá trình sản xuất và vận chuyển hạt giống. - Quy trình phòng trừ tổng hợp:
3.1 Biện pháp PTTH bệnh sưng rễ trên vườn ươm cây con:
- Xử lý dụng cụ (khay, máy dập khuôn, xẻng, cuốc…) bằng formol 2 - 3% sau mỗi lần sử dụng.
- Xử lý đất bằng Nebijin 0.3DP (3kg/10m3 giá thể). Nếu có thể xử lý bằng nhiệt.
- Điều chỉnh độ pH đất của giá thể >6.5 bằng các loại vôi (theo bảng 1).
- Sử dụng nước máy, khoan giếng ngầm để tưới. Không được sử dụng nước ao hồ, khe suối.
- Sử dụng các chất kích kháng, phân bón qua lá hợp lý.
- Vệ sinh vườn ươm định kỳ 1 tháng/lần hoặc sau mỗi lần xuất cây con.
- Kiểm tra cây con trước khi xuất vườn. Nếu bị nhiễm sưng rễ phải tiêu huỷ, chuyển đổi sang gieo ươm loại cây họ khác.
3.2 Biện pháp PTTH bệnh sưng rễ trên vườn sản xuất:
3.2.1 Biện pháp canh tác
Bước 1: Luân canh
Thực hiện tốt chế độ luân canh trồng cây rau khác họ thập tự: Cà rốt, khoai tây, pố xôi, xà lách…
Đối với đất đã bị nhiễm bệnh nặng, nguồn nước tưới bị nhiễm bệnh: Không nên trồng cây họ thập tự. Nếu muốn trồng nên lựa chọn các cây họ thập tự ít nhiễm như: cải thảo, cải dưa, cải cay…
Bước 2: Cây con giống
Trồng cây con sạch bệnh và khoẻ mạnh: Chỉ mua cây con từ các vườn ươm bảo đảm sạch bệnh, có uy tín (kiểm tra rễ trước khi nhận cây, không mua cây giống ở những vườn ươm đã nhiễm bệnh chưa được xử lý).
Bước 3: Tưới tiêu nước
Làm mương tiêu thoát nước tốt, không để đất ngập úng. Tưới nước đủ ẩm trong giai đoạn phát triển thân lá.
Bước 4: Phòng ngừa lây nhiễm bệnh
Sử dụng nguồn nước tưới không bị nhiễm bệnh (nên sử dụng nước giếng khoan, nước máy…).
Không đưa các vật dụng, dụng cụ có thể đã bị nhiễm bệnh vào ruộng, vườn ươm: Máy cày, máy nông cụ, dụng cụ, giày, ủng, gia súc.
Triệt để vệ sinh đồng ruộng: Thu gom cỏ dại, tiêu huỷ tàn dư cây bệnh trên ruộng đặc biệt là phải thu dọn hết gốc cây, rễ cây trước khi làm đất (đào hố chôn xa nguồn nước, rắc vôi tiệt trùng, đốt…).
Bước 5: Bón vôi
Là biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao độ pH thích hợp để hạn chế bệnh phát triển (pH 6.5). Sử dụng các loại vôi có hàm lượng CaO cao như Hodoo, vôi tôi… liều lượng vôi bón tuỳ thuộc vào độ pH hiện tại của đất, loại đất, loại vôi theo bảng tham khảo sau:
Bảng 1: Lượng vôi cần bón để điều chỉnh độ pH đất đến trung tính.
pH hiện tại của đất 4.5 5.0 5.5 6.0 6.5 7.0
Lượng vôi cần bón (kg/1000m2) 748 558 488 341 244 195
Bước 6: Chế độ bón phân cân đối, hợp lý - Chỉ sử dụng các loại phân chuồng đã được ủ hoai mục kỹ và phân xanh.
- Sử dụng phân đạm hoá học: Sử dụng phân Ca(NO3)2 là loại phân có tính chất kiềm hoá hoặc Cyanamit Canxi (20%N) bón sớm vào giai đoạn đầu (lót, thúc sớm).
- Liều lượng phân cân đối, chú trọng các loại phân vi lượng như: Mg, Bo…
- Lượng phân bón cho 1 Ha (cải bắp)
- Vôi : Bón dựa vào pH của đất
- Phân hữu cơ: 10 - 20 m3
- Phân vi sinh: 300 - 600kg
- Phân vô cơ: 250 N - 150 P2O5 – 200 K2O
Quy ra: 120kg Urê, 120kg DAP, 500kg NPK (20-20-15), 250kg K2SO4, 500kg Canxi nitrat Ca(NO3)2
- Cách bón:
- Bón lót trước khi trồng: Toàn bộ phân chuồng, phân vi sinh, vôi và 1/2 Ca(NO3)2, 2/3 DAP và 1/3 K2SO4. Phân chuồng và phân vi sinh có thể rãi đều bón cùng vôi khi làm đất. Phân hóa học bón vào rãnh, đảo trộn thật đều và tưới cho tan một ngày trước khi trồng.
- Bón thúc:
- Lần 1: Thời kỳ hồi xanh, sau trồng 7-10 ngày. Bón 1/3 DAP và 1/2 Urea. Trộn đều, rải phân cách gốc cây 10-15cm, xăm xới vun nhẹ mặt luống, kết hợp làm cỏ. Tưới đủ ẩm sau khi bón.
- Lần 2: Thời kỳ trải lá bàng, sau trồng 20-25 ngày. Bón 1/2 Ca(NO3)2, 1/2 Urea, 3/5 NPKø. Trộn đều, bón cách gốc 20cm, kết hợp làm cỏ, vun nhẹ. Tưới đẫm cho tan phân.
- Lần 3: Thời kỳ cuốn bắp sau trồng 40-45 ngày. Bón 2/5 NPK, 2/3 K2SO4. Rải phân đều giữa hai hàng cây, tưới đẫm. Trong thời kỳ sinh trưởng sử dụng các loại phân bón lá, kích thích như: Agrostim, Atonik, Seaweed, Groro, Yankinsu,… theo nồng độ khuyến cáo. Sau mỗi lần bón thúc, phun phân vi lượng có chứa các thành phần Mg, Mn, Fe, Bo, Mo….có thể sử dụng chất kích thích ra rễ.
3.2.2 Biện pháp vật lý
- Nhổ bỏ, gom và tiêu huỷ sớm các cây bị nhiễm bệnh: Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sớm và nhổ bỏ tập trung các cây nhiễm bệnh để tiêu huỷ: đốt (dùng dầu gasoil đốt các rễ/củ, tàn dư cây bệnh) chôn vào hố đào sẵn (hố đào xa nguồn nước, rải vôi vào hố, vào chỗ cây đã nhổ bỏ) hoặc ủ composting. Không để cây bị nhiễm bệnh thối mục trên ruộng (nhổ sớm trước khi củ thối đen).
- Tuyệt đối không vứt bỏ cây bị nhiễm bệnh lên bờ, xuống mương suối hoặc nguồn nước.
- Tàn dư thực vật sau thu hoạch: Thu gom toàn bộ rễ cây họ thập tự sau thu hoạch để tiêu huỷ bằng phương pháp đốt, chôn hoặc ủ phân composting.
3.2.3 Biện pháp sinh học
Bước 1: Bẫy cây trồng
Trồng dày cây họ thập tự ngắn ngày như cải ram, cải cay… để kích thích bào tử tĩnh trong đất nảy mầm (thu hoạch toàn bộ cây, rễ sau trồng 3-4 tuần lễ để cắt đứt chu kỳ vòng đời của nấm bệnh; phải xử lý thu gom và tiêu huỷ rễ bị sưng). Nên gieo trồng tiếp nhiều vụ cây họ thập tự ngắn ngày hoặc có thể trồng cây họ thập tự ở các vụ sau khi nguồn bệnh trong đất giảm. Mùa nắng phải tủ rơm khi gieo hạt để tránh làm chết hạt.
Bước 2: Xử lý xông hơi khử trùng ITC
Sử dụng tàn dư lá cây họ thập tự có nhiều chất cay để xông hơi khử trùng đất (5 tấn lá/1000m2 cày vùi và tưới nước 5-7 ngày trước khi trồng). Biện pháp này chỉ sử dụng được đối với những khu vực có nguồn tàn dư lá cây họ thập tự phong phú.
Bước 3: Sử dụng chất kích kháng, nấm đối kháng
Sử dụng nấm Trichoderma (ĐH Cần Thơ, Tân Tiến...) với liều lượng 80 -150kg/ha trước khi trồng, phun chất kích kháng Exin 4,5HP liều lượng 0,5 -0,75lít/ha sau khi cây bén rễ hồi xanh.
2.4. Biện pháp hoá học
- Xử lý đất trước khi trồng bằng Nebijin 0.3DP (Flusulfamide) liều lượng 300kg/ha (Lưu ý: Thực hiện xử lý thuốc đúng kỹ thuật của Nhà sản xuất: cày bừa tơi đất, rải đều thuốc, cày trộn đều thuốc, có thể trồng ngay hoặc để vài tuần sau trồng). Không nên xử lý trên đất ướt, ngập úng, kém thoát nước trong mùa mưa.
- Xử lý thuốc Heroga 6.4SL liều lượng 0,75-1 lít/ha (phun ngay sau khi trồng 7 -10 ngày/lần, lượng nước phun đủ thấm đến độ sâu rễ 7 -10 cm).