(CAO) “Bắt chồng” là một trong những tục lệ truyền thống của tộc người theo dòng mẫu hệ ở đồng bào các dân tộc sống dọc Trường Sơn – Tây Nguyên. Nhưng nay, ở nhiều nơi tục lệ này đã bị biến tướng trở thành những hành vi thực dụng mang nặng tính chất trao đổi, buôn bán thậm chí là… đầu tư để sinh lợi. Từ đó dẫn đến những hậu quả nặng nề, không những cản trở nếp sống văn minh mà còn đẩy bao cặp vợ chồng trẻ vào bi kịch nợ nần. Nhiều gia đình vốn đã nghèo lại lâm vào cảnh đường cùng đến khuynh gia bại sản.
**Kinh doanh trên…hủ tục
**
Khác với người Kinh, nam giới đi hỏi vợ, riêng ở Tây Nguyên, đồng bào theo dòng mẫu hệ điển hình như: cộng đồng người Chu Ru ở xã Próh (Đơn Dương), xã Tà Năng (Đức Trọng) hoặc người K’ Ho ở xã Gung Ré (Di Linh)…các cô gái phải đi… “bắt chồng”. Đây là quy luật được tuân thủ một cách vô thức, lưu truyền từ đời này sang đời khác. Ngày nay, những tưởng cuộc sống được cải thiện, điều kiện về văn hóa tinh thần được nâng lên thì hủ tục sẽ được xóa bỏ bớt nhưng nó lại đang phát triển, biến tướng theo kiểu kinh tế thị trường, đặc biệt là tục thách cưới.
Theo thống kê của UBND xã Gung Ré huyện Di Linh: toàn xã có 2080 hộ dân (chủ yếu là dân tộc Cơ Ho) trong đó có tới hơn 100 hộ thuộc diện nghèo mà một trong những nguyên nhân là do hệ lụy từ việc “bắt chồng”. Với những đồng bào dân tộc thiểu số ở đây, “bắt chồng” là một việc làm quan trọng trong đời sống của mỗi con người. Chính vì vậy lễ cưới phải tổ chức thật linh đình và cuối cùng họ phải gánh chịu những món nợ truyền kiếp…. Già làng K’Brịp thôn Di Linh Thượng 1 (xã Gung Ré) là người am hiểu về chuyện cưới xin của đồng bào dân tộc K’ Ho, già kể: Tục lệ của đồng bào dân tộc theo dòng mẫu hệ thì người con gái đến tuổi “cập kê” sẽ được bà mối “nhắm” cho một tấm chồng và mọi việc cưới hỏi cũng như kinh phí đều do nhà gái lo liệu, chàng rể phải về sống bên nhà vợ. Sau khi “nhắm” được một chàng trai ưng ý thì nhà gái phải nhờ người cậu biết cách ăn nói (vai trò bà mối) đến nhà trai hỏi xem họ có đồng ý lấy con gái của mình hay không? Việc này bắt buộc phải tiến hành vào ban đêm vì trong lúc này gia đình của nhà trai ở nhà đầy đủ tiếp chuyện. Đi “bắt chồng” vào ban đêm cũng vì danh dự của cô gái, bởi lẽ nếu nhà trai không đồng ý thì cũng đỡ xấu hổ với những người trong buôn làng.

*Gìa làng Kbrip đang kể chuyện về tục bắt chồng
*
Theo quan niệm ban đêm sẻ được thần linh chứng kiến, tác hợp cho đôi trẻ. Khi được sự đồng ý của nhà trai, hai bên đi đến bàn bạc và nghe nhà trai… “ra giá” tiền và bao nhiêu sính lễ? Đặc biệt, những chàng trai có học hoặc những gia đình giàu có thì “giá” cao hơn!. Ngày xưa sính lễ trong một đám cưới thường là: trâu, bò, heo, cồng chiêng, váy, khố, vòng, nhẫn… sau đó là một đám cưới tổ chức linh đình kéo dai trong bảy ngày, bảy đêm ở nhà gái. Nhưng ngày nay tất cả được quy ra tiền và vàng. Muốn có được một tấm chồng, nhà gái cũng phải có ít nhất là 01cây vàng và 30 triệu đồng tiền mặt. Do đó gia đình nào có khoảng năm cô con gái trở lên thì thật … khủng khiếp.
**Sính lễ đi đầu...nợ nần theo sau!
**
Lễ vật đám cưới của người K’Ho thường từ 1 đến 1,5 cây vàng tùy theo gia đình khá giả; khăn 2 cái (một cái cho mẹ và một cái cho cô) mỗi chiếc có giá khoảng từ 500 000 đến 700 000 đồng; áo vét lớn 2 cái (một cho bố, một cái cho cậu lớn); áo vét nhỏ 3 cái (để dành cho cậu thứ, chú và người anh cả). Tiền mặt trước đây từ 3 đến 5 triệu, nhưng bây giờ thì từ 25 đến 30 triệu đồng, thậm chí có đám còn “ra giᔅ50 triệu (tùy vào từng gia đình khó hoặc dễ). Trường hợp hai dòng họ có mâu thuẩn với nhau từ đời trước thì ngoài tiền thách cưới và sính lễ, nhà gái phải “bồi thường” cho nhà trai thêm một khoản tiền để …“giải hòa”. Bây giờ nhiều đám cưới không cần phải trâu, bò, khăn, áo…mà người ta quy ra tiền mặt và vàng. Nhiều gia đình vốn đã nghèo nay trở thành “chúa chổm” vì lo kinh phí bắt chồng cho con. Do vậy, có cặp vợ chồng ăn ở với nhau có mấy mặt con rồi mà vẫn chưa được tổ chức lễ cưới vì chưa có tiền nộp cho nhà chồng, ví dụ như chị Ka Hùys con của ông K’ Rộp và bà Ka Hinh (thôn Ka Minh) “bắt chồng” từ lúc 16 tuổi bây giờ đã có hai mặt con nhưng vẫn chưa tổ chức lễ cưới. Cũng có trường hợp hai vợ chồng lấy nhau khi con được 5 tuổi mới có tiền nộp cho nhà trai để tổ chức lễ cưới như chị Ka H (thôn Ka Minh). Mới đây nhất là trường hợp của gia đình ông K’Sóp và bà Ka Lìn (thôn Ka Minh) có cô con gái 16 tuổi “bắt chồng” hôm 8-3-2010 vì chưa có tiền để cưới đành phải…ký nợ. Rất nhiều cô gái người dân tộc Cơ Ho tâm sự “bây giờ mà không có khoảng 70 triệu trong tay thì không dám nghĩ đến chuyện lấy chồng” .

Cái đói nghèo và lạc hậu gắn liền với những hủ tục
Ông K’Brọi ở thôn Ka Ming có 5 người con gái nhưng chỉ mới “bắt chồng” và cưới được cho hai đứa, ông nói trong sự buồn bã “thời buổi này lễ vật thách cưới tiếng thì giảm nhưng tính lại thậm chí còn cao hơn, vì thế những nhà đông con như tao khó khăn lắm”…. Ngày 28-3-2010, chúng tôi đã được tham dự và tận mắt chứng kiến lễ đám hỏi của gia đình ông bà K’brái (thôn Ka Minh). Đây là ngày bên nhà gái đưa tiền mặt (20 triệu đồng) như thỏa thuận để hai bên bàn bạc tiếp và định ngày cưới cho đôi trẻ, tiếp đến phải có một đám cưới “quy mô” để mở mặt với buôn làng. Ngồi bên cạnh chị Ka H tôi hỏi: đám này thách bao nhiêu? “nếu tính trọn gói khoảng 70 triệu”- chị trả lời.
Họ đã làm tất cả như: vay tiền ngân hàng, bán lúa non, bán đất cà phê thậm chí thế chấp cả số đỏ để có thể kiếm cho con được một tấm chồng. Những gia đình đông con, quá nghèo thì có thể xin “nợ” và trả dần các lễ vật. Hệ quả, sau đám cưới, đôi vợ chồng trẻ bị biến thành những “con nợ” của bố mẹ chồng, nếu đời con chưa trả hết thì cháu phải trả. Không ít những gia đình phải gánh những món nợ truyền kiếp.
Cưới hỏi mang nặng tính chất trao đổi nên đâu đó vẫn còn tồn tại việc kết hôn cùng dòng máu (con cô, con cậu lấy nhau) vì theo như lời của già làng K’ Brịp thì “nếu lấy người khác dòng họ, sợ cái chiêng cái chóe sẽ về nhà người khác”. Bên cạnh đó, thực trạng tảo hôn cũng gia tăng. Chị K’ Liên- cán bộ văn hóa xã Gung Ré cho hay: “chưa đủ tuổi kết hôn nhưng tụi nó tự ý lấy nhau, khi nào đủ tuổi thì dắt nhau ra xã đăng ký, lúc đó thì con cái của họ cũng đã lớn rồi”. Dẫu biết rằng đây là tục lệ truyền thống ngàn đời của bà con dân tộc thiểu số nhưng bây giờ nó đã biến thành những hủ tục đã để lại rất nhiều hệ lụy buồn. Hơn nữa hủ tục này làm cho cái nghèo đói, cái nợ nần cứ mãi bám riết lấy từng mái nhà, từng buôn làng. Thiết nghĩ, chính quyền, các đoàn thể phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động để cuộc sống đồng bào ngày một tốt đẹp hơn.
Theo Lê Hoà (báo CATPHCM)