NDĐT - Rừng, tiếp rừng. Núi, rồi lại qua núi. Suốt dọc đường đi vẫn là thăm thẳm màu xanh hoang sơ và kỳ vĩ của đại ngàn. 15 năm rồi đó, hôm nay tôi được trở lại với những người bạn dân tộc Chil buôn Klong Klanh anh hùng - căn cứ qua hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc (thuộc xã Đạ Cháy, huyện Lạc Dương, Lâm Đồng) dưới chân dãy Bidoup – một trong ba đỉnh núi cao nhất được mệnh danh là “nóc nhà”, là “điểm tựa tâm linh” của vùng đất Tây Nguyên xa xôi…

Ngày xưa, xưa lắm rồi, thung lũng nơi thượng nguồn dòng sông Đa Nhim này loài trăn nhiều lắm. Trăn sống trong các hang đá lạnh, bên các dòng suối lớn như Hungyau, Liêngsú, Đưng Tvó. Buổi đẹp trời, những con trăn lớn bé trườn mình lên thảm cỏ phơi nắng, vảy trăn phản quang lấp lánh dưới ánh nắng. Có thể vì lẽ đó, người Chil nơi đây gọi tên quê hương của mình là thung lũng trăn mà tiếng bản địa là “Klong K`lanh”…
Đang mải lan man về huyền thoại tên gọi vùng đất cổ, vùng đất anh hùng với hai đồng nghiệp trẻ đang cần tìm hiểu, chúng tôi đã đến đầu buôn Klong Klanh tự lúc nào không hay. Văng vẳng trong trưa tĩnh lặng tiếng hát từ một nơi nào đó cất lên, mà lại là một giọng lẩy chèo mượt mà, làm chúng tôi ngạc nhiên và thú vị hết sức. Giữa thung lũng hoang sơ của buôn làng người Chil lọt thỏm giữa các dãy núi xa mờ Tây Nguyên bỗng được nghe khúc hát cổ truyền vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tôi và hai đồng nghiệp trẻ không khỏi lấy làm lạ và đi tìm người hát. Thì ra, đó chính là vị già làng khả kính Konsă Ha Chong. Gìa làng đang vui, gặp khách quý nên càng vui hơn. Tại sao già biết hát chèo? - Tôi hỏi. Gìa chưa vội trả lời mà tiếp tục một điệu nói lối vui tươi :“Khi hoa đào ửng má chào Xuân – Khi hạt mưa rơi thấm tình đất nước – Cũng là lúc tiếng súng chiến trường vang dậy…”. Ha Chong kể rằng, những điệu hát chèo ấy và cả quan họ Bắc Ninh, ví dặm Nghệ - Tĩnh nữa, già đã được những đồng đội quê miền Bắc dạy cho từ hồi còn “mồ ma thằng Mỹ”. Già Ha Chong có giọng hát khá mượt và đã từng hát trong những buổi lễ mừng công thắng trận, những cái tết chiến trường đã lùi về ký ức. Theo dòng hồi tưởng của cụ già người Chil, chúng tôi như được sống trong không gian những năm tháng hào hùng cả nước ra tiền tuyến, anh em các dân tộc từ nhiều vùng quê Việt cùng sát cánh bên nhau chiến đấu cho một ngày nước nhà thống nhất. Hồi đó, già là cậu bé Ha Chong nhanh nhẹn, được bố là Ha Đưng - người đảng viên đầu tiên của vùng căn cứ kháng chiến dưới chân Bidoup - giác ngộ. Người cha ấy đã dạy Ha Chong đi làm giao liên, truyền tin cho các cán bộ cách mạng hoạt động trong vùng như Chế Đặng, Đinh Sỹ Uẩn...Những năm 1967 - 1969, Ha Chong đã trở thành trạm trưởng một trạm trên tuyến hành lang Bắc – Nam. Anh đã đứng ra tổ chức chiêu mộ hàng chục, hàng trăm trai gái trong các buôn làng đi cứu thương, tiếp lương, tải đạn phục vụ chiến trường, hoạt động suốt tuyến quốc lộ 21, nối Nam Tây Nguyên với chiến khu D và Trung ương cục miền Nam. Đội quân ấy là những chiến binh dũng cảm của Đoàn H50 Anh hùng nổi tiếng một thời. Ha Chong cũng từng là phó bí thư huyện đoàn Đơn Dương từ những ngày đất nước còn trong máu lửa. Hôm nay gặp già giữa rừng, giữa buôn làng cũ và những kỷ niệm một thời cũng tự nhiên trở về. Khi kể về quá khứ, già làng Ha Chong như trở lại với thời trai trẻ cùng đồng đội đi đánh đồn Thái Phiên, Chư K`longga, hay tập kích Trường võ bị Đà Lạt - trung tâm đào tạo quân lực của ngụy quyền Sài Gòn trong những ngày xuân Mậu Thân 1968…
Trong câu chuyện thân mật với vị già làng vui tính, người chiến binh dân tộc Chil năm xưa, tôi chợt hồi tưởng lại hình ảnh Klong Klanh trong một chuyến công tác qua đây vào mùa lũ 1994. Vậy mà đã mười lăm năm. Đó là một chuyến đi ghi lại những trang buồn trong cuốn sổ tay của người làm báo. Sau chuyến đi ấy, tôi đã phải viết một phóng sự đầy ắp chuyện không vui, kể về thân phận của một làng buôn, một căn cứ kháng chiến kiên trung với những con người từng hy sinh và tiếp tục thầm lặng chịu đựng hy sinh trong sự lãng quên sau mười mấy năm nước nhà không còn bóng giặc…
Xin được lật lại vài trang nhật ký phóng viên của mười lăm năm trước:
Klong Klanh, tên buôn của đồng bào người Chil tụ cư dưới chân ngọn Bidoup hùng vĩ. Cái tên ấy không xa lạ gì mấy với ngôn ngữ ngày thường và với những người từng vác súng lên non đánh giặc. Vùng đất cội cằn bốn mùa buốt giá sương muối và dày đặc vắt rừng này từng là căn cứ kiên trung của hai cuộc kháng chiến cứu nước. Trên bản đồ hành chính, vùng đất xa xôi này là một thôn của xã Đạ Cháy, thuộc huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng. Giữa suối, thác, núi, rừng, người Chil nơi đây sống giữa huyền thoại và không gian sinh tồn ngàn đời. Dòng Đa Nhim bắt nguồn từ những con suối Klong Klanh trôi nước về xuôi đã làm nên dòng điện dâng đời. Nước không chảy ngược nên người ở thượng nguồn vẫn phải sống trong đêm trường gió hú. Chúng tôi dừng chân bên bờ suối Liêng Sú khi những sợi khói chiều bảng lảng trên những nóc nhà sàn bé nhỏ của buôn Klong Klanh trong một buổi chiều tháng 4 năm 1994. Không gian thật ảm đạm, buôn như càng lọt thỏm tội nghiệp giữa thung lũng, giữa những dãy núi sừng sững. Người bạn đồng hành cùng tôi sững sờ, không nén nổi một tiếng thở dài. Đâu rồi những ý tưởng huyền thoại mỹ miều, những hình ảnh lãng mạn về một đêm lửa rừng vỗ nhịp cồng chiêng bên choé rượu cần với những sơn nữ hồn nhiên?! Chỉ còn lại nỗi u hoài mênh mông. Đón chúng tôi bên suối là những đứa trẻ xanh xao, rách rưới, những cặp mắt thao láo tò mò trước sự xuất hiện của hai người khách lạ dị tộc. Hỏi các em đôi điều chỉ được đáp lại bằng những cái lắc đầu “ơ ghít” (không biết)…

Klong Klanh, căn cứ anh dũng của hai cuộc kháng chiến là đây! Cả buôn chia làm hai nhóm quần cư với trên 80 nóc nhà, 500 nhân khẩu, tồn tại trong cái đói triền miên và những cơn sốt rét rừng hành hạ. Suốt hai cuộc kháng chiến, dù đói nghèo và gian khổ, đồng bào người Chil Klong Klanh vẫn ấp iu, sẻ chia, nuôi dấu các chiến sỹ cách mạng. Giặc lùng thì chạy vào rừng, giặc rút trở về buôn để đùm bọc bộ đội giải phóng. Chiến tranh đi qua, hiện tại cả buôn có 30 người hy sinh, nhiều người là thương binh và hầu như không ít thì nhiều, mỗi người dân Klong Klanh đều góp công làm nên chiến thắng. Trong câu chuyện với những người đồng bào bản địa, chúng tôi đã không dám bắt đầu từ huyền thoại, bởi huyền thoại đã xa. Cũng không dám nói tới niềm vui, bởi niềm vui ở nơi này là điều không có thực. Câu chuyện của mười chín năm sau ngày nước nhà thống nhất lại bắt đầu từ chiến tranh, từ những chiến công oanh liệt và những mất mát, hy sinh. Ở nhiều nơi khác, chiến tranh đã lùi vào ký ức thì với Klong Klanh, như vừa mới xảy ra hôm qua, hôm kia. Họ tự hào say sưa về quá khứ, còn một lẽ, chuyện hôm nay biết bắt đầu từ đâu và kể điều gì?! Mọi người nói thay Ha Brang rằng, anh là một chiến sỹ giao liên rất dũng cảm của thời chống Mỹ, và vợ anh, chị Ka Nhang cũng là dân công hỏa tuyến của chiến trường B3. Nhìn tấm thân nhỏ bé, tiều tuỵ của Ka Nhang, chúng tôi không ngờ chị từng là chiến sỹ của Đoàn H50 anh hùng. Bằng một chất giọng trầm buồn, Ka Nhang hồi tưởng lại quá khứ, một quá khứ sôi sục bom đạn và sặc mùi khói lửa. Ka Nhang từng được nhận huy chương kháng chiến, nói là “từng” bởi nó đã bị thất lạc từ lâu. Tám đứa con bủng beo của chị đều ngồi quây bên bếp lửa. Chúng há hốc mồm nghe mẹ kể chuyện chiến tranh như nghe cổ tích. Tôi hỏi: “Từ giải phóng đến giờ chị có nhận được chế độ trợ cấp gì không?”. Ka Nhang lắc đầu. Không những Ka Nhang, mọi người còn kể về Sơkết Ha Hùng có bố và em trai là liệt sĩ, Ksă Ha Da là thương binh…nhưng chưa có chế độ vì thất lạc hồ sơ! Ôi, những bà mẹ Klong Klanh nhịn ăn nuôi chiến sĩ giải phóng, nay mẹ đang sống ra sao? Bà Ka Lanh không nơi nương tựa, các bà Ka Yang, Ka Xai, Ka Liêng, Ka Bai, Ka Thơm, Ka Zí, Ka Zeng, Ka Yrơng lọ mọ trong những túp lều sàn đơn độc. Tuổi cuối chiều họ sống như những cái bóng của đêm trường Klong Klanh. Đó là chuyện ngày xưa, chuyện chiến tranh. Còn hiện tại ư? Với Klong K`lanh được khái quát rằng: Người dân nơi đây không có cơm ăn, quanh năm chỉ sống chính bằng hạt bắp và củ rừng. Cây bắp nảy mầm phải hứng chịu cái lạnh, sâu bệnh và sương muối. Mùa nào Yàng thương, nhà làm giỏi được năm, sáu tạ; mùa nào thất bát chỉ được vài ba chục gùi. Chuyện bệnh tật và đói ăn có thể nói quanh năm. Những gương mặt hốc hác, tiều tụy của người lớn, những tấm thân bủng beo của trẻ em nơi đây đã nói lên điều đó…
Hóa ra, trang nhật ký phóng viên của tôi còn chưa phai màu mực vừa dẫn những dòng trên đây đã trở nên lạc hậu từ lâu lắm rồi. Chỉ mười mấy năm, một sự đổi thay đáng kinh ngạc đã đến với người Chil Klong Klanh. Như lời già làng Kon să Ha Chong: “Người Chil buôn mình nay đã hết khổ rồi…”.
Đường lớn đã mở - một con đường lớn đã mở thực sự chứ không phải là một kiểu nói trừu tượng thường nghe. Con đường ấy đã đưa lối chúng tôi vào Klong Klanh hôm nay một cách dễ dàng chứ không phải mò mẫm xuyên rừng như chuyến đi của mười năm trước. Tỉnh lộ 723 dài 141 km với kinh phí đầu tư gần 400 tỷ đồng nối liền đô thị cao nguyên Đà Lạt với phố biển Nha Trang phóng tuyến xuyên qua Klong Klanh đã chính thức sử dụng. Con đường ấy với buôn làng người Chil dưới chân Bidoup như một huyền thoại, nó chính là dấu ấn chấm dứt những năm tháng hoang vu, chìm đắm giữa đại ngàn. Nhìn tuyến đường mới, chúng tôi đã bắt đầu hình dung về một tương lai tươi sáng đang dần hiện ra trên vùng đất anh hùng năm xưa. Đường lớn đã mở, rồi dòng điện cũng sẽ kéo về. Không còn cách trở nữa, Klong Klanh sẽ tổ chức sản xuất hàng hóa, sẽ trở thành một điểm du lịch lịch sử, văn hóa sắc tộc hấp dẫn mang đậm dấu ấn Tây Nguyên trong tour lữ hành từ biển lên rừng. Đó là chuyện tương lai, nhưng là một tương lai đã hiện dần ra trước mắt...
Vừa chạm mặt nhau bên cây cầu sắt nối qua suối Hungyau vào buôn, Ksă Ha Bay đã kịp nhận ra tôi là người quen cũ. Chỉ tay vào tấm biển đá bên suối, anh nói, cây cầu này do đồng bào Đà Lạt xây tặng Klong Klanh từ năm xây 2001. Anh chàng Ha Bay hồi trước rụt rè ngồi suốt đêm cùng tôi uống rượu kể chuyện buồn, hôm nay là thư ký ban hòa giải của buôn và liến thoắng khoe về cuộc đổi đời trên quê hương mình. Ngày xưa, khắp mảnh đất Klong Klanh tràn ngập cỏ tranh, lạnh buốt những đêm gió hú, nay mát mắt bởi những vườn hồng và cà phê trĩu quả. Trên đồi, những đàn bò núng nính nối đuôi nhau gặm cỏ, tiếng lục lạc nghe thật vui tai. Trưởng thôn Adas Ha San lên rẫy, tiếp chúng tôi là thôn phó Dadu Ha Krong. Những con số do thôn phó cung cấp làm chúng tôi vui lây. Anh nói về đàn bò của dự án 327 và do bạn đọc báo Sài Gòn Giải Phóng gửi tặng; về những vườn hồng và cà phê đã đến mùa thu hoạch; về những khu rừng mà người dân Klong Klanh đứng ra nhận khoán bảo vệ ở vùng đầu nguồn thuỷ điện Đa Nhim và kể tên những hộ khá giả đã nổi lên giữa vùng quê năm xưa không có ai là không nghèo đói. Trước Tết Nguyên đán, nhiều căn nhà do nhà nước hộ trợ đã kịp cất lên giúp những gia đình khó khăn nhất có mái ấm đón xuân. Điều ngạc nhiên nữa đến với chúng tôi chính là ngôi trường mới khang trang bên suối Liêngsú – Trường tiểu học Klong K`lanh. Họ, 16 chàng trai, cô gái từ nhiều vùng quê trong nước đã tụ về đây thắp lửa tri thức cho con em vùng căn cứ cũ. Mái trường bên vách núi cao hàng ngày vang tiếng hát, tiếng ê a học bài của 100 cháu mẫu giáo và 168 cháu học sinh tiểu học. Tôi đùa: “Đúng là những người gùi chữ vào buôn!”...
Cứ mỗi lần về với vùng sâu, tôi thích được trọn vẹn sống trong không gian đêm rừng, và lần này cũng vậy. Đêm ở Klong Klanh không còn hoang lạnh như ngày xưa nữa, dù bốn ngọn núi cao vây quanh thung lũng vẫn sừng sững uy nghi như chứng tích về sự biến động của mọi thời. Dù gió cao nguyên vẫn ràn rạt thổi về từ miền thẳm xa nào đó. Đường điện chưa vào đến đây, nhưng đêm nay nhiều nhà trong buôn sáng choang ánh đèn. Thấy tôi ngạc nhiên, Ksă Ha Bay giải thích: “ Thủy điện nhỏ bằng tuốcbin đặt ở dưới lòng suối đấy. Những nhà điện sáng là các gia đình kinh doanh chiếu phim video”. Thì ra là vậy. Chúng tôi cùng nhập vào buổi sinh hoạt giao lưu giữa chi đoàn buôn và chi đoàn giáo viên. Ngọn lửa thắp sáng giữa buôn, trước sân nhà trưởng thôn Adas Ha San. Sự rụt rè, xa lạ được thay bằng không khí thân thiện. Những chàng trai, cô gái Chil Klong Klanh, những cô giáo, thầy giáo người Kinh và cả ba anh chàng nhà báo chúng tôi cùng vỗ ghi ta bập bùng và hát. Những bài ca cách mạng một thời lại vang lên giữa vùng đất chiến khu oai hùng năm xưa. Thấy vui, chị Ka Bin len vào và nói rằng, rất lâu rồi hôm nay mới lại thích hát. Chất giọng của người phụ nữ Chil hơn 50 tuổi vẫn ngọt ngào và vút cao khoẻ khoắn trong bài ca “Cô gái vót chông” lay động một thời. Tiếng hát ngày xưa thắp lửa cho người đi đánh giặc, nay xúc động nao lòng nhớ về quá khứ và vững tin và ấm lòng hơn trên đường tới ngày mai. Mùa xuân dưới chân núi Bidoup thực sự đã về…
Ghi chép của UÔNG THÁI BIỂU