Bỏ qua nội dung
📖 Trang viết

Hoa đà Lạt- Du Lịch Và Vấn đề Thị Trường Tiêu Thụ

  • adminA

    **2.**Sản xuất và thương mại hoa cắt cành ở Việt Nam 2.1. Tiềm năng và hiện trạng

    Sản xuất hoa cắt cành của Việt Nam hiện nay tập trung ở xung quanh một số đô thị lớn. Xung quanh Hà Nội có trên 1000 ha, tập trung chủ yếu ở các huyện Từ Liêm, Đông Anh và huyện Mê Linh, Vĩnh Phú. Các lọai hoa cắt cành chủ yếu là hồng, cúc, đào, lay-ơn, cẩm chướng, ... Hải Phòng với trên 300 ha, cung cấp một lượng đáng kể (chủ yếu là hoa lay-ơn) cho thị trường tại chỗ, Hà Nội và một số tỉnh lân cận phía Bắc. Sapa là địa bàn có tiềm năng đối với một số hoa ưa lạnh, nhưng sản xuất còn ở quy mô nhỏ với một số hecta trồng hoa hồng. Một số tỉnh duyên hải miền Trung bắt đầu phát triển sản xuất hoa cắt cành theo hước hàng hóa, chủ yếu để phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ, với chủng lọai tương đối hạn chế. Ở phía Nam, không kể Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh có các huyện Hooc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp, Thủ Đức và các tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp là nguồn cung cấp hoa (và cây cảnh) đáng kể. Tuy nhiên, các địa bàn này chỉ sản xuất chủ yếu một số lọai hoa nhiệt đới (phong lan, cúc móng rồng, cúc đại đóa, huệ, mai, ...). Lượng hoa cắt cành truyền thống (hồng, cúc, cẩm chướng, đồng tiền, ...) sản xuất được rất hạn chế với chất lượng thấp.

    Nhìn chung, sản xuất hoa cắt cành truyền thống tại các vùng đồng bằng, cả ở phía Bắc và phía Nam, bị hạn chế rất lớn về thời vụ do điều kiện khí hậu không thích hợp. Ở phía Bắc, hầu hết các lọai hoa cắt cành truyền thống (hồng, cúc, cẩm chướng, đồng tiền, lay-ơn, ...) chỉ có thể sản xuất được với chất lượng khá trong vụ Đông –Xuân. Mùa hè nóng bức, nhiệt độ và độ ẩm quá cao là yếu tố khó có thể khắc phục của vùng đồng bằng để có thể sản xuất hoa cắt cành truyền thống đạt yêu cầu chất lượng và hiệu quả kinh tế. Khí hậu ở miền Trung và miền Nam càng ít thuận lợi hơn ngay cả trong mùa mát nhất. Sapa là cung có khí hậu mát lạnh, nhưng không ôn hòa, mùa đông qúa lạnh, mùa hè mưa quá nhiều (3000mm/năm) tạo những bất thuận lớn cho sản xuất nông nghiệp nói chung và hoa cắt cành nói riêng.

    Lâm Đồng hiện có khỏang 2200 ha sản xuất hoa cắt cành truyền thống, tập trung chủ yếu ở Đà Lạt và các huyện Lạc Dương, Đức Trọng, Đơn Dương và sản xuất mỗi năm khỏang 740 triệu cành hoa, trị giá 296 tỷ đồng (PCTTI, 2006). Riêng Đà Lạt sản xuất mỗi năm 600 triệu cành hoa trên diện tích 1400 ha. Các chủng lọai hoa chủ yếu là cúc (57%), hồng (15%), lay-ơn (15%), đồng tiền (3%), cẩm chứơng (2%), địa lan (1%) (ước tính diện tích).

    Với nhiệt độ trung bình ban ngày 25oC, nhiệt độ ban đêm hiếm khi xuống quá 10oC, Đà Lạt và vùng ven có điều kiện lý tưởng cho sản xuất thâm canh quanh năm các lọai hoa cắt cành ôn đới truyền thống. Khỏang cách gần với thành phố Hồ Chí Minh, sự thuận thiện về vận tại đường bộ và hàng không là thuận lợi lớn để hoa Đà Lạt có thể đền được các thị trường trong nước và quốc tế. Các yếu tố thuận lợi đó cùng với giá lao động rẻ hiện nay tạo cho Lâm Đồng những lợi thế so sánh rất đáng kể so với những vùng sản xuất hoa khác ở Đông và Đông Nam Á kề cả người khổng lồ Vân Nam, Trung Quốc. Vì vậy, nhiều nhà đầu tư nước ngòai đã thành lập các trang trại trồng hoa tại Đà Lạt. Hasfarm, Bonnie Farm và Florama là những công ty lớn đã gặt hái nhiều thành công.

    Trong những năm qua, do có khá nhiều nông dân chuyển từ sản xuất rau sang sản xuất hoa, cung có xu hướng vượt cầu, làm cho giá hoa và thu nhập của người trồng hoa suy giảm đáng kể. Xuất khẩu hoa trở thành một nguyện vọng, một mục tiêu bức súc của những người trồng hoa và thu hút được nhiều sự quan tâm của Nhà nước và đầu tư của các doanh nghiệp. Đã có nhiều cố gắng nhằm cải thiện trình độ công nghệ, quảng bá hình ảnh của ngành hàng hoa Đà lạt, xây dựng thương hiệu và thử nghiệm xuất khẩu, nhưng cho đến nay, ngòai một số doanh nghiệp nước ngòai có sẵn vốn, công nghệ và thị trường, vẫn chưa có kênh xuất khẩu chính thức nào thực sự thành công đáng kể. Trên 95 % sản lượng hoa Đà lạt vẫn được tiêu thụ trong nước. Chỉ khỏang 5 % lượng hoa được xuất chính thức thông qua các công ty có 100% vốn đầu tư nước ngoài, chủ yếu là Hasfarm, công ty lớn nhất đảm đương 95 % lượng hoa xuất khẩu của cả nước năm 2006 (BTM, 2007), đạt kim ngạch 8,179 triệu USD, gấp 3,36 lần năm 2000 (PCTTI, 2006).

    **2.2.****Những vấn đề **
    ### Kết quả từ một số nghiên cứu gần đây (Poulish et al., 2003; P. X. Tùng et al., 2004) cho thấy i) còn thiếu nhận thức tốt về yêu cầu chất lượng trong tất cà các khâu trong dây chuyền cung ứng, ii) hầu hết những người trồng hoa còn thiếu kỹ năng cần thiết để sản xuất những cành hoa có chất lượng cao thực sự, iii) rất ít người sản xuất có khả năng đầu tư công nghệ cần thiết, iv) thiếu năng lực bảo quản, vận chuyển lạnh, v) rất ít người sản xuất, kinh doanh hoa áp dụng kỹ thuật xử lý sau thu họach, vi) hầu hết người sản xuất hoa có hiều biết tốt về thị trường và, vii) thiếu thông tin ngành hàng nagy tại các cơ quan chức năng của Nhà nước để hỗ trợ lập kế họach và tiếp thị. ###

    Trong những năm gần đây, một số doanh nghiệp tư nhân đã rất có gắng đề tiếp cận thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, xuất khẩu vẫn là vấn đề khó tiếp cận đối với hầu hết các doanh nghiệp này và cũng chưa có doanh nghiệp nào thực sự thành công như những nhà xuất khẩu chính ngạch ổn định và vững vàng. Trong rất nhiều nguyên nhân kỹ thuật và xã hội, thiếu giống hoa thích hợp với thị trường đối tác, thiếu công nghệ sản xuất thích hợp, thiếu quy trình kiểm sóat chất lượng thích hợp, thiếu điều kiện xử lý, bảo quản và thiếu nguồn cung ứng hoa là những nguyên nhân cơ bản nhất (Poulish et al., 2003; P. X. Tùng, 2004 và P. X. Tùng et al., 2004).

    Từ những kết quả nghiên cứu, những vấn đề hạn chế xuất khẩu có tính chiến lược của ngành hàng hoa Việt Nam được xác định là:

    i.### Thiếu hệ thống tiếp thị hợp tác;###

    ii.### Thiếu cơ sở hạ tầng hỗ trợ (kho vận lạnh, kho bãi xử lý hoa, giao thông nội vùng);###

    iii.### Thiếu những người sản xuất (nông hộ hoặc doanh nghiệp) có năng lực xuất khẩu (bao gồm thiếu hiểu biết thị trường và quan hệ với thị trường xuất khẩu, chất lượng hoa thấp, thiếu chiến lược quan lý kinh doanh và sản xuất nhỏ lẻ, không đủ nguồn cung ứng hoa).

    **3.**Thay cho lời kết
    ### Thị trường hoa cắt cành thế giới là một thị trường năng động, mang tính cạnh tranh găy gắt nhưng cũng là thị trường rộng mở và có khuynh hướng phát triển mạnh trong những thập kỷ tới. Sản xuất hoa cắt cành có xu hướng dịch chuyển về phía các nước đang phát triển để tận dụng các lợi thế cạnh tranh từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực rẻ và các chính sách ưu đãi đầu tư. Các nước đang phát triển, mặc dù chỉ chia sẻ một phần nhỏ thị trường hoa thế giới, nhưng với những lợi thế cạnh tranh của mình đang dần trở thành những nhà cung cấp và xuất khẩu hoa có vai vế trên thị trường quốc tế. ###

    Việt Nam có nhiều lợi thế so sánh để có thể trở thành một nước sản xuất và xuất khẩu hoa có tẩm cỡ trong khu vực và trên thế giới. Nhờ có điều kiện đặc biệt thuận lợi về khí hậu, đất đai, Lâm Đồng nói chung và Đà Lạt nói riêng có tiềm năng lớn để trở thành trung tâm sản xuất và xuất khẩu hoa cắt cành của cả nước. Sản xuất quanh năm với chất lượng hoa tốt là một lợi thế cạnh tranh lớn cần được khai thác. Hoện trạng sản xuất và tiêu thụ hao cắt cành của Đà Lạt, lâm Đồng cho thấy để có thể phát triển một ngành hàng hoa cắt cành phục vụ xuất khẩu cần có những thay đổi phù hợp về chính sách đầu tư phát triển ngành hàng như như ITC (2001) khuyến cáo nhằm phát triển tòan diện cả hệ thống các dịch vụ hỗ trợ cho sản xuất, kinh doanh hoa cắt cành. Sự phát triển vượt bậc của ngành hàng hoa Vân Nam, Trung Quốc là một mô hình cần nghiên cứu, học tập.

  • adminA

    Tài liệu tham khảo

    ### GANDIFOcenter (Guangxi Agriculture Information Center), 2006. Beijing becomes ### the consumer market of largest flowers. ### **http://www.Gxny.gov.cn**
    

    ITC (International Trade Center), UNCTAD/WTO, 2001a. Product profile: Cut flower & Foliage. Business sector round table discussion document. Third UN Conference on the Least Development Countries, Brussel, 16 May 2001.

    ITC (International Trade Center), UNCTAD/WTO, 2001b. Cut Flowers in Yunnan Province of China - ITC experience in technical cooperation for export diversification. ### Regional Workshop on Commodity Export Diversification and Poverty Reduction in South and South-East Asia (Bangkok, 3-5 April, 2001). ### Organized by ### UNCTAD### in cooperation with ### ESCAP.###

    ITC (International Trade Center), UNCTAD/WTO, 2006. Market News Service (MNS) No 2/2006 - Cut flowers and plants: European and Asian Markets.

    ITC (International Trade Center), UNCTAD/WTO, 2004. From China, saying it with flowers. Press Release No 219, 22 April 2004, Geneva.

    FCH (Flower Council of Holland), 2006. Flower consumption in the US. http://www.flowercouncil.org/us/marketinformation/)###

    Nishimura, K. K., 2007. Flower import on the rise in Japan. IFEX special report. http://www.ifex-jp/english###

    AIC (Agribusiness Information Centre), 2006. Indian Floriculture Industry Present Status & Scope. Federation of Indian Chambers of Commerce & Industry (FICCI). ### http://www.ficciagroindia.com/###

    JETRO (Japan External Trade Organzation), 2001. Japanese Market Report No58 (Ag-83)- Cut Flowers.

    RIRDC (Rural Industries Research & Development Corporaion), 1999. A stuty of the Taiwan flower market. RIRDC publication No 99/40, 1999.

    EC (European Commission), 2005. Commission staff on the situation of the flowers and ornamental plants sector, Working document. Directorate General for Agriculture and Rural Development. ###

    DFAA (Dutch Flower Auction Association), 2004. Annual Report 2004. ### http://www.vbn.nl/###

    USDA (United State Department of Agriculture), 2004. Economic Research Service, Briefing Room- Floriculture crops: Trade. 2004.###

    Batt, P., 2000. Strategic lessons to emmerge from an analysis of selected flower export nations. J. Internat. Food & Agribusiness Marketing, No. 11(3).

    De Groot, 1998. Floriculture worldwide – Trade and consumption patterns. Proc. World Conference on Horticultural Research, 17-20 June 1998, Rome, Italy.###

    Costa, J. M., N. Borden và A. Vander Ploeg, 2004. ornamental production in China. FlowerTech 2004, vol. 7/No 3, p 18-21.

    Evans, A., 2007. Flower austions around the world. Floraculture International Online, Nay 2007 issue.

    TT TM-DL-ĐT (Trung tâm Hỗ trợ Thương mại, Du Lịch và Đầu tư Lâm Đồng), 2006. Báo cáo tổng quan tình hình sản xuất chè, rau và hoa, tháng 11/2006.###

    Yunnan KeYi flower Co., Ltd, 2007.### Development Planning For Yunnan Flower Industry### . ### http://www.kmflower.com.cn.

  • adminA

    xem ra ban la nguoi kha am hieu ve cay hoa o Da lat. toi co doc qua bai viet Hoa lili cua ban rat chuyen nghiep. ban co tim hieu ve cay Cuc khong, dac biet la cuc chum ay. Toi cung dang muon tim hieu nhung kho tim tai lieu qua.

Chia sẻ
Đang online
Hết trang — Đà Lạt Hoa
Nhật ký cộng đồng · Powered by NodeBB