KTĐT - Hễ đi chơi đâu trong hay ngoài nước, tôi cứ thích la cà với người bản xứ để hiểu thêm về địa danh mình đến. Vì thế tôi mới biết được một cái tên rất xưa Đạ Lạch.
Lần ấy, tôi đang đi bên bờ hồ Tuyền Lâm, thấy một ông lão đầu râu tóc bạc, mặc bộ bà ba nâu, đầu lại chít một cái khăn nâu trông có vẻ rất ngoan đạo ngồi trầm ngâm trên ghế đá. Tôi ghé lại bắt chuyện:
-
Chào cụ, cháu từ ngoài Bắc vào, chả biết gì về thành phố này. Ngay cả cái tên của nó, tưởng ít nhiều liên quan đến người đã khai sinh ra nó, cũng rất xa nhau. Cụ có thể kể cho cháu nghe về thành phố này được không ạ?
-
Nếu kể cũng chỉ là nhắc lại những lời đã nhập tâm của người đi trước chứ chả phải do học hành, đọc sách mà có nên tôi không dám chắc chính xác là bao nhiêu.
-
Cháu thích nghe những lời truyền miệng như thế.
-
Ngày xưa, nơi đây là vùng đất đồi núi nhấp nhô, dân cư thưa thớt chỉ có một tộc rất ít người là K’Ho. Họ gọi đây là Đạ Lạch. Theo tiếng K’Ho có nghĩa là Đất rừng thưa. Họ gọi thế cho đúng với nhận xét của mình về vùng đất này. Từ đây, người quanh vùng cứ gọi chệch mãi đi thành Đà Lạt.
Nghe ông cụ giải thích về tên Đà Lạt như thế, thật hư như thế nào, tôi không dám nói nhưng tôi đã rất cảm tình nên nhớ được ngay. Thực ra, cũng đã đôi lần nghe giải thích về cái tên Đà Lạt, nhưng cách giải thích của cụ này tôi thấy tin hơn cả. Tôi nghĩ chỉ một lần được nghe người bản xứ nói về cái tên ấy cũng bõ công đi Đà Lạt lắm rồi. Tôi lại hỏi thêm, còn cái tên Đà Lạt với ông Yersin?
Cái tên Đà Lạt với cái tên Yersin nói cho cùng chả có liên quan gì với nhau cả nhưng công lao của ông với thành phố này, bao giờ người dân nơi đây cũng đánh giá ông là người có công đầu. Chuyện kể về công của ông như thế này: Hồi ấy viên toàn quyền người Pháp (ông cụ nhắc cả tên người bằng tiếng Pháp ) có ý tìm một địa điểm làm nơi nghỉ mát cho người châu Âu, người Pháp, nhất là cho binh lính Pháp. Biết ông Yersin đã đến Đạ Lạch, viên Toàn quyền viết thư cho ông. Yersin đã trả lời bằng sự nhớ lại của mình cùng đoàn thám hiểm khi đặt chân tới đây. “Nơi có rừng thông bạt ngàn, khí hậu rất dễ chịu như miền ôn đới châu Âu, lại có ngọn núi LangBian sừng sững phía sau, làm cho cảnh quan thật tuyệt mĩ”. Rồi Yersin đề xuất với viên Toàn quyền nên chọn Đạ Lạch. Thế là cái tên Đà Lạt gắn với địa danh nghỉ mát. Ngay sau đề xuất của Yersin, viên Toàn quyền bắt đầu cho mở mang, xây dựng nơi đây. Biệt thự, nhà bưu điện, ngân hàng…thi nhau mọc lên. Đường sá mở rộng trong vùng và nối liền với các tỉnh trong Nam ngoài Bắc. Cũng phải nói thật rằng, Đà Lạt dù có hàng ngàn biệt thự, phần lớn cũng là của người Pháp. Sau này thời Mỹ ngụy cũng thế. Đà Lạt là của người Mỹ và tướng tá Ngụy. Người Đà Lạt mình đâu có gì. Cứ thứ bảy, chủ nhật, Đà Lạt như hội, xe con nườm nượp từ Sài Gòn ra! Nhưng tất cả sự ăn chơi xa hoa của chúng cũng bị làn sóng cách mạng cuốn đi. Duy tội ác của chúng thì vẫn còn đó.
Cụ chỉ tay ra phía xa xa nói tiếp. Bác nhìn lên quả đồi kia, đấy là đồi Chi Lăng. Bác nhìn kỹ đi, sẽ thấy trên ngọn đồi có một cái nhà khá kiên cô, đó là “Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt”. Nhà lao này, đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa dựng lên từ năm 1971 để giam cầm và chia cắt các chiến sĩ nhỏ tuổi với phong trào cách mạng. Nhà lao ấy lại được mang một cái tên hết sức mỹ miều “Trung tâm giáo huấn thiếu nhi Đà Lạt”. Thực chất là nơi giam giữ và tra tấn các chiến sĩ nhỏ tuổi của chúng ta. Nhưng chúng lại quên mất rằng, lập ra nhà lao ấy để đàn áp phong trào cách mạng thì lại là nơi lưu giữ một nét đẹp truyền thống của dân tộc ta: Lòng yêu nước và một nét đẹp của Đà Lạt: Lòng trung kiên với cách mạng.
Ông cụ dừng lại, mắt chớp chớp hồi tưởng… Tôi vội rút bao thuốc Vina mời cụ. Cụ xua tay “Tôi không quen dùng loại này”. Rồi cụ lấy trong túi áo bà ba của mình ra một gói ni lông nhỏ có cả thuốc và giấy. Cụ cuộn một điếu hình sâu kèn ngậm sâu vào miệng cho ướt điếu thuốc và bật lửa, hút:
- Khi tới Đà Lạt cháu cứ tưởng mình sẽ đi trong biển hoa. Nhưng cháu thấy chả có mấy hoa.
- Ấy, bác chưa vào đất trồng hoa, hay chợ hoa thì làm sao biết được. Trời đã sinh ra Đà Lạt cốt là để cho trăm hoa khoe sắc, ngàn trái đưa hương. Tí nữa tôi sẽ chỉ đường cho bác qua làng hoa, bác sẽ thấy. Chỉ riêng hoa cúc đã có 40 loại, hoa hồng có 15 loại, địa lan có 300 loại, lan rừng có 300 loại… Hoa Đà Lạt xuất sang nhiều nước trên thế giới, sao lại chả thấy hoa đâu.
Nhưng ấn tượng của tôi về Đà Lạt không phải chỉ có hoa mà còn có cây mimosa vàng tha thướt, yêu kiều quanh các biệt thự, đấy mới là đặc trưng của Đà Lạt. Một lần tôi đến khách sạn Sofitel Metropole Hà Nội, thấy trong tu bầy trái cây có quả dâu tây và quả atiso (một thời nó là loại quả quí tộc vì rất đắt), tôi hỏi chị đứng cạnh tủ “Quả này mình nhập ở nước nào hả chị?” “Ở Đà Lạt bác ạ”. Chị trả lời tôi thế. Nghĩa là, Đà Lạt còn có nhiều loại quả rất ngon. Cho nên, sẽ là thiếu sót khi nhắc đến Đà Lạt mà không nhắc đến những loại quả…
Chưa đến Đà Lạt, tôi cứ nghĩ Đà Lạt là thành phố bốn mùa hoa. Nhưng đến rồi thì thấy Đà Lạt còn là một điểm nhấn du lịch của nước ta. Nơi đây có núi, có rừng, có thác, có suối, có nơi đi săn, còn được cưỡi voi… Đà Lạt lúc nào cũng giơ tay vẫy chào, đón đợi.
Trần Văn Huyên