NGÀNH TRỒNG HOA THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
Nguyễn Thuý Đại
Phòng Công Nông Nghiệp & PTNT
Nước ta đang thời kỳ đổi mới công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, xây dựng và tiến đến một nước Việt Nam dân giàu nước mạnh,hoà nhập cùng sự phát triển của thế giới. Với mục tiêu phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hoá gắn với chế biến và xuất khẩu,trong 5 năm tới ngành nông nghiệp trồng rau hoa Đà Lạt giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội. Ngành trồng hoa sẽ trở thành kinh tế mũi nhọn trong nông nghiệp với những tiềm năng vốn có, phục vụ du lịch nghỉ dưỡng và xuất khẩu.
I-THỰC TRẠNG NGÀNH TRỒNG HOA THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
Việt Nam hoa được trồng từ lâu đời tập trung các vùng trồng hoa truyền thống, diện tích trồng hoa nhìn chung chiếm rất nhỏ 0,5% trên tổng diện tích đất trồng trọt cả nước.
Riêng thành phố Đà Lạt, từ năm 1930, người Pháp đưa giống hoa mới có nguồn gốc ôn đới trồng thử tại Đà Lạt, lập những làng hoa đẹp như Thái Phiên, Hà Đông, Đa Thiện, dọc suối Phan Đình Phùng, Cầu Đất… Trước đây nghề trồng hoa Đà Lạt mang tính tự phát, manh mún, tập quán lạc hậu và thiếu vốn đầu tư nên giống ngày càng thoái hoá dần. Qua thời kỳ mở cửa từ năm 1990 trở lại đây, các công ty nước ngoài, nông dân, tư thương, trang trại hoa đã nhập và đầu tư các giống mới từ hạt giống, củ giống, nhân nuôi cấy mô lai tạo giống mới nên nghề trồng hoa khá ổn định và phát triển.
- Tình hình sản xuất nghề trồng hoa
a/ Giống cây con: Người sản xuất tự làm cây giống theo kỹ thuật truyền thống như hoa hồng bằng cách trồng hồng dại, sau đó ghép các giống lai theo ý thích. Hoa cúc, cẩm chướng làm giống cây con từ cấy mô, tách, chiết, giâm ngọn từ gốc mẹ, Glaieul gieo từ hạt, trồng củ…một số ít làm giống cây con từ cấy mô. Đà Lạt là nơi có khí hậu lý tưởng nhưng lượng mưa và ánh nắng hơi cao so với ngưỡng cần của hoa hồng và một số hoa ôn đới khác nên cần phải có nhà che Plastic để đạt hiệu quả cao. Hiện nay có hơn 200 ha nhà che trồng hoa.
Dinh dưỡng khoáng: các hộ sản xuất hiện nay trên địa bàn đa số bón phân khác nhau như phân đơn chất, hỗn hợp, phức hợp… và hàm lượng NPK cũng khác nhau, chưa theo một quy trình chuẩn thích hợp cho mỗi loài hoa.
Bảo vệ thực vật : Hoa rất mẫn cảm với nấm, bệnh, điều kiện ẩm ướt mưa dầm, do đó đòi hỏi nông dân phải biết tổng hợp các biện pháp hài hoà linh động, không rẫp khuôn bắt chước, biết sử dụng thuốc đúng liều lượng, đúng bệnh để tránh thất thu.
b/ Chủng loại: hiện nay rất đa dạng, phong phú, đẹp bền. Cụ thể:
-
Hoa cúc: ( Chrysanthemum Sp).
Có trên 40 loại: cúc Tiger, nút, PinhPong, tổ ong, cánh mai, vạn thọ, vàng tím,… nguồn gốc Indonesia. Chủ yếu chia làm 3 nhóm:
Cúc đại đoá: màu vàng anh, trắng, tím, hoa đơn, 5-7cm, cánh kép, hoa chùm 4 -5cm, cánh kép.
Cúc giống nhỏ: hoa có 1-2 lớp cánh, hoa 2-5 cm, nhiều màu: vàng, đỏ, tímm trắng, cam, nâu…
Cúc nhóm tia có muỗng và không có muỗng: hoa 4 -5cm, cánh kép. -
Hoa hồng: (Rosa Sp)
Trên 15 loại như hồng phấn, xanh dâu, đỏ Ý, Hà Lan… Gốc Holland, Ý.
Đỏ Hà Lan: đỏ thẫm, hoa to, cành thẳng, bền thơm, sinh trưởng, phát triển tốt, khả năng kháng bệnh cao. Nhược điểm: hay bị biến dạng khi cường độ nhiệt khá cao, mẫn cảm với nhện đỏ.
Đỏ Ý: hoa to, màu đỏ nhung vừa, thơm nhẹ, cành to, thẳng, sinh trưởng tốt, kháng bệnh trung bình. Nhược điểm: nở hổn, kháng mốc sương kém.
Xanh dâu: hoa màu xanh lá mạ bên ngoài, trong màu hồng quý phái, sinh trưởng tốt, hoa to, cành thẳng… -
Cẩm chướng: ( Dianthus Caryophyllus) 14 loại, nhiều màu đặc trưng.
Hoa chùm: đỏ, trắng, kem, hồng, vàng, viền ren… Hoa nhỏ, cnàh thấp 30 - 40cm, mắc nhặc.
Hoa đơn: đỏ đa số, hoa lớn, cành cao 70 - 80cm, mắc thưa, ít chồi … -
Lay-ơn: ( Giadious communis) có nguồn gốc từ France. Hoa thường trồng bằng củ, gieo hạt, cành cao 1-1,2m, màu vàng, đỏ Bordeux, hồng, trắng…
-
Lọai khác: Lys (Lilium Longiphorum), Arum (Limonium), Shera (Gerbera), ngàn sao (Gipshophilia baby), chuổi cúc (Liatrix),salem, huệ trắng, Magarret, Agapan…
c/ Diện tích:
Diện tích trồng hoa cũng tăng dần qua các năm. Năm 1988 diện tích trồng hoa Đà Lạt có 45 ha, năm 1994 đạt 55 ha, năm 1998 có 120 ha. Năm 2002 có 252 ha, với diện tích gieo trồng là 590 ha.
Trên địa bàn thành phố Đà Lạt, hiện nay hoa cúc chiếm gần 50% diện tích trồng hoa 127 ha, hoa Glaieul 30ha (11,8%), hoa hồng 38 ha (15%), đồng tiền, cẩm chướng 9,4 ha (3,7%), lys, lyly 5,7 ha (2,3%). Các loại khác 43,7 ha (17,2%)
d/ Sản lượng: Sản lượng thu hoạch các loài hoa qua số liệu điều tra các năm 1995 - 2002
Stt Năm Diện tích (ha) Sản lượng cành (1000)
1 1995 90 83.000
2 1996 103 97.738
3 1997 110 100.060
4 1998 120 108.520
5 1999 168,8 125.794
6 2000 182 148.890
7 2001 210 175.000
8 2002 252,8 195.600
Ngoài ra, hằng năm còn cắt các loại địa lan Cybidium (Trắng bệnh, xanh chiểu, tím nghĩa, hồng môn…) tiêu thụ gần 100.000 cành. Hoa trong chậu như hoa hồng, phong lan, thiên điểu, đỗ quyên, trà my, loại hoa chậu khác… ước 120.000 chậu. Mỗi loài hoa trồng mật độ, thời gian trồng, thời gian thu hoạch khác nhau trên cùng một diện tích 1000m2 được tính như sau:
Bảng sản lượng thu hoạch của các loại hoaLoại hoa Diện tích
M2 Mật độ Thời gian
Trồng Thu hoạch Trồng Thu hoạch
Cúc lưới nhện 1000 30.000 cây 55.000 cành 6 tháng 2 tháng
Hoa hồng ‘’ 6.000 gốc 60.000 bông 60.000 cành 5-8 năm
Glaieul ‘’ 30,000 củ 25.000 -45.000 bông 2,5 tháng 1 tháng
Cẩm chướng
Shera ‘’ 25.000 cây 50.000 bông 7 tháng 2 tháng
Lys, huệ ‘’ 15.000 cây 30.000 -40.000 cành 6 tháng 1 tháng
Salem, Cúc Việt Nam ‘’ 50.000 cây 65.000 cành 3 tháng 2 tháng
Sản lượng hoa Đà Lạt trồng quanh năm với các chủng loại thích nghi được do khí hậu ưu đãi nên sản lượng rất cao. Yếu tố môi trường tác động đến thời kỳ ra hoa, chất lượng, số lượng hoa rất rõ rệt. Tuy nhiên, trong mùa mưa cây hoa dễ bị nấm bệnh, thối nhũn, hàng loạt làm sản lượng có thấp hơn
2/ Tình hình tiêu thụ hoa và hiệu quả kinh tế
a/ Tình hình tiêu thụ
Hàng ngày hoa các loại chở đi các tỉnh Nha Trang, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Đắc Lắc, Hà Nội 400.000 - 500.000 cành/ ngày, chủ yếu là hoa hồng, cúc, glaieiul, cẩm chướng và các giống mới khác. Thị trường Tp Hồ Chí Minh tiêu thụ hoa lớn nhất nước, tiêu chuẩn hoa bình dân, Hà Nội yêu cầu chất lượng cao hơn (gần như tiêu chuẩn xuất khẩu) về độ bền, màu sắc, hoa to… Số lượng tiêu thu tại chỗ cho các gia đình, khách du lịch tại thành phố Đà Lạt bình quân 10.000 - 15.000 cành/ ngày.
Một số giống mới trồng tại Đà Lạt xuất khẩu chủ yếu các nước Đài Loan, Mỹ, Nhật, Singapore, Cambodia, Uc, Indô, Italia, Saudia, Arabi… với số lượng bình quân 15 triệu cành.
Ngoài cành hoa ra, các giống cây mô, lai vô tính (vẫy, móng, mắt) cây lai hữu tính (hạt) cũng được nhiều người sản xuất tại thành phố, huyện tiêu thụ rất cao. Sản lượng hoa Đà Lạt sản xuất hàng năm chưa đạt tiêu chuẩn, chưa đáp ứng ý thích, thị hiếu người tiêu dùng nên phải nhập một số lượng hoa, tiêu thụ tại Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội qua cửa khẩu Nội Bài - Tân Sơn Nhất của các nước Thailand, Singapore, China… Giá hoa năm 2000 nhập vào rất cao so với hoa Việt Nam ( địa lan Thailand: 60.000đ/ cành, hồng Thailand: 10.000đ/ cành) Nội Bài: Nhập trung bình 1 tấn/ ngày. Tân Sơn Nhất: nhập trung bình 2,5 tấn/ ngày.
Giá hoa nội và ngoại tại Hà Nội
( Thời điểm lễ: 8/3;14/2; Noel; Tết…)
Hoa nội Giá (đ/bông) Hoa ngoại Giá (đ/ bông)
Hồng Đà Lạt 5.000đ/ bông Hồng Hà Lan 10.000đ/ bông
Hồng Hà Nội 2.000đ/ bông Địa lan Thái 60.000đ/ bông
Cúc 2.000đ/ bông Cúc 7.000đ/ cành
Glaeiul 1.500đ/ bông Tulip 14.000đ/ cành
Hồng môn 3.000đ/ bông Glaieul 3.000đ/ cành
Tình hình tiêu thụ xuất khẩu và nội địa qua các năm
Mặt hàng 1999 2000 2001 Tên hoa
Hoa (cành)
- Nội địa
141.278.000
162.500.000
180.230.000 Cúc, hồng, Cybidium, cẩm chướng, Glaieul - Xuất khẩu 11.207.000 13.360.000 15.267.800 Lyli, loại khác
Ở Thailand xuất khẩu hoa cắt cành 28 triệu USD/ năm. Đà Lạt nếu đầu tư mở rộng sản xuất và xuất khẩu được là tiềm năng lớn mang giá trị kinh tế rất cao. Giá trị xuất khẩu năm 2000: 2.680.900 USD, năm 2001: 2.880.617 USD, ước 2002: 3.100.000 USD.
Việc tiêu thụ hoa nhiều hay ít phụ thuộc vào thời gian cắm, màu sắc, độ bền, cành thẳng, đẹp, giá vừa phải của mỗi loài hoa. Do đó, nên xác định thu hoạch vào thời điểm sáng sớm hoặc chiều mát, cắt cành nên đưa vào dung dịch giữ hoa như sau: 200 g/lít Su + 400mg/lít/ 1HQS (hoa hồng)
50g/lít Su + 600 mg/ l AgNO3 (hoa cúc).
50g/lít Su + 3 mg/ l Physin (Cẩm chướng)
Dùng các dung dịch axít Citríc, dung dịch đường, STS, thuốc tẩu, chất điều hoa sinh trưởng.
Khâu bảo quản chú ý thời gian thu hái, cách thức thu hái, nhiệt độ lạnh, ánh sáng, phản ứng hoa với Ethylen.
Hiện nay công tác quản lý giống, quy trình kỹ thuật trồng hoa chưa được quan tâm đúng mức, khoa học kỹ thuật còn hạn chế nên sản phẩm không đồng đều chưa đủ về mặt chất lượng, số lượng xuất khẩu. Giá cả hiện nay không ổn định, thiếu thông tin thị trường, sản phẩm không theo hợp đồng, lúc thừa, lúc thiếu, tạo sự mất cân đối” hoa đắt thì chăm, hoa rẻ thì bỏ mặc”.
b/ Hiệu quả kinh tế:
Với trình độ dân trí cao, nhanh nhạy nắm bắt những kiến thức khoa học kỹ thuật, phương pháp sản xuất mới, lòng yêu nghề, kinh nghiệm là sự phát triển tốt cho ngành hoa phát triển mạnh, tạo công ăn việc làm ổn định cho hàng chục ngàn người. Với đội ngũ có được và những thành tích đạt được là cơ sở để Đà Lạt trong một tương lai không xa sẽ sản xuất loài hoa đẹp, chất lượng cao và là vùng trồng hoa lớn nhất cả nước - đáp ứng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước.
Ngành trồng hoa là ngành kinh tế có nhiều tiềm năng, gia tăng kim ngạchđáng kể của thành phố Đà Lạt. Thu nhập trồng hoa gấp3-4 lần trồng rau. Số hộ trồng hoa lan, cây cành trên địa bàn có khoảng 4.000 hộ, (hộ trồng chuyên hoa, hộ xen rau, cây công nghiệp, ăn quả). Ước giá trị sản lượng trong năm 98 tỷ đồng
II-ĐỊNH HƯỚNG NGÀNH TRỒNG HOA THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ HIỆN ĐẠI HOÁ:
1/ Thuận lợi - khó khăn:
a/ Thuận lợi:
-Khí hậu thích hợp, lý tưởng phát triển ngành trồng hoa, có nguồn cây hoa quý, phong phú để phát triển các loại hoa mới bằng thí nghiệm lai tạo. - Môi trường sinh thái sạch tốt, hoa phát triển quanh năm cho việc phát triển hoa có nguồn gốc ôn đới - bán ôn đới.
- Nông dân có truyền thống kinh nghiệm trồng hoa, biết tiếp thu kinh nghiệm với cái mới, chịu khó học hỏi, cần cù, thông minh.
- Có các Trung tâm sinh hoạt động nghiên cứu về các giống hoa hoang dại và thử nghiệm trồng hoa laọi nhập mới.
b/ Khó khăn: - Giống địa phương từ lâu đã bị thoái hoá cho sản lượng thấp, hoa cong, nhỏ, nhanh tàn… còn giống mới trồng tại Đà Lạt chưa được thuần hoá nên khả năng kháng bệnh thấp, dễ nhiễm sâu bệnh.
- Vốn đầu tư canh tác theo mô hình mới còn nhiều hạn chế, chưa chủ động đầu tư giống, phương tiện sản xuất, đào tạo lao động kỹ thuật…
- Giá cả còn bấp bênh chưa hợp lý giữa cung và cầu, Nhà nước thiếu quan tâm trong việc điều tiết, định hướng ban đầu, việc sản xuất chạy theo lợi nhuận làm mất giống, mất công, mất tiền.
Ví dụ: Hoa lan Paph-Delenaitii giá thị trường thế giới 50-60 USD/ chậu còn thị trường Đà Lạt 4USD/ chậu làm thiệt hại bao nguồn gen quý hiếm.
2/ Định hướng phát triển ngành trồng hoa:
a/ Mục tiêu phát triển:
- Phát triển xây dựng Đà Lạt - thành phố du lịch, nghĩ dưỡng, thành phố hoa: Vững mạnh về kinh tế, an ninh xã hội, nông nghiệp để phát triển dạng sinh thái bền vững theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá ngành.
- Khai thác thế mạnh vùng sản xuất hoa, hoa lan, cây cảnh xuất khẩu chủ yếu các phường 4,5,7,8,9,10,11,12, Xuân Thọ, Xuân Trường.
- Phát triển vùng kinh tế nhiều thành phần gắn sản xuất hàng hoávới thị trường xuất khẩu. Chuyển dịch cơ cấu giống hoa ngày càng phù hợp với thị hiếu thị trường trong và ngoài nước.
- Đầu tư trồng hoa theo khoa học công nghệ trong sinh học, nông học, tăng diện tích hiện có vào năm 2010 đạt 800ha.
b/ Khoa học kỹ thuật: là cơ sở để sản xuất các loại hoa đẹp, chất lượng và số lượng cao.
- Giống: Yếu tố quyết định đến năng suất cây trồng, cán bộ kỹ thuật trong phòng thí nghiện lưu giữ các loại gen quý hiếm, trẻ hía các giống hoa cũ mà thị trường ưa thích. Xác định và nhập nội nuôi trồng khảo nghiệm các giống mới. Nhân giống theo phương pháp:
- Hữu tính: hay bị phân ly theo sản phẩm, ít có độđồng đều (hạt).
- Vô tính: hay bị thái hoá, dễ nhiễm virus (tỉa, đâm chồi từ mẹ)
Tốt nhất nân giống vô tính bằng phương pháp cấy mô
- Ứng dụng khoa học kỹ thuật: Thực hiện chương trình nghiên cứu KHKT nhằm tìm ra quy trình canh tác tối ưu.
+Nhiệt độ: tác động mạnh mẽ đến quy trình quang hợp, hô hấp, hấp thụ các chất dinh dưỡng đất của cây. Đà Lạt có khí hậu tốt, rất thích hợp cho sự sinh trưởng phát triển cây hoa, hoa hầu như có quanh năm.
+Độ ẩm không khí: ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sinh lý của cây, độ ẩm thấp làm cây mất nước cao, độ ẩm cao nhất là mùa mưa dầm cây phát triển nấm, bệnh hàng loạt khó chữa.
+Anh sáng: Anh hưởng lớn đến sự tăng trưởng ra hoa của cây, tuỳ những chủng loại mà yêu cầu cường độ ánh sáng khác nhau.
+Đất trồng: ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và ra hoa của cây, tốt nhất là pH = 6,7. Khi pH trong đất thấp hoặc cao quá làm dinh dưỡng trong đất chuyển sang dạng khó tiêu, cây không hấp thụ được.
+Phân bón: nhu cầu trồng hoa đòi hỏi phân rất cao không thể thiếu được
Đạm (N): cây xanh tươi tốt, hoa nhiều, màu đậm…
Lân (P2O5): tạo bộ rễ phát triển tốt, có màu sắc đẹp, hoa to, nở sớm…
Kali (K2O): tăng khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, chống chịu hạn rét…
Hoa cũng cần một số vi lượng như B, Mg, Fe, Mn, Cu, Ni, Co…
- Bảo vệ thực vật:
Bệnh hại cây hoa: nguyên nhân gây bệnh là do các vi sinh vật:
- Virus: cây bị thái hoá, lây truyền từ côn trùng, chiết, tách, giâm…
- Mycoplasma: cây còi cọc, chậm phát triển, lùn…
- Vi khuẩn: thâm nhập cây trồng thông quan lỗ khí khổng, tổn thươg cơ học, làm cho cây héo rũ, u sưng, thối nhủng.
- Xạ khuẩn, nấm: cây hàng loạt thay lá vào mùa mưa - phụ thuộc ẩm độ, nhiệt độ, pH, môi trường.
Các bệnh thường gặp: - Bệnh lỡ cổ rễ (Rhizoctonia oxysporum)
- Bệnh chết héo (Fusarium catyophyllynus)
- Bệnh gĩ sắt (Uromyces catyophyllynus)
- Bệnh cháy lá (Septoria dianthii)
- Bệnh thối thủng (alternaria)
- Bệnh gĩ cóc (Pucinia Horiria)
- Bệnh đốm bồ hóng, phấn trắng, đốm lá…
Các loại sâu hại chính - Sâu xanh (Helicoverga)
- Sâu khoang (Spodopter lituda)
- Ruồi đen (Diptera Sp)
- Rệp xanh đen (Pleotrichophorus Chrysanthemi)
- Rệp xanh lá (Coloradon Rufomaculata)
- Rệp nâu đen (Macrosiphoniclla sanborni)
- Bọ trĩ (Frankliniella Sp)
- Bọ bầu vàng (Aulacophora Indica)
- Bọ xít xanh (Nezara Viridula)
- Tuyến trùng (Nematode)
Trong sản xuất nếu không phòng và trị sâu bệnh ngay sẽ làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm, tổn thất kinh tế. Do đó có biện pháp chính trong canh tác hoa như - Sử dụng giống có khả năng chống chịu sâu bệnh cao.
- Vệ sinh đồng ruộng, thưc hiện chương trình: IPM về dịch hại sâu bệnh, FPR không dùng thuốc trừ sâu.
- Kiểm dịch thực vật các giống hoa nhập mới từ các nước và từ vùng này đến vùng khác.
- Dùng thuốc hoá học theo phương pháp đúng liều lượng theo đúng chỉ dẫn, đúng thuốc trừ sâu bệnh.
Thuốc BVTV phòng trừ sâu bệnh
STT Loại thuốc Liều dùng Dịch hại hoa trồng
I- Thuốc trừ sâu
1 DDVP 50gr Diệt ruồi đen
2 Sums 10gr Diệt sâu đất
3 Agrivo 10gr Diệt ruồi đen
4 Ofunack 10gr Diệt ruồi đen
5 Netoxin 20gr Diệt ruồi đen
6 Confidor 5gr Diệt rầy, rệp
7 Trigard 2gr Diệt ruồi đen
8 Decis 10gr Diệt sâu xanh, đất
II Trừ nấm bệnh
1 Daconil 20gr Phun phòng các loại hoa
1 2 3 4
2 Score 5gr Phun phòng gĩ cóc - cúc
3 Anvil 20gr Phun phòng gĩ cóc - cúc
4 Bayfidan 5gr Phun phòng gĩ cóc – cẩm chướng
5 Cuzate M8 20gr Phun phòng
6 Topsin M 10gr Phun phòng
7 Manco Zep 20gr Phun phòng
8 Rorral 10gr Phòng chết héo
9 Carbendazim 20gr Phun phòng
10 Kasuran 20gr Phòng thối gốc
11 Benlate 20gr Phòng lỡ cổ rễ
12 Champion 20gr Phun phòng gĩ cóc - cúc
c/ Quy hoạch vùng trồng hoa:
Nghiên cứu các vùng thích ứng khác nhau cho từng loại hoa để đạt năng suất cao nhất. Như vùng đất Cam Ly, Vạn Thành thích hợp hoa hồng, Xuân Trường như hoa Glaieul, lyly, lys, Phường 8,12 hoa cúc, Shera và hoa lan cắt cành đều phù hợp trên địa bàn phường, xã, thành phố.
Chuyển đổi diện tích trồng rau trong nội thành thành những cánh đồng hoa, liên hoàn với các điểm du lịch, nhà nghỉ dưỡng…
d/ Sản phẩm chất lượng:
Tiêu chuẩn các loại hoa phải đạt chất lượng như sau:
- Nhánh phải mập, thẳng đứng, không rũ xuống hoặc cong queo.
- Hoa màu sắc đậm đẹp, nở xoè to, có màu sắc, lâu tàn.
- lá xanh tươi tốt, không sâu bệnh.
3/ Định hướng đào tạo
Người nông dân còn đang khó khăn, lúng túng trong phương pháp trồng hoa theo công nghệ mới, giống mới, chống chọi hàng loạt nấm bệnh. Đa số lao động phổ thông, cán bộ kỹ thuật chưa được đào tạo ở cấp ngành chuyên môn. Thực ra hiên nay, nước ta chưa có một trường nào đào tạo chuyên ngành hoa, chỉ một số tiết nhỏtrong Đại học ngành Nông nghiệp, là vấn đề khiếm khuyết cần quan tâm.
Việc phát triển nguồn nhân lực có trình độ từ công dân, cán bộ kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ, nhà khoa học bằng việc đào tạo lại, bồi dưỡng đào tạo mới, bổ sung là điểm cần thiết.
Tóm lại, giáo dục và đào tạo có vai trò quyết định trong vịệc phát triển kinh tế xã hội, không thể thiếu được trong công tác thành thị hoá nông thôn tạo ra lao động công nhân nông nghiệp.
- Phát triển Trung tâm hướng nghiệp, nâng cao chất lượng hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.
- Ưu tiên phát triển việc làm trong khu vực, kết cấu công nghệ cao, công nghệ sạch và các dự án sử dụng nguồn lao động.
- Khuyến khích tạo việc làm kinh tế gia đình, phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tài trọ cho việc hình thành một số cơ sở, dịch vụ, tiếp thị rộng rãi.
Đào tạo người lao động có trình độ chuyên môn để giải quyết những vấn đề kinh tế, yêu cầu phát triển sản xuất, lập chương trình xây dựng quy trình sản xuất mới và người lao động cần:
- Sáng tạo, năng động, phẩm cách.
- Tư duy trên bình diện rộng lớn.
- Có tinh thần hợp tác, phối hợp
Trong chương trình đào tạo cũng cần bồi dưỡng đào tạo nâng cao cán bộ chuyên ngành nhất là các đối tượng kỹ sư, cử nhân, các phó tiến sĩ…
Cần thiết trao đổi học tập với các nước trồng hoa tiên tiến, luôn luôn bồi dưỡng thường kỳ:
- Tổ chức hội nghị và báo cáo chuyên đề nhà trồng hoa, người có kinh nghiệm và sản xuất giỏi.
- Tở chức chuyên đề khuyến nông, chương trình IPM đầu bờ.
- Trình diễn sản xuất giống hoa.
- Tham quan thực tế , học hỏi kinh nghiệm ở những nông hộ, cơ sở sản xuất hoa hiệu quả trong địa bàn tỉnh, tỉnh bạn, các nuớc bạn…
III. KẾT LUẬN:
- Giải pháp:
- Lập Trạm nghiên cứu thủ nghiệm cây rau hoa tại Đà Lạt. Việc nhập giống phải qua Sở Nông Nghiệp và PTNT Lâm Đồng đồng ý về khả năng thích hợp, về điều kiện sinh thái, năng suất, chất lượng, quy trình chăm sóc. Trước khi trồng đại trà phải có ý kiến đánh giá của hội đồng khoa học quyết định.
- Đào tạo các nhóm tư vấn chuyên ngành kỹ thuật của Nhà nước, tư nhân về giống, kỹ thuật, BVTV… và thành lập HTX kiểu mới.
- Lao động quản lý: có trình độ quản ly, tổ chức sản xuất, am hiểu giống cây trồng, có kiến thức cao, hạch toán kinh tế giỏi.
- Lao động dịch vụ: có kiến thức cơ bản, vận dụng nắm bát sản xuất, thị trường… có đạo đức tinh thần trách nhiệm cao, chuyên môn giỏi, có sự sinh trưởng phát triển theo yêu cầu, có khả năng tiếp thị giao dịch.
- Lao động chính là lực lượng sản xuất có tay nghề, thành thạo nhanh, biết kết hợp trong sản xuất trong kinh nghiệm và kiến thức khoa học để nâng cao giá trị sản phẩm của mình làm ra.
- Định hướng cụ thể khuyến khích người nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo đúng hướng, thế mạnh của thành phố, ngành chủ quản có kế hoạch phù hợp sát với thực tế.
- Củng cố phát triển nghiên cứu khoa học nhất là công nghệ sinh học, chú trọng công tác quản lý về giống cây trồng. Nghiên cứu khoa học dạy nghề nhằm cập nhật những kiến thức mới. Người lao động có trình độ cao thì đảm bảo hiệu quả sản xuất cao.
- Tăng cường cán bộ chuyên sâu, khuyến nông, ứng dụng khoa học kỹ thuật nông nghiệp sâu rộng đến với nông dân lao động đơn giản sang lao động kỹ thuật bằng nguồn vốn nhà nước.
2 . Kiến nghị: - Ngành trồng hoa với những bất cập hiện nay, các cấp chính quyền và cơ quan liên quan đề ra những cính sách thoả đáng. Tăng cường và đẩy mạnh vai trò quản lý nhà nước. Có kế hoạch sản xuất tiêu thụ, giáo dục đào tạo phù hợp với thực tế phát triển thành phố.
- Đầu tư khoa học kỹ thuật, yếu tố IPM và quyết định lực lượng sản xuất tăng năng suất bằng khoa học kỹ thuật.
- Thành lập hiệp hội hoa của những nhà trồng hoa để nắm bắt thông tin cần thiết về kỹ thuật giống, cây hoa, thị trường hoa trong và ngoài nước. Tổ chức hội nghị khách hàng để giới thiệu sản phẩm trong và ngoài nước. Bảo vệ quyền lợi người trồng hoa.
- Tăng cường chủ trường , chính sách nhà nước trong vấn đề quản lý chuyên ngành: nhập giống, kiểm dịch, kiểm định các loại giống, phân, thuốc BVTV tránh những tác hại đến cây trồng, kinh tế, con người và môi trường.
- Cần duy trì nguồn gen hoa sẵn co, cải tạo, phục tráng nhanh chóng các giống hoa cũ. Quy hoạch vùng trồng hoa thích hợp tạo điều kiện cho người trồng hoa về giống, vốn, kỹ thuật công nghệ mới.
- Có kế hoạch bồi dưỡng cho lực lượng lao động thông qua các lớp tập huấn chuyên đề, hội thảo giúp bà con nông dân về kỹ thuật…
- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật ccá cơ sở, trường đào tạo ngành nghề đầy đủ, hiện đại. Đầu tư đào tạo từ ngân sách, vốn ODA, vốn FDI và vốn nhân dân.
- Xây dựng chuẩn nghề quốc gia gắn chuẩn nghề quốc tế để hoà nhập cơ cấu nghề, trình độ nghề giữa Việt Nam và thế giới. Hoà nhập hiệp hội hoa Việt Nam và thế giới.
- Kết luận:
Ngành trồng hoa Đà Lạt với lợi thế thiên nhiên ưu đãi không nơi nào cả nước sánh được, nhưng hoa Đà lạt cũng đang gặp khó khăn, bất cập về khoa học kỹ thuật, giống, tính kháng bệnh kém, số lượng và chất lượng hoa chưa đáp ứng thị hiếu, thị trường tiêu dùng xuất khẩu.
Để theo kịp tốc độ phát triển của nền công nghiệp trồng hoa trên thế giới. Nhà vườn Đà Lạt cần cải tiến khoa học kỹ thuật từ khâu giống, trồng hoa, chăm sóc cây, thu hoạch và thị trường tiêu thụ… để hoa Đà lạt có thể cạnh tranh hoa ngoại nhập, có chỗ đứng và đây cũng là mục tiêu phát triển kinh tế xã hội thành phố Đà lạt trong hiện tại và tương lai.
Tóm lại hoa là một món ăn tinh thần không thể thiếu đối với đời sống của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia góp phần kinh tế đáng kể của thành phố. Thay cho lời kết chúng tôi mong sao Đà lạt mãi mãi là thànhphố của thiên nhiên, của những cánh rừng hoa bạt ngàn, để Đà lạt xứng đáng là thành phố ngàn hoa, du lịch và nghỉ dưỡng.