## Mối tình bên những nấm mồ liệt sĩ
30 năm miệt mài làm công việc chăm sóc các phần mộ ở Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn. Cả một thời con gái đã trôi qua ở nghĩa trang ấy. Mối tình với người đồng nghiệp cũng diễn ra ở đấy, trước sự chứng kiến của những linh hồn đồng đội…
Tuổi đôi mươi chăm sóc… người chết
Từ tinh mơ, khi con gà trống duy nhất trong chuồng báo sáng là lúc chị Bé tỉnh dậy. Đã thành lệ, sau khi nấu cơm cho chồng con, chị vội đi đến nơi làm việc - nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn - cách nhà 10km.
7h30, chị Bé đã có mặt tại nghĩa trang. Vào phòng thay đồ, khoác trên người mảnh áo lao động, đút bật lửa vào túi, vớ chiếc nón cũ sờn và chiếc chổi tre, chị chính thức lên khu mộ phần mà chị vẫn chăm sóc hằng ngày.
Nắng Gio Linh mùa này khắc nghiệt, mới bảnh mắt ra đã chói chang. Nắng cùng cơn gió Lào nóng rẫy lưng khiến rặng phi lao đang tỏa bóng ít ỏi che cho con người trở nên nhỏ bé. Chị Bé vã mồ hôi, tay cầm chổi quét sạch sẽ những lối đi quanh mộ của các chiến sĩ. Xong xuôi, chị đi nhổ cỏ, bỏ bớt chân hương trên các ngôi mộ… Thi thoảng, chị lại lấy bàn tay chai sần, quệt vệt mồ hôi lăn dài trên gò má sạm đen.

Chị Nguyễn Thị Bé đang chăm sóc các mộ phần
Chúng tôi chỉ có thể gặp chị sau khi công việc đã hòm hòm. Trời nắng gắt nên người đàn bà ấy ngồi dưới gốc cây bồ đề để nghỉ ngơi. Cất cái âm nằng nặng, mang khẩu ngữ địa phương, chị Bé kể vanh vách về lịch sử xây dựng nghĩa trang này, về những ngôi mộ chi chít nơi đây mà chị đã thuộc như lòng bàn tay.
Sinh năm 1957 ở Triệu Phong, Quảng Trị, chị Bé đi bộ đội và đóng quân tại vùng địa đầu Đông Bắc của Tổ quốc. Xuất ngũ năm 1979, chị Bé về quê rồi xung phong lên nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn để chăm sóc mộ phần cho các liệt sĩ…
Câu chuyện của cô gái 22 tuổi “đòi” làm quản trang khiến nhiều người ở Triệu Phong ngạc nhiên. Gia đình chị cũng một mực ngăn cản, bởi ngày ấy chả ai chịu đi… chăm người chết. Hơn nữa, chị còn trẻ và chưa lập gia đình, lên nghĩa trang đã xa xôi, vắng vẻ, heo hút lại toàn làm bạn với mồ mả thì làm gì có trai làng nào dám lên để “tán tỉnh”… Thuyết phục mãi không được, người nhà chị dọa, trên đường tới nghĩa trang có nhiều hổ rình vồ người…
Bỏ qua những cản ngăn, chị Bé một thân một mình với ba lô con cóc lên đường chỉ với ý niệm: “Mình cũng là bộ đội, mình hiểu rằng các chiến sĩ hy sinh còn rất trẻ. Giờ đã ra đi, cô đơn nằm trên đó. Ngày ấy, không có ai đến nghĩa trang nên mình muốn lên đây chăm sóc họ để cho họ bớt phần hiu quạnh”. Cuốc bộ 30km đường rừng, vừa đi vừa nắm chặt con dao trong tay bởi lời dọa hổ vồ, tới nơi, ngay lập tức chị được nhận và trở thành một trong những người quản trang đầu tiên của nơi an nghỉ hàng ngàn chiến sĩ Trường Sơn.
Khi ấy, nghĩa trang tuy đã được xây xong nhưng còn nhiều bề bộn, chị Bé lại cùng những người quản trang khác miệt mài dọn dẹp, phát quang bụi rậm, chung tay xây dựng nghĩa trang Trường Sơn thành một nơi với quy mô lớn, đón nhận thêm nhiều nắm xương của đồng đội về an nghỉ.
Nơi tình yêu chắp cánh
Ngày ấy, nhiều người cứ nghĩ rằng chị Bé sẽ chẳng bao giờ có được tấm chồng khi ngày nào cũng làm bạn với các nấm mồ. Mặc gia đình gọi về quê, hằng ngày chị vẫn chăm chút cho những ngôi mộ như một phần không thể thiếu trong cuộc sống và hai tháng một lần, chị lại cuốc bộ về thăm bố mẹ.
Tuổi xuân qua đi, song số phận thật diệu kỳ với chị Bé. Năm 1983, nghĩa trang Trường Sơn đón nhận một quản trang mới tên là Hoàng Văn Húc, sinh năm 1947. Anh Húc nguyên là bộ đội của Binh đoàn Trường Sơn.
Anh Húc về nghĩa trang được một thời gian thì hai con người đặc biệt ấy đã nảy sinh tình cảm, quyến luyến nhau. Họ có với nhau 2 mặt con trai giữa niềm vui của những người đồng chí.
Giữa cái nơi không có điện, lại cách xa trung tâm (năm 1997, nghĩa trang Trường Sơn mới có điện), những đứa con sinh ra sẽ khó khăn lắm trong việc học hành. Nhiều đêm bàn bạc hai vợ chồng chị đã quyết định vay mượn của họ hàng, đồng đội, mua một mảnh đất nhỏ ở xã Hải Thái (huyện Gio Linh) để các con thuận lợi tới trường.
Mua đất, xây nhà thì nợ nần cũng đội lên trong khi lương lậu thì cố định, chị Bé và anh Húc phải tiết kiệm từng xu trong những lần đi chợ để dành dụm trả nợ và nuôi con học hành. Và, cũng kể từ khi mua nhà, bất kể mưa hay nắng, sáng nào chị cũng cuốc bộ đến nơi làm việc, đến tối mịt lại vượt đoạn đường hơn 10km về nhà.
Ròng rã như thế trong một thời gian dài, cuối cùng, khi cái nợ cũng bớt đi thì chị Bé mua được 1 cái xe đạp và giờ đây là chiếc xe máy để đi lại. Năm 2004, anh Húc về hưu, song do sức ép bom mìn thời chiến, tinh thần của anh không ổn định. Một mình chị, giờ không chỉ nuôi 2 con ăn học mà còn cõng thêm người chồng ốm yếu.
Vất vả là thế, song chị Bé vẫn lạc quan lắm, con cái bắt đầu lớn khôn, sẽ kiếm được tiền trong nay mai. Còn chị thì cả đời nguyện ở cái nghĩa trang này, bởi ngoài công việc thì còn biết bao ân tình với các liệt sĩ.
Thấy khách tò mò về hai chữ “ân tình”, chị Bé nhoẻn cười: “Chú có ở đây thì mới biết chuyện của tụi tui, các liệt sĩ linh thiêng lắm nhé.”
Rồi, chị kể về việc trước kia, khi nơi đây chưa có điện thoại, những người quản trang đang làm thì ruột gan nóng như lửa đốt, khi họ xin nghỉ phép để về quê thì y rằng bố ốm, mẹ đau hay ở nhà đang có chuyện chẳng lành…
Còn ông Nguyễn Bá Anh, phó ban quản lý nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn thì kể rằng, ngày mới thành lập, điều kiện sinh sống ở đây rất khắc khổ, nhiều người sớm bỏ nơi này nhưng một số đã cố gắng vượt qua. Rồi, ông bảo, ngoài chị Bé và anh Húc còn có anh Quang và chị Liên đã xây dựng gia đình nhờ nơi này. Người làm ở nghĩa trang, làm hết việc chứ chả bao giờ tính giờ giấc…
Bóng nắng đã đứng ngọn phi lao, chúng tôi nghiêng mình lần cuối cùng trước khi rời nơi yênnghỉ vĩnh hằng của lớp người đã ngã xuống vì độc lập tự do của Tổ quốc. Vừa chia tay khách, chị Bé đã vội chụp chiếc nón lên đầu, tay vớ chiếc chổi để tiếp tục công việc của mình. Chị bảo sẽ gắn bó với công việc này cho đến khi “mọi người bảo, chị già rồi không làm được nữa thì mới nghỉ”…
Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn được xây dựng tại khu vực Bến Tắt, cạnh đường quốc lộ 15, thuộc địa phận xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh. Nghĩa trang có diện tích 140.000m², nằm trên 3 quả đồi ở cạnh thượng nguồn sông Bến Hải, ranh giới cắt chia hai miền Bắc - Nam thời kháng chiến chống Mỹ.
Nghĩa trang được xây dựng từ ngày 24/10/1975, hoàn thành ngày 10/4/1977 và là nghĩa trang có quy mô lớn nhất Việt Nam. Khu trung tâm nằm trên một ngọn đồi cao 32,4m có đài tưởng niệm bằng đá trắng cao vút uy nghiêm, rỗng ruột và khuyết ba mặt, thể hiện nỗi mất mát vô cùng. Bốn khu đặt mộ liệt sĩ được xếp theo tỉnh, thành phố trải trên năm quả đồi. Tại thời điểm tháng 4/2006 ở đây có 10.263 phần mộ; được chia thành 10 khu vực.
(VnMedia)