Hoa lan và Hội những người trồng lan
Vườn Bích câu vẫn chưa đại diện đầy đủ cái đẹp của hoa Đà Lạt. Nếu thăm hoa mà bỏ qua các vườn địa lan quả là một thiệt thòi. Mời bạn hãy đến các vườn lan gia đình. Từ rất sớm người Đà Lạt đã tập họp những người trồng lan vào một tổ chức gọi là "Hội những người trồng lan". Tổ chức của Hội là một tổ chức quần chúng rộng rãi có mối quan hệ quốc tế về hoạt động trồng lan và được coi là một thành viên của Hội lan quốc tế. Lan Đà Lạt đã có vinh dự tham dự triển lãm lan thế giới. Bằng con đường hoạt động của hội, kỹ thuật trồng lan, lai tạo giống mới, trao đổi giống với các nước vẫn được thực hiện thường xuyên. Các giống Móng hổ (Jade wine), Linh lan (Muguet), Vũ nữ (Antorium), Thiên điểu, Hài vệ nữ và nhiều giống hoa khác như hồng, cúc, thựơc dược đã được du nhập vào nước ta từ Honolulu, Pháp, Nhật Bản, Italia, Hồng Công, Băng Cốc... đã góp phần làm giàu thêm vườn hoa vốn đã phong phú của Đà Lạt. Ngay ở gần trung tâm thành phố, chênh chếch về phía đường Cô Giang có những gia đình trồng được hàng trăm loài địa lan. Trong đó những loài thuộc dòng lan Cymbidium, nữ hoàng của những loài lan chiếm một vị trí khá đặc biệt. Riêng tên của chúng, nếu viết đủ cả tên chữ La tinh và một vài đặc tả về nguồn gốc, màu sắc, hình dáng của chúng đã đủ để viết mấy quyển sách dày.
Địa lan đựơc trồng trong những chậu cảnh bằng gốm, bằng sành hoặc bằng xi măng xếp san sát trong các sân nhà, trên hàng hiên và cả trên gác thượng. Tầng trên lớp dưới bao nhiêu là lan. Nào lan Hồ điệp, Linh lan, Trường kiếm, Bích ngọc, Bạch lạp, Bạch gầm, Đại kiều, Bút tiên, Hồng tuyến, Tử vân, Thanh lan, Lô hội, Gấm ngũ hồ, Xích ngọc, Mặc lan, Bạch hồng, Hồng lan... Mỗi loài mang một vẻ đẹp riêng rất độc đáo và thanh nhã. Ai đã có dịp tới thăm các vườn lan Đà Lạt đều không khỏi ngỡ ngàng, thích thú trước vẻ đẹp kỳ diệu mà thiên nhiên như cố tình dành riêng cho lan. Nhiều ?vườn? lan được đặt dưới một dàn phun vừa để tưới cho hoa vừa để che bớt ánh sáng mặt trời. Vốn thuộc dòng "quý tộc", địa lan không chịu được nóng nhiều và gió mạnh, ăn uống cũng rất kén cạnh. Bởi vậy ở ngoài vườn, các chậu lan thường được đặt dưới bóng râm của các cây thân gỗ. ánh mặt trời lọt qua màn lá thưa chỉ vừa đủ cho cây quang hợp.
Cũng là người trồng cây, tạo ra những sản phẩm từ thực vật, vậy mà giữa những người trồng làn với những nhà nông quen thuộc mà ta vẫn cảm nhận xưa nay sao khác nhau nhiều thế. Gặp người làm vườn, trồng lan nào ta cũng tìm thấy ở họ một phong cách rất riêng. Bận bịu đấy nhưng vẫn khoan thai, rất lịch sự mà vẫn giản dị dễ gần. Nhìn họ, từ mái đầu hất ngược, đến bộ y phục đồng màu, cắt rất khéo, phong độ ung dung, động tác mềm mại khéo léo khiến ta liên tưởng nhiều đến hình ảnh người nghệ nhân hơn là một nhà nông. Mọi đồ vật trong nhà nhà từ chiếc tủ, cái bàn, chiếc lọ cắm hoa đến bộ ấm tra sạch bóng đến mỗi chậu hoa, mỗi bồn cây đâu đâu cũng thấy có bàn tay chăm chút của một năng khiếu thẩm mỹ tuyệt vời. Ngoài đôi tay vàng cắt tỉa tạo dáng cho hoa, những chủ hoa Đà Lạt còn nắm vững kỹ thuật trồng, thời vụ gieo hạt giống, cách hãm cho hoa nở theo ý muốn. Họ có kiến thức sâu rộng về nông học, về sinh vật học, nhạy bén về thị trường thương mại. Những nhà trồng lan ở Đà Lạt đã giải quyết tốt vấn đề tạo giống nuôi trồng thức ăn và tạo nên môi trường sống phù hợp với điều kiện sinh thái của mỗi loài lan. Trước đây nhiều nhà trồng lan đặt mua tạp chí của Hội lan quốc tế của Pháp, Nhật, Hà Lan v.v... Nhờ đó các luồng thông tin mới nhất về giá cả của các loài lan trên thị trường thế giới, các giống lan mới phát hiện hoặc mới lai tạo thành công, những tiến bộ mới trong kỹ thuật nuôi trồng lan kịp thời đến với mỗi gia đình.
Những năm dài chiến tranh đã làm gián đoạn hoạt động của Hội. Nhưng đó chỉ là về mặt tổ chức. Trong thực tế những người trồng lan vẫn gắn bó với nhau bởi niềm say mê cái đẹp và yêu loài hoa quý. Nhờ vậy những giống lan quý hiếm đã không bị mai một mà có phần phong phú hơn xưa. Vô cùng cám ơn những nhà trồng hoa, những nghệ sĩ chơi hoa, người đã cho ta những giờ phút hoàn toàn thanh thản, thư thái. Đẹp biết bao nhiêu những người trồng hoa, những con người mà cả cuộc đời luôn luôn chăm lo vun trồng cái đẹp. Hôm đó, vào một buổi sáng, nắng vàng chan chứa, bác phó chủ tịch thành phố dẫn chúng tôi đến nhà ông V. Để tranh thủ thời gian bác phó chủ tịch vào đầu câu chuyện và xin phép miễn dùng trà. Hình như rất quen với sự đột nhật của những vị khách "không mời mà đến" như thế này nên ông bà V. không có vẻ gì băn khoăn mà vui vẻ bắt tay chúng tôi rồi đưa luôn ra "vườn hoa". Các chậu hoa được xếp trên một sàn xi măng rộng. Có thể xưa kia, đây là một sân chơi của gia đình này được dùng để đặt chậu hoa. Mỗi loài hoa xếp riêng ra một khoảnh sân để tiện việc chăm sóc. Bác chủ nhà đưa chúng tôi đến khoang hoa dành riêng cho Hài vệ nữ (Cypripedicideal). Có người gọi đây là loại hoa "quận chúa" là "bà hoàng" của các loại lan. Loại hoa này có nhiều giống khác nhau. Mỗi giống một sắc màu riêng và đều tỏa ra làn hương mát ngọt ngây ngất thoang thoảng mùi thơm của một loại phấn hoa đắt tiền. Xen giữa những chiếc lá xanh, vươn dài giống hình những chiếc lá láng nhưng ngắn hơn, nghiêng mình duyên dáng xòe rộng bộ y phục màu xanh. Ở giữa điểm một nhành hoa chỉ có một bông độc nhất. Bông hoa có ba tràng cánh màu vàng lốm đốm những chấm tím to nhỏ không đều nhau. Có loại cả ba cánh hoa khum khum nghiêng về một bên, khiến cho dù đứng ở góc độ nào ta cũng thấy hình một con ong lớn màu vàng, lốm đốm tím đang dang cánh. Có loại cả ba cánh hoa xòe rộng ra cả ba phía tạo nên một hình sao ba cánh đều đặn. Khi nở, cánh hoa vặn xoắn 180 độ làm cho cánh môi được đưa ra phía trước tạo nên một cấu trúc rất kỳ lạ và đẹp mắt. Ở giữa, một cánh hoa màu vàng có tia những đường gân sẫm màu, hai mép khép cuốn vào nhau, cánh đài dưới vặn ngược lên đỉnh giống hệt một chiếc hài nhỏ xíu tuyệt đẹp. Gót chiếc hài đính giữa núm cuống hoa, còn mũi chúc xuống ra phía ngoài. Giữa lòng đế hài, hơi nhích về phía gót, một cụm nhụy vàng với những chiếc vòi nhỏ vươn dài, khiến cho bông hoa vừa giống một chiếc hài màu vàng có đính những hạt cườm màu tím sẫm xen giữa những đường gân như những đường thêu lại vừa na ná hình một con ong.
Ngắm nhìn những chiếc hài được kết bằng hoa đủ màu, chúng ta không khỏi xao xuyến, bùi ngùi nhớ tới chiếc hài của cô Tấm ngày xưa. Hòa cùng trí tưởng tượng đang đưa ta trở lại một thời thật xa xưa, trong bước đi chầm chậm thẫn thờ, chợt mắt ta bắt gặp bầy "tiên nữ" xuất hiện trong bộ xiêm y vàng óng, lộng lẫy trong tư thế một điệu ba lê uyển chuyển sắp bước ra từ những tràng nhung tím đỏ của cánh hoa Vũ nữ (Antorium) tuyệt đẹp. Tràng hoa màu nhung đỏ hình lá đề dựng nghiêng chênh chếch. Mép dưới có tia những đường gân trắng mờ trông xa giống một dải đăng ten sáng màu. Giữa tràng hoa nổi rõ đám nhụy vàng óng mượt giống hệt mũ vũ nữ ba lê. Có thể vì lẽ đó mà nó được mọi người gọi một cách thân thiết là hoa Vũ nữ.
Chia tay với các "Vũ nữ" ta hãy đến với các chú "chim trời". Tiếng La tinh gọi là Geranium. Đó là loài hoa Thiên điểu. Bông hoa có cánh vàng, sắc tía tựa hồ một con hạc đậu trên một nhành cây cắm giữa vòm lá xanh đang chấp chới định bay.
Còn đây, loài hoa Begonia Rex nhập vào nước ta chưa bao lâu. Giống lấy từ Italia. lá của nó đỏ thắm màu huyết dụ, lốm đốm những chấm đỏ vàng, trên có phủ lớp lông tơ mượt như nhung. Hoa có đủ màu, có ba khía trông tựa những cánh sao, hương thơm thoang thoảng, phảng phất mùi trầm hương luẩn quất đó đây trong mỗi góc vườn.
Ở Đà Lạt không phải chỉ có địa lan, tuy không nhiều song nhà trồng hoa nào cũng có hoa phong lan* Nào tai trâu, nào Giáng hương, Phi điệp, Quế lan hương, nào Huyết nhung, Kiều đạm thanh, nào Trầm mộng, Tức mạc, Hạc đinh v.v... Loài nào cũng thơm cũng đẹp. Các dò lan đong đưa dưới các dàn có dây leo hoặc được treo trên những nhành cây. Nghe nói trước đây Đà Lạt có nhiều phong lan lắm. Trong đó có nhiều loài lan hoang dại kể cả những loài quý hiếm trên thế giới cũng tìm thấy trong các khu rừng của Lâm Đồng Đà Lạt. Hiện nay không hiểu vì sao trong các vườn lan của Đà Lạt có bao nhiêu gốc bỏ không. Lần đó tôi cứ thắc thỏm không yên mà vẫn chưa tiện hỏi, mãi về sau mới được biết là do thiếu gỗ, thiếu dây thép làm dàn, thiếu cả những tố chất để biến thức ăn cho lan. Ngoài ra còn có lý do thương mại nào nữa hay không? Đây cũng là vấn đề cần được suy nghĩ.
Ở Đà Lạt, Tai trâu nở sớm lắm. Mới cuối tháng mười một, đầu tháng chạp hoa đã bắt đầu nở. Khác hẳn với Hà Nội mãi đến tiết xuân, vào những ngày giáp tết, Tai trâu mới bắt đầu nở hoa. Chùm hoa buông to bản, cánh hoa màu tím đỏ có những đốm vàng lấm tấm trong tựa một chiếc đai kết bằng châu ngọc mà các bậc vương tôn vẫn mang trên lễ phục. Có lẽ vì thế, nên ngoài cái tên Tai trâu nôm na, dân giã, loài hoa này còn một tên tự gọi là Đai châu. Mỗi dò Tai trâu thường có vài ba chùm hoa. Khi hoa bắt đầu nở, người ta thường chọn một vài dò đẹp nhất đem treo vào trong hiên nhà hoặc cắt cành cắm bình để ngày ngày chiêm ngưỡng sắc đẹp và hương hoa. Cái độc đáo của Tai trâu là mùi hương của nó. Hoa tỏa làn hương ngan ngát, nồng đượm. Càng về trưa hương thơm càng nồng. Hoa hào phóng, dẻo dai, suốt nửa đầu mùa xuân hoa dâng hiến cho đời toàn bộ sắc hương tuyệt diệu của mình mà không đòi hỏi một thứ gì. ít thấy có loại hoa phong lan nào bền, đẹp như Tai trâu, màu sắc rực rỡ, hương thơm, bền nở đúng vào những ngày đầu xuân lại dễ nuôi trồng.
Quế lan hương, Phi điệp... cũng thuộc hoa lâu tàn, tuy nhiên chúng không bền bằng Tai trâu. Phi điệp có hoa màu tím hơi giống tai trâu, song mọc thưa hơn và nở vào đầu mùa hạ, cành hoa dài hơn Tai trâu. Mỗi dò Phi điệp có thể nở hàng chục cành hoa buông dài óng mượt như một suối tóc kết bằng hoa thả loà xòa. Còn quế lan hương cũng đẹp lắm hương thơm mát ngọt khiến ta liên tưởng tới một phòng trà bên tách cà phê bốc khói và chiếc bánh ngọt thơm dòn.
Lan với vẻ kiều diễm thần tiên của nó đã được loài người biết đến từ rất sớm. Sử sách còn ghi lại rằng ở Trung Quốc từ hai ngàn năm trước công nguyên, trong một bộ sách thuốc "bản thảo" đã đề cập đến một số loài lan có dược tố như Hoàng thảo (Dendrobium), Bạch cập (Bletille Hyacinthina). Đến cuối thế kỷ thứ VI trước công nguyên, dưới thời Khổng Tử (551-479TCN) nhiều loài lan đã đi vào thơ ca, hội họa. Tầng lớp nho sĩ thời ấy coi phong lan như một biểu tượng của chí khí và tâm hồn thanh bạch của mình. Họ chơi lan, săn tìm các loài lan quý, tạo ra cho cây cái dáng tao nhã, bình dị đầy chất thơ và trữ tình. Việc thưởng thức các chậu lan Trầm mộng, Tức mạc, Hạc đinh, các dò Tai trâu, Phi điệp... đã từng là cái thú chơi phổ biến. Cho đến ngày nay, ở miền Bắc nước ta vẫn giữ còn giữ lại được nhiều phong cách chơi lan "thời thượng" này. Đây chính là chỗ khác nhau với cách chơi lan, trồng lan ở Đà Lạt. ở Đà Lạt, lan không chỉ là hiện thân của hương sắc tuyệt vời góp phần tạo nên cái đẹp cho tâm hồn con người mà nó còn là một sản phẩm hàng hóa thực sự mang lại nguồn lợi kinh tế đáng kể. Ở những nước có nghề trồng lan phát triển như Mỹ, Pháp, Tây Đức, Hà Lan, Tiệp Khắc, Hung-ga-ri, Đài Loan, Thái Lan, Nhật Bản... lãi suất hàng năm do lan đem lại không dưới ba mươi vạn đô-la. Riêng Thái Lan, hàng năm có số lần xuất khẩu là 20 triệu đô-la. Ngày nay, người ta trồng lan theo phương pháp hiện đại mang tính công nghệ cao. Lan được nhân giống bằng phương pháp cấy mô hoặc gieo hạt trên môi trường vô trùng nhằm giảm giá thành và nhanh chóng tạo nhiều mặt hàng để đưa ra thị trường. Để cho sản phẩm hoa đồng đều về quy cách phẩm chất, từ khâu chọn hạt, nhân giống làm giàn che, làm giá thể, trồng cây chắn gió đến khâu chăm sóc cho hoa trong mỗi giai đoạn phát triển, các nhà trồng lan đều phải thực hiện nghiêm ngặt những quy trình kỹ thuật thống nhất cho từng loại lan.
(*) Tùy theo cây lan sống ở đâu, đất, hốc đá hoặc mọc trên vỏ các cây gỗ khác hoặc sống hoại, ký trên các loại cây, trên mùn xác thực vật trong rừng mà người ta phân biệt ra là phong lan hay địa lan, thạch lan.
Hoa "Xin đừng quên tôi"
Không đâu như Đà Lạt, mọc thật nhiều một loài cây thân thảo, thật bình dị nhỏ nhoi. Hoa của nó màu tím, màu trắng hoặc vàng. Hoa nở tỏa mùi hương ấm áp như mùi trái chính và bánh ngọt hết sức gần gũi thân quen. Đấy là hoa Lưu ly, tiếng Anh gọi là forget me not có nghĩa là "xin đừng quên tôi". Biết tên rồi thì không một ai là không chú ý đến hoa. Hoa đã trở thành nguồn thơ, nguồn gợi cảm của bao người về tình bạn, tình yêu nam nữ, tình cảm của anh em. Không ít người khi lặng nhìn những khóm hoa mọc trên phiến thạch bên các bở suối lại không thấy lòng mình bồi hồi xao xuyến nhớ lại câu chuyện cắt nghĩa tên hoa.
Các cô thiếu nữ thường gọi tên hoa là "xin đừng quên em", còn các chàng trai một mực khăng khăng gọi Lưu ly là "xin đừng quên anh". Cho dù gọi hoa theo tên nào thì đây cũng là một loại hoa luôn luôn gợi nhớ một niềm thương cảm mênh mông, một kỷ niệm sâu xa thầm lặng không quên được.
Đây là chuyện kể về hoa: ngày xửa ngày xưa có một đôi nam nữ yêu nhau. Một sáng mùa xuân trời trong vời vợi. Họ dắt nhau dạo chơi bên bờ một con suối, hoa Lưu ly mọc dày, cố vươn cành, nghiêng mình soi bóng xuống dòng nước trong xanh. Trong khi chàng trai tần ngần ngắm nhìn dòng thác đổ thì cô gái say sưa hái hoa. Cô choài người ra bờ suối hái mấy nhành hoa đẹp, chẳng may nàng bị trượt chân ngã xuống suối bị dòng nước cuốn trôi. Nàng cố hết sức ném lại nhành hoa có ý trao tặng người yêu và gọi với "Xin đừng quên em".
Lại có câu chuyện khác cũng nói về hoa Lưu ly. Chuyện kể rằng:
Một lần nọ có hai em bé được mẹ cho vào rừng thăm bố. Bố các em là một là một cán bộ kiểm lâm. Một hôm khi người cha dẫn con chó và xách khẩu súng vào rừng, bà mẹ bận lo sửa soạn bữa cơm chiều thì hai em bé tha thẩn chơi và dắt nhau ra một bờ suối. Mùa này hoa Lưu ly đang nở đầy bờ. Thấy hoa thơm, đẹp, bé gái muốn hái mà không với tới. Thấy vậy cậu anh choài người ra bờ suối cố hái cho em mấy nhành hoa. Chẳng may bị quá đà, em ngã xuống dòng nước xiết ! Trước khi bị dòng nước cuốn trôi, em ném lên bờ cho em gái mấy nhành hoa và dặn lại: "Đừng quên anh nhé".
Câu chuyện cảm động này mãi mãi gắn liền với tên hoa và luôn luôn được người đời nhắc nhở hay đây là tên hoa gợi nguồn cảm hứng bất tận, trí tưởng tượng khôn vời của muôn đời.
Hoa Tầm xuân và câu chuyện cổ
Ai đã có dịp đến thăm Đà Lạt và dừng chân ở đó lâu lâu hẳn không thể không chú ý tới một loài hoa: giống như hoa hồng nhưng bông của nó nhỏ hơn nhiều, cây leo. Hoa tìm ai mà leo bò khắp ngả? Đi đâu, về đâu cũng gặp, bất kể là trong ngõ phố hay chốn thôn trang. Hoa thường khép nép bên cánh cổng, hoặc rụt rè mon men bò lên các bờ rào. Hoa tạo nên như một mẫu hình hoa văn độc đáo cài quanh mỗi mảnh vuờn tôn thêm nét đặc trưng riêng biệt của Đà Lạt. Loại hoa đó gọi là hoa Tầm xuân. Nhìn hoa, lòng ta bồi hồi nhớ lại một thời thơ bé, bao lần hồi hộp nghe bà kể lại sự tích về hoa. Bao giờ bà cũng bắt đầu câu chuyện bằng lời giải thích tên hoa: "Tầm có nghĩa là tìm, Xuân là tên một em bé gái". Và đây là câu chuyện về hoa: "Ngày xửa ngày xưa, có hai em nhỏ mồ côi cả cha lẫn mẹ. Đứa lớn là trai và đứa bé là gái. Tuy còn nhỏ, hai em đã biết yêu thương, đùm bọc lẫn nhau. Ngày ngày cậu anh trai khi thì đi xin về nuôi em, khi thì vào rừng hái nấm, kiếm củi đem ra chợ bán hoặc đem đổi lấy gạo để nuôi em. Còn cô em là một cô bé tuyệt vời, rất hoạt bát, vui vẻ và tốt bụng. Em nghe được tiếng chim và biết cùng chim trò chuyện. Từ sớm tinh mơ, chim muông lũ lượt bay đến nhà và cùng em trò chuyện, ca hát. Tiếng em trong như tiếng chuông, ấm như nắng ban mai. Mỗi lần em cất tiếng hát là cả bầy chim vỗ cánh điểm nhịp và chốc chốc hòa cùng khúc hát du dương tạo nên một bản hòa âm độc đáo. Tiếng hát của em làm say mê cả con quỷ độc ác trong một khu rừng gần đó. Vốn độc ác và ích kỷ, quỷ muốn chiếm cho riêng mình giọng hát ấy. Nó bèn đóng giả một bà già lương thiện rồi đi ra khỏi rừng và cứ lần theo hướng có tiếng hát nó tìm đến được nhà em bé. Nó cho em bé trái cây, cho lũ chim thóc và hạt vừng. Nó còn khôn khéo bày trò vui chơi cùng lũ chim và cô gái. Vốn rất tốt bụng và ngây thơ, em bé không mảy may cảnh giác, thừa cơ con quỷ chộp lấy cô bé và tóm hết lũ chim mang tận vào rừng sâu. Nó nhốt em bé với lũ chim trong một chiếc lồng lớn, rồi ra lệnh:
- Này ! Con nhỏ kia hãy hát đi, hát cho tao nghe! Nói rồi nó hí hửng nằm khểnh ra sàn nhà, chân bắt chữ ngũ tay lần nhổ mấy chiếc râu lưa thưa trên chiếc cằm đang nghênh nghênh trông rất gớm ghiếc. Nó tưởng rằng nó đã làm chủ đựơc tiếng hát nên ra chiều đắc thắng lắm. Nhưng đợi mãi mà chẳng nghe thấy gì nó lại giục:
- Hát đi chứ, mày không nghe tao bảo gì hay sao?
Nhưng vẫn im lặng. Em bé và lũ chim đang chết khiếp vì sợ hãi. Lần này thì con quỷ giận lắm, liền quát lớn:
- Tao bảo mày hát cơ mà, câm rồi hả. Nhưng đáp lại bó chỉ có cái nhìn câm lặng, khiếp đảm. Tức lắm, con quỷ gầm lên những tiếng kêu man rợ, rồi vùng dậy vừa gào thét, vừa đấm đá. Chiếc lồng lăn long lóc làm cho thịt da em trầy trụa, xây xát. Em vẫn không hát mà chỉ nhìn con quỷ khiếp sợ, căm ghét. Con quỷ tìm mọi cách hết đấm đá, dọa dẫm lại dỗ dành ngon ngọt, nhưng chẳng thể làm được gì. Nó liền trừng phạt em bé và lũ chim bằng cách đem chiếc lồng treo lên một cành cây cao rồi bỏ đi, lòng đầy hậm hực.
Ở trên cành cây cao, cô bé tìm cách cứu bầy chim. Em cố chịu đau, luồn mấy ngón tay nhỏ xíu vào kẽ giữa những chiếc nan lồng. Răng nghiến chặt, em cố kéo chiếc nan bị uốn cong mở ra một lối nhỏ. Em giúp bầy chim thoát khỏi lồng bay ra. Nhưng hai bàn tay em bị những chiếc nan lồng siết chặt đã bị dập nát, máu me đầm đìa. Máu thấm đỏ cả mấy chiếc nan. Và rồi một điều kỳ lạ đã xảy ra. Những chiếc nan dính máu như cựa mình và cứ thế dài mãi ra, buông mình xuống tận đất, thân mọc đầy những chiếc gai nhọn.
Không quên cô bé tốt bụng, bầy chim chia làm hai tốp. Một tốp ở lại với cô bé và chia nhau đi tìm trái cây đem về nuôi cô. Tốp kia bay đi tìm người anh.
Lại nói về người anh, khi trở về nhà không thấy em gái đâu, cả đàn chim cũng mất hút. Nhìn thấy cảnh nhà tan hoang, biết có sự chẳng lành, chú bé đổ đi tìm em, miệng gọi Xuân ơi, Xuân ơi không ngớt. Đáp lại lời em chỉ có sự trống lạnh, hoang vắng đến ngột ngạt. Em càng cuống quýt, sợ hãi càng chạy, càng gọi. Em đi mãi, gọi mãi vượt qua mấy cánh đồng, lội qua mấy con suối. Một ngày kia, em tới khu rừng âm u. Em lại gọi thảm thiết. Nhưng giọng em phát ra chỉ còn nghe khàn khàn đặc quánh".
Vì sao hoa Cúc có nhiều cánh nhỏ
Ngày xưa hoa Cúc kông có nhiều cánh và cánh cũng không bé như ngày nay. Lưu truyền rằng: Đã lâu lắm rồi, không ai còn nhớ rõ là tự bao giờ. ở một vùng nọ có hai mẹ con rất nghèo sống với nhau. Người mẹ đau yếu luôn. Mắt bà ngày một mờ dần đi, còn tai thì ù đặc. Con gái bà còn rất bé bỏng. Bệnh tình của người mẹ ngày một trầm trọng thêm. Bà biếng ăn, biếng ngủ. Em bé thương mẹ lắm. Em luôn luôn bên mẹ. Nhưng cũng không thể làm cho mẹ khỏi bệnh được. Nghe nói ở một vùng nọ có ông thầy lang giỏi, em quyết tâm đi tìm thầy chữa bệnh cho mẹ. Em chuẩn bị cho mẹ ít thứ cần thiết rồi ra đi. Em đi suốt cả ngày đêm. Rồi một hôm em đến một ngôi chùa. Em đã lả đi trước cổng chùa. Tấm lòng hiếu thảo của em động đến tấm lòng từ thiện nơi cửa Phật. Sư phụ đưa em vào cho ăn uống rồi đưa cho em một bông hoa Cúc và dặn cách làm thuốc cho mẹ uống. Sư phụ còn cho em biết là bông Cúc có bao nhiêu cánh thì mẹ em sẽ sống thêm được bấy nhiêu năm. Em bé từ giã sư phụ ra về.
Mong ước mẹ sống được thật lâu, em dừng lại bên đường và kỳ công tước các cánh hoa ra thành nhiều cánh nhỏ. Từ đó hoa Cúc có vô số cánh nhỏ li ti. Bà mẹ đã được chữa lành bệnh và sống rất lâu với người con gái hiếu thảo của mình. Ngày nay hoa Cúc là một trong những vị thuốc nam được dùng nhiều trong các đơn thuốc. Tên y học của vị thuốc này là Liêu Chi.
Truyền thuyết về hoa Dâm bụt
Ngày xưa có hai chị em gái rất nhỏ. Chị là Nađi còn em là Naban. Naban bị liệt cả hai chân. Ngày ngày Nađi bày trò chơi với em. Naban rất thích nhìn chị chạy nhảy vui đùa. Nađi thương em lắm và luôn mơ ước có được phép tiên giúp em khỏi bệnh. Ước mơ cứ lớn dần lên và một ngày kia Nađi quyết định đi tìm "phép lạ". Em đi mãi, đi mãi. Đôi chân bé bỏng phồng rộp cả lên. Nhưng nghĩ tới đôi chân bị liệt của Naban, em lại cố gắng nén đau đi tiếp. Đói khát đã làm em kiệt sức. Em thiếp đi dưới một gốc cây bên đường. Lúc tỉnh dậy, em thấy một cụ già râu tóc bạc phơ ngồi cạnh. Nađi không sợ ông cụ mà còn nói hết ước nguyện của mình với ông cụ. Nghe xong, ông cụ đặt một bàn tay lên đầu Nađi và nói: "Ông có thể chữa lành chân cho em cháu. Nhưng muốn cho em cháu khỏi bệnh cần có hai điều kiện. Một là, khi chân Naban khỏi bệnh thì chính đôi chân của cháu sẽ không còn đi lại được nữa" (ông cụ chỉ thử tấm lòng cô bé chứ không phải như vậy). Vì thương em, Nađi đồng ý tất cả; thế rồi chiếc áo đỏ đã biến thành chiếc dù biết bay đưa hai ông cháu về nhà. Ông cụ chữa lành chân cho Naban rồi biến mất chỉ để lại chỗ mình đứng một hàng cây mát xanh. Hoa nở đỏ thắm. Mỗi bông hoa giống như một chiếc ô nhỏ. Hàng cây xòa cành che bóng mát cho hai em nô đùa.
Các em đặt cho cây là Dâm bụt vì tin rằng Bụt đã hiện lên cứu giúp các em.
Hãy minh oan cho hoa Nhài
Những người "nghiện trà", không mấy ai là không có cái thú uống trà ướp hoa Nhài. Chả vậy mà nhiều gia đình ở thành phố "không mảnh đất cắm dùi" vẫn cố trồng cho bằng được một gốc Nhài chỉ cốt để lấy hoa ướp trà. Tối tối, trước khi đi ngủ ngắt mấy bông Nhài ướp với một ấm trà để sớm hôm sau hãm nước uốnng thì thú đến tỉnh cả người. Hương trà quyện với hương Nhài nồng đượm, ngọt ngào khơi gợi đến ngây ngất. Hoa đã đẹp lại thơm !
Những bông Nhài trắng muốt lung linh hạt sương sớm như những đôi mắt trẻ thơ ngơ ngác nhìn đời ai mà chẳng thấy lòng mình dạt dào niềm yêu thích. Vậy mà thật bất công, hoa Nhài đã bị rẻ rúng, bị coi là loại trăng hoa thấp hèn. Hoa Nhài cũng có một lịch sử rất cảm động, đáng tự hào lắm ! Tục truyền rằng: Ngày xửa ngày xưa có một gia đình phú ông sinh hạ được người con gái rất xinh đẹp. Nhiều chàng trai con nhà quyền quý khắp các vùng gần xa tìm đến cầu hôn. Nhưng nàng không nhận lời một ai lại đem lòng yêu một gã chăn bò. Phú ông tìm mọi cách can ngăn mối tình của con. Không thành công bèn giả vờ ưng thuận. Một hôm phú ông sai chàng trai đưa thư đến một trang trại ở bên kia núi rồi giữa đường bố trí giết chết chàng. Ở nhà, cô gái sốt ruột đợi người yêu. Đã mấy ngày trôi qua vẫn chưa thấy chàng về. Cảm thấy có sự chẳng lành, nàng bèn lẳng lặng ra đi và đã thấy xác người yêu bên một khe suối. Quá thương chànng, nàng quên cả nỗi sợ hãi bèn mang đầu người yêu về nhà, bí mật chôn vào một chậu hoa bên cửa sổ trong phòng. Đêm đêm nàng đến bên cửa sổ ôm lấy than khóc. Nước mắt lã chã rơi xuống chậu làm hiện lên một cái cây xanh tốt trổ đầy những nụ hoa trắng muốt. Tối đến hoa nở tỏa ngát hương. Cô gái cúi xuống bên hoa ngây ngất và chìm dần vào trong giấc ngủ. Hoa chỉ nở về đêm như cố tình chỉ dành riêng mùi hoa tinh khiết cho người con gái như mối tình người con gái trắng trong dũng cảm.
Sự tích
Theo truyền thuyết Hy Lạp thì tiền thân của hoa Antigôn là một nàng công chúa xinh đêp con vua Ơđipơ và hoàng hậu Jocaxto. Ngày xưa ở vùng Thêbet, khi hoàng hậu Jocaxto sinh hạ hoàng tử Ơđipo thì nhà vua Laios được báo mộng rằng lớn lên hoàng tử sẽ giết vua cha và lấy hoàng hậu. Sợ hãi vua sai đem hoàng tử vứt bỏ một nơi thật xa. Ơđipơ được những người chăn cừu vùng Corintho đem về nuôi. Lớn lên, chàng trở thành một thanh niên tuấn tú, có sức khoẻ phi thường. Một lần vì bất hoà với một người đi đường, chàng không ngờ đó là vua cha của mình, chàng đã giết chết người đó.
Lúc bấy giờ ở Thêbét, có một con quái vật đầu người mình sư tử (nhân sư) thường đến quấy nhiễu nhân dân. Vua Crêon, người kế nghiệp Laios trao giải thưởng: Hễ ai giết được con quái vật sẽ được truyền ngôi và lấy hoàng hậu làm vợ. Ơđipơ đã giết được con nhân sư và lên làm vua. Sau khi sinh hạ với Jocaxto được ba người con: một con gái tên là Antigôn và hai anh trai là Ereoclơ và Polynixơ, Ơđipơ được thần báo mộng về mối tình oan trái của mình.
Đau đớn và thất vọng ! Jocaxtơ treo cổ tự tử còn Ơđipơ thì chọc mù hai mắt và rời khỏi thành phố. Vua Crêon đem Polynixơ ra xử tử và cấm không một ai được đến gần. Vì thương em, Antigon đã dũng cảm đem xác em đi mai táng. Nàng bị vua Crêon giết chết. Cô vừa ngã xuống, một dây hoa rất mảnh trườn lên khỏi mặt đất. Xen giữa những chiếc lá xanh là những chùm hoa màu hồng rất đẹp, bất chấp tất cả mọi luật lệ hoa cứ vươn mãi ra khoe sắc.