Bỏ qua nội dung
📖 Trang viết

Đà Lạt, thiên đường du lịch

  • adminA

    **### Leo núi Lâm Viên nhớ rừng Đà Lạt **
    Địa hình bình sơn còn tạo ta cho khách du lịch Đà Lạt cái thú trèo núi Lâm Viên, dạo chơi hoặc săn bắn trong rừng chân núi Lâm Viên. Những hoạt động du lịch bổ ích, hấp dẫn này được thực hiện chỉ cách trung tâm Đà Lạt chừng mười lăm cây số, với đường đi lối lại thuận lợi, phong cảnh kỳ thú.
    Núi Lâm Viên có thể là một dạng núi sót, dài hơn 3 km, cắt xẻ dạng răng cưa, lô xô trong mây một số đỉnh cao 2.000 m, cao hơn cả là đỉnh Lâm Viên (2.165 m). Cùng với một loạt các đỉnh núi khác cao trên 2.000 m người ta cho rằng trong các giai đoạn lịch sử địa chất cổ xưa đã hình thành một bề mặt ở độ cao như vậy. Sau rồi các hoạt động phá hủy của nội lực và ngoại lực đã cắt xẻ làm đổ vỡ từng mảng của mặt bằng cao đó, cho đến nay chỉ còn sót lại một số đỉnh rải rác đó đây như là những chòi canh kiên cố của người khổng lồ. Từ chiếc chòi canh Lâm Viên nhìn về thấy toàn cảnh bình sơn Đà Lạt hiện ra có dáng một thung lũng mở rộng, trong đó thành phố Đà Lạt được xây dựng với những kỹ thuật và nghệ thuật kiến trúc hiện đại ở trung tâm của cái thung lũng cổ đó.
    Ai đã từng làm quen với nhiều núi cao, rừng sâu ở Việt Nam thì khi leo núi Lâm Viên hẳn sẽ khắc sâu một ấn tượng không thể nào quên, đó là thảm rừng thông thuần loại. Có biết bao nhiêu câu hỏi hóc búa được đặt ra xung quanh khu vực rừng thông đặc biệt này: Giữa xứ sở nhiệt đới rừng thông xuất hiện từ bao giờ? Thông bản địa, hay thông từ đâu tới? Rừng thông tự nhiên hay rừng trồng?... Nhưng thôi, chắc bạn đồng ý những chuyện rắc rối đó để trả lại cho các nhà nghiên cứu sinh vật. Tò mò một chút, lúc các bạn ngồi nghỉ cùng nhau trên một phiến đá lớn phô ra trên sườn núi, bạn hãy đem nhánh thông đã ngắt từ cao nguyên Di Linh ra đối chiếu thử. Bạn sẽ thấy từ mỗi cuống lá thông này mọc ra hai nhánh lá như đôi râu con sén tóc. Người ta gọi nó là thông hai lá (Pinus merkusina) còn thông Lâm Viên là thông ba lá (Pinus khasya). Thông hai lá thường mọc trên địa hình tương đối bằng phẳng hay hơi lượn sóng, trên lớp đất cát hay đất feralit mỏng do đá phiến phong hóa ra, có khi nó mọc cả trên đất bazan ẩm hơn và có lớp kết von. Tuy là loài lá kim, song thông hai lá không ưa nhiệt độ thấp nên chúng thường mọc ở vành đai thấp dưới 1.000m. Tuyệt đại bộ phận diện tích rừng thông hai lá tập trung trên cao nguyên Di Linh. Chúng dễ dàng tái sinh dưới tán rừng thông hay một số loại rừng thứ sinh khác. Trong khi đó thông ba lá là loài cây ưa sáng, đòi hỏi đất thoát nước tốt và không chịu được nhiệt độ cao. Chính vì thế chúng mọc tốt ở trên các sườn núi và trên các đường đỉnh núi có độ cao từ 1.000 m đến 1.800 m. Bình sơn Đà Lạt là địa bàn có điều kiện tối cần đối với thông ba lá.
    Dạo chơi trong rừng thông ba lá quả là thú vị, bởi lẽ dưới tán rừng lá kim này vừa đủ sáng lại vừa đủ mát, đủ khô và đủ thoáng. Rừng tuy cũng có thể có tới bốn tầng nhưng không rậm rịt, âm u như quang cảnh của các rừng rậm nhiệt đới lá rộng mà ta thường gặp ở các khu vực núi thấp khác. Rừng ở đây có tầng trên cùng là tầng cây thông, tuy tán giao nhau nhưng ánh sáng mặt trời vẫn dễ dàng lách qua kẽ lá, cành cây, chiếu dọi xuống đến tận mặt đất. Tầng thứ hai là tầng cây gỗ nhỏ, chỉ loáng thoáng một vài loài ưa lạnh như sồi, giẻ. Sức sống không mãnh liệt lắm. Tầng cây bụi cũng rất thưa thớt, còn dưới cùng là một thảm cỏ mịn màng, sạch sẽ đi rất êm chân.
    Nói đến thông tức là nói đến một nét đặc trưng cơ bản của thiên nhiên Đà Lạt. Có tài liệu kể rằng A. Yersin là người có công phát hiện ra địa bàn và khai sinh ra thành phố Đà Lạt vào những năm 1892-1893. Nếu cho rằng điều đó là sự thực thì bạn hãy thử nghĩ xem cái gì ở đây đã có sức hút mãnh liệt đầu tiên đối với viên thầy thuốc trẻ đầy tài năng này? Phải chăng trước hết đó là thông? Đối với một thầy thuốc người châu Âu giữa bầu trời nắng lửa của vùng nhiệt đới mà bắt gặp một rừng thông bạt ngàn hàng chục vạn hecta, gần như thuần loại thì quả là bước tới một "thiên đường"! Dưới con mắt của nhà bác học Yersin, rừng thông không chỉ có ý nghĩa gợi lên những hình ảnh, những tình cảm da diết về quê hương xứ sở, không chỉ có vẻ đẹp về mặt hình thức mà môi trường của rừng thông với bầu không khí ngát mùi thơm térébenthine là điều kiện lý tưởng trong việc bồi dưỡng sức khỏe cho con người. Lại nữa, mặc dù ở vĩ độ 11 độ 57 phút bắc của vùng nhiệt đới, nhưng do ở độ cao trên 1.500m nên bầu trời Đà Lạt lúc nào cũng thoáng đãng, mát mẻ, khô ráo, dễ chịu với nhiệt độ trung bình tháng không thấp dưới 16 độ C nhưng cũng không vượt quá 20 độ C. Theo y học thì điều kiện khí hậu của mùa xuân vĩnh cửu này không chỉ làm cho con người tăng thể lực, mà còn làm thư giãn thần kinh, tinh thần sảng khoái và từ đó tình cảm cũng trở nên cởi mở, dịu dàng. Một người nào đó đã nghĩ ra một cách lý giải rất hóm hỉnh về địa danh "Đà Lạt". Họ cho rằng cái tên Đà Lạt là do Yersin đã khai sinh ra bằng cách ghép các chữ đầu của một câu tiêu ngữ bằng tiếng La tinh "Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem", nghĩa là "đem cho người này nguồn vui, cho kẻ nọ thời tiết tốt". Chữ Dalat sau được người Việt Nam đọc trái đi là Đà Lạt. Chính do phát kiến này mà người Pháp tiến hành xây dựng thàh phố "Paris thu nhỏ", một thành phố nghỉ mát hiện đại, tráng lệ trong rừng thông, phục vụ các quan chức Pháp trong các tháng không về được "chính quốc".
    Có thể nói một cách không quá rằng vì có rừng thông nên có thành phố Đà Lạt và có thành phố Đà Lạt làm cho rừng thông phát huy đầy đủ tính năng, tác dụng của nó. Trước mắt và lâu dài việc khai thác, chế biến gỗ, nhựa thông là một trong những phương hướng kinh tế quan trọng góp phần quyết định sự tồn tại và phát triển của thành phố Đà Lạt. Khách du lịch qua thăm chợ Đà Lạt thường tập trung nhiều nhất vào những quầy hàng mỹ phẩm lưu niệm làm bằng gỗ thông của những người thợ thủ công tài hoa, những nghệ nhân có đôi bàn tay vàng. Bạn có thể tìm thấy trong các quầy hàng lưu niệm này những hình mẫu nhà đặc biệt của thành phố Đà Lạt, những chiếc hộp đồ khâu thêu, những hộp đồ phấn son, hộp bút, bìa anbom, bìa lịch v.v... mỗi thứ một vẻ đẹp riêng, tất cả đều được khắc chạm đen hoặc in hoa màu trên nền gỗ thông nhẵn bóng véc ni ánh vàng. Khách có thể phải đắn đo, suy tính xem nên mua vật lưu niệm nào thích hợp nhất với người mà mình định tặng song có một chi tiết mà không khách hàng nào chịu bỏ qua, đó là đòi hỏi trên vệt lưu niệm phải có hai chữ ?Đà Lạt?, mặc dầu nếu như không có hai chữ đó thì mặt hàng mỹ phẩm của Đà Lạt cũng không bao giờ có thể lẫn lộn với sản phẩm mỹ nghệ của các địa phương khác. Thế nhưng cũng như hoa Đà Lạt, đồ mỹ phẩm của thành phố du lịch nổi tiếng này không thể chỉ trông vào khách hàng nội địa mà phải tìm cách đi xa hơn, sang thị trường các nước ngoài. Muốn vậy không những cần phải chú ý hơn tới các mặt hàng mà còn rất cần giải quyết vấn đề bảo hành các mỹ phẩm, vấn đề bao bì sao cho có thể sử dụng tương đối bền trong những điều kiện, khí hậu khác với á nhiệt đới trên cao nguyên của Đà Lạt.
    Đà Lạt là thành phố trong rừng thông. Vắng bóng cây thông Đà Lạt sẽ như một cơ thể mất linh hồn. Mọi người dân Đà Lạt đã ý thức rất rõ điều này. Vì vậy trong thời kỳ địch tạm chiếm đã có lúc bọn Mỹ định phá rừng thông, thực hiện chính sách "khai quang", lập tức chúng đã vấp phải làn sóng công phẫn của nhân dân, của các nhà trí thức Đà Lạt ầm ầm nổi dậy như sóng trào, thác đổ. Hàng loạt cuốn sách, bài báo liên tiếp xuất hiện, kịch liệt phản đối hành động man rợ của kẻ địch. Đồng bào khẳng định rằng phá hủy rừng thông là xúc phạm tới hồn thiêng của quê hương xứ sở. Quả vậy, cùng trăn trở với những cái Đà Lạt cần phải có thì mới có thể nhận thức đúng đắn vị trí của cây thông trên bình sơn Đà Lạt, ít ra cũng phải tính tới ý nghĩa kinh tế, ý nghĩa du lịch và ý nghĩa khoa học của nó.

  • adminA

    **Những mảnh gương soi giữa núi đồi **

    Nếu hiển nhiên theo nghĩa thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên, cấu thành bởi các hợp phần tự nhiên có quan hệ qua lại mật thiết với nhau, trong đó có những yếu tố trội, coi như những dấu hiện quyết định bản chất của tự nhiên thì có thể hiểu phong cảnh thiên nhiên Đà Lạt như là kết quả của một sự kết hợp hài hòa, nhuần nhị giữa hai yếu tố thông và nước. Người ta gọi Đà Lạt là "thành phố hoa", "thành phố rau xanh", "thành phố cây trái"... Tất cả những sản phẩm đó làm sao thoát ly khỏi yếu tố độ ẩm, yếu tố nước. Nước có vai trò to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của giới sinh vật Đà Lạt nói riêng của thành phố Đà Lạt nói chung. Song ở đây chúng tôi chỉ muốn giới thiệu với các bạn đôi nét về nước dưới góc độ tài nguyên du lịch của thành phố trên độ cao 1.500 m.
    Chúng tôi đã mời các bạn đi thăm các thác nước xuất hiện do những dòng suối, con sông "bước hụt" qua những vách núi dốc đứng của cao nguyên. Thác lớn, thác nhỏ, thác ở gần, thác ở xa trung tâm thành phố Đà Lạt có thể kể đến rất nhiều, mỗi thác nước tạo ra một vùng ẩm rừng cây, hoa lá xum xuê. Dù có bàn tay tô điểm thêm của con người hay hoàn toàn tự nhiên thì mỗi thác nước cũng đều là một thắng cảnh mỹ lệ khó có thể nói thác nào là đẹp nhất. Nếu như thác nước là những nét chấm phá sống động của phong cảnh thiên nhiên Đà Lạt thì hồ nước lại là những mảnh gương soi duyên dáng giữa núi đồi.
    Ai đã một lần nghe nói hoặc đọc sách đến địa danh Đà Lạt thì cũng đã một lần biết đến tên hồ Xuân Hương, cái tên đầy thơ mộng và gợi cảm. Hồ Xuân Hương nằm ở tung tâm thành phố, có hình dáng như một mảnh trăng lưỡi liềm với chu vi khoảng 5.000 m, gác chênh chếch theo hướng đông bắc - tây nam. Nhìn toàn cảnh từ con suối đổ vào hồ ở đầu đông bắc rồi con suối từ hồ đổ ra ở đầu tây nam thì hồ có dáng dấp một hồ nhân tạo, có nguồn gốc từ một khúc sông được đắp đập chặn ở hai đầu để giữ nước. Nhưng cũng có người muốn cắt nghĩa nguồn gốc hình thành hồ là do một đứt gãy kiến tạo; đứt gãy này có liên quan đến việc hình thành hàng loạt các hồ khác như hồ Mê Linh, hồ than thở. Cho dù là nguồn gốc như thế nào đi nữa thì hồ Xuân Hương cũng đã và đang tồn tại như một cảnh đẹp nổi tiếng của một thành phố đẹp. Xung quanh hồ là một con đường nhựa láng bóng, xe ô tô chạy êm ru, không hề gây cho khách bộ hành cảm giác khó chịu vì bị bụi phả vào mặt, hay vì những tiếng còi đinh tai nhức óc như ở các thành phố huyên nào không khí sản xuất và thương mại. Viền quanh hồ cũng là một vườn hoa lớn sắc màu rực rỡ với những hàng rào xanh xén tỉa duyên dáng. Từng đoạn từng đoạn lại xuất hiện một ngã ba rẽ xuống đường bờ hồ theo một con dốc nhẹ; nghĩa là từ mọi hướng đều có những con đường đổ về hồ. Bao quanh hồ là các dãy đồi, quả đồi cứ cao dần, cao dần tầng tầng lớp lớp như kiểu kiến trúc của một sân vận động vĩ đại. Vì vậy không phải chỉ có những dãy phố ven hồ mới có điều kiện ngắm hồ mà từ những chiếc lan can kiểu cách hoặc từ những chiếc sân thượng tân kỳ của các toà biệt thự ở cách rất xa hồ người ta vẫn có thể hướng về hồ, ngắm cảnh hồ và tận hưởng những làn gió mát từ hồ thoảng tới. Những đêm pháo hoa rực rỡ tên bầu trời hồ Xuân Hương hầu như cả thành phố Đà Lạt đều được thưởng thức một cách trọn vẹn. Và trong những đêm bình thường thì từ khung cửa sổ của các tòa nhà xây trên các quả đồi cao, ở cách xa hồ vẫn có thể nhận ra bóng dáng hồ Xuân Hương với hệ thống đèn nê-ông lấp lánh đủ để người ta phân biệt những nhành liễu thướt tha, những gốc thông gia cổ kính, những tán là hình tháp nhiều tầng của các cây sa một hoặc bách tán đứng soi bóng dưới làn nước lóng lánh như dát bạc, đôi lúc như tỏa ra trăm hồng, nghìn tía. Những tà áo dài trắng lất phất bay trên bờ hồ trong ánh nắng vàng là hình ảnh mà người Đà Lạt đã gửi gắm trăm nhớ ngàn thương. Nước hồ Xuân Hương luôn luôn được thay đổi nên lúc nào cũng trong sạch. Những chiếc xe đạp nước mang hình dáng thiên nga vẫy chào các bạn trẻ với tấm lòng nhiệt tình mến khách. Những phút dạo chơi trên mặt hồ Xuân Hương chắc chắn sẽ là khó phai mờ trong ký ức mọi người.
    Khách tham quan thành phố "Paris nhỏ" không ai không trầm trồ trước cảnh hồ Xuân Hương tuyệt diệu. Giống như hồ Gươm của Hà Nội, hồ Xuân Hương đã được các nhà nhiếp ảnh thu vào ống kính theo nhiều góc độ khác nhau để giới thiệu như là một nét đặc biệt của Đà Lạt. Thế nhưng cũng có du khách còn đôi chút chưa toại nguyện, cho rằng vì nằm ở trung tâm thành phố nên hồ Xuân Hương còn thiếu vẻ trầm tĩnh thích hợp để cảnh sắc tăng thêm chất thơ và tăng thêm vẻ huyền ảo, mộng mơ. Nếu quả vậy xin mời khách tới thăm hồ Than Thở, một cái hồ mà tên của nó đã gợi trí tò mò của mọi du khách gần xa. Hồ Than thở nằm ở phía đông bắc Đà Lạt, cách trung tâm thành phố chừng km. Nơi đây rõ ràng thông với nước như quyện vào nhau. Giữa một rừng thông mênh mông tưởng chừng như bất tận lộ ra một khoảng trời trong xanh chiếu sáng mặt nước của một chiếc hồ dài hầu như lúc nào cũng lăn tăn gợn sóng. Trên bờ hồ, dưới tán thông là một thảm cỏ mềm mại, xanh mượt, tràn đầy sức sống. Một không khí yên lặng gần như tuyệt đối bao trùm lên cảnh vật. Một sự yên lặng đến kỳ lạ khiến cho ai nấy dù có hiếu động đến đâu cũng không nỡ làm cho thiên nhiên náo động. Tất cả chỉ còn lại một thứ âm thanh đặc biệt: Tiếng thông réo như từ đâu đó xa tít vọng về từng đợt, từng đợt kéo dài dư âm trên mặt nước hồ im ắng. Trong cảnh huống này những người giàu cảm xúc dễ nẩy ra những tứ thơ đượm buồn man mác, dễ hình dung ra tiếng ai than, ai thở trong nỗi niềm uẩn khúc, u hoài. Hình như trước đây đã có một nhà văn nào đó xây dựng nên nơi bờ hồ này câu chuyện về một mối tình trắc trở để cắt nghĩa cho cái tên hồ "Than Thở". Đi chơi hồ bạn hãy chiêm nghiệm mà xem, cái cảm giác than thở, thở than ấy hình như không thể nào vụt tan đi được, nó chỉ mờ dần, chìm dần vào ký ức khi ô tô đưa bạn về lại trung tâm thành phố trong tiếng ồn ào của phố phường nhộn nhịp.
    Dạo chơi quanh hồ Than Thở là một dịp tốt làm thư giãn thần kinh, làm tâm hồn thư thái, lấy lại cân bằng thể lực sau những ngày làm việc căng thẳng đầu óc, mệt mỏi.
    Vượt qua một cái đập nhân tạo, men theo một dòng suối nhỏ, ta sẽ đến một "mảnh gương soi" nữa của Đà Lạt. Đó là hồ Mê Linh. Quanh hồ là một con đường nhựa mang tên hồ. Tuy cách xa nhau không là mấy, thậm chí có người cho rằng hai hồ Mê Linh và Than Thở chỉ là hai khúc của cùng một con sông cũ, song cảnh sắc hai nơi hầu như khác hẳn nhau. Hồ Mê Linh có vẻ đẹp của một sự kết hợp hài hòa giữa thành tạo tự nhiên và những công trình kiến trúc mỹ thuật của con người. Kiến trúc quanh hồ không thiên về to lớn, đồ sộ mà chủ yếu là xinh xắn và kiểu cách. Hình như các chủ nhân của các biệt thự bên hồ này không ai có ý định làm thay đổi dáng vẻ tự nhiên của tạo hóa mà chỉ muốn tô điểm thêm đôi nét thật tinh xảo để cho cảnh hồ càng thêm đẹp, thêm duyên.
    Trong thành phố còn có hồ Vạn Kiếp và một số hồ nhỏ khác. Cũng như các thác nước, mỗi hồ từ nhỏ đến lớn đều là một thắng cảnh không thể bỏ qua. Đối với hoạt động du lịch "những mảnh gương soi giữa núi đồi" là những cảnh đẹp hiếm thấy, vì vậy cần phải biết khai thác triệt để sao cho vừa thỏa mãn nhu cầu chiêm ngưỡng cảnh đẹp, vừa có được những phút vui chơi giải trí bằng những hoạt động thể thao lành mạnh trên mặt nước hồ và bên bờ hồ.
    Du khách từ nhiều nơi đến với Đà lạt có thể có những cách nhìn khác nhau, có thể đặt cho Đà Lạt những cái tên khác nhau. Riêng về quang cảnh tự nhiên thì hầu như mọi người đều thống nhất nhận định rằng sự kết hợp nhuần nhị giữa thông và nước trong điều kiện khí hậu của mùa xuân vĩnh cửu trên cao nguyên vùng nhiệt đới chính là nét đặc trưng độc đáo của Đà Lạt, không thể tìm ra một địa điểm tương tự trên khắp lãnh thổ nước ta. Xuất phát từ nhận định này có tác giả đã cắt nghĩa nguồn gốc của địa danh Đà Lạt là do một sự ghép tự giữa "đà" theo tiếng dân tộc là nước và "lạt" là thông. Nhưng lại cũng có tác giả cho rằng "đà" biến âm từ âm "dak" trong "Dak Cam Ly" (nghĩa là dòng suối Cam Ly) và "lạt" là tên xưa của một bộ tộc người đầu tiên sinh sống bên bờ suối Cam Ly này. Lúc đó quanh suối Cam Ly còn là một vùng rừng hoang vu, tĩnh mịch, các loài chim thú đều vô cùng phong phú.
    Như vậy là có thể cắt nghĩa định danh "Đà Lạt" theo nhiếu cách khác nhau. Mỗi cách cắt nghĩa đều cho thấy địa danh phản ảnh một khía cạnh nào đó của cảnh quan tự nhiên. Song, Đà Lạt khi đã mệnh danh là "Paris nhỏ" thì vẻ đẹp "trời phú" đã được con người tô điểm thêm với những hiểu biết về thẩm mỹ ở trình độ cao và kỹ thuật kiến trúc thuộc vào hàng tiên tiến. Chính vì vậy Đà Lạt đã trở thành một thành phố nghỉ mát hiện đại, có tầm cỡ quốc tế.
    Ở một xứ nóng như nước ta việc xây dựng các khu nghỉ mát, đảm bảo cho người lao động có điều kiện nghỉ ngơi, bồi bổ sức khoẻ cho những ngày hè oi bức là yêu cầu tối cần thiết. Là một đất nước mang tính chất bán đảo, nhiều đồi núi, thiên nhiên mang sắc thái nhiệt đới gió mùa ẩm, phân hóa rất đa dạng chúng ta có rất nhiều phong cảnh đẹp. Nhiều nơi có thể xây dựng thành những khu nghỉ mát, các địa điểm du lịch có giá trị. Trong mùa hè để tìm nơi có nhiệt độ hạ thấp, có khí hậu mát mẻ trong lành, chúng ta có thể đi theo hai hướng: ra bờ biển và lên núi cao. Suốt dọc bờ biển từ Móng Cái cho đến Hà Tiên nước ta có vô số các bãi tắm đẹp, các khu nghỉ mát trên cao cũng có rất nhiều, nổi tiếng nhất là Sa Pa, Tam Đảo, Đà Lạt. Tuy mỗi nơi có một vẻ đẹp, một sức hấp dẫn riêng, nhưng có lẽ không khu nghỉ mát trên cao nào sánh được với Đà Lạt. Ưu thế của Đà Lạt thể hiện ở tất cả các mặt: nghỉ mát, bồi dưỡng sức khoẻ, chiêm ngưỡng các cảnh quyến rũ của thiên nhiên, thưởng thức những công trình kiến trúc, những sáng tác nghệ thuật tuyệt vời của con người.

  • adminA

    **Đà Lạt, thủ phủ của những loài hoa **

    Nhờ nằm ở độ cao một ngàn năm trăm mét trở lên mặc dù ở một vĩ độ thấp (11độ 57 phút), thuộc một xứ sở mà "chỉ hai bước nhảy là tới xích đạo" như lời nhận xét của một tác giả phương Tây nào đó, Đà Lạt vẫn mát mẻ quanh năm. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 18 độ C. Nhiệt độ đó phân bổ khá đều hòa trong năm. Trung bình tháng nóng nhất không quá hai mươi độ, tháng lạnh nhất ít khi xuống dưới mười lăm độ. Lượng mưa dao động từ 1.500mm đến 1.800mm. Mặc dù cũng có một mùa khô, nhưng mùa khô Đà Lạt không gay gắt và kéo quá dài như các vùng khác ở Tây Nguyên. Không đâu trên đất nước ta lại được thiên nhiên ưu ái như Đà Lạt. Đây là vùng rất thích hợp với việc trồng một số loài cây quý có nguồn gốc ôn đới. Trong đó, từ nhiều năm nay hoa đã chiếm giữ một vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng và là nguồn xuất khẩu đáng tự hào của Lâm Đồng.
    Ngoài một khối lượng hoa khá lớn đưa về thành phố Hồ Chí Minh và một vài thành phố khác của miền Nam, trước đây, hằng năm Đà Lạt xuất khẩu ra nước ngoài hơn 20 tấn hoa. Năm cao nhất đạt gần 30 tấn. Trồng hoa và xuất khẩu hoa tươi đã trở thành một nghề sản xuất truyền thống, một ngành hoạt động kinh tế quan trọng đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho một bộ phận khá đông bà con Đà Lạt.
    Có thể gọi Đà Lạt là thành phố hoa. Riêng lan, ở Đà Lạt có gia đình trồng được trên 300 loại khác nhau (1).
    Ngoài những loại hoa quen thuộc, ở Đà Lạt còn có những loài (2) hoa độc đáo ít thấy có ở những nơi khác chỉ mới nghe tên đã gợi niềm mơ ước được ngắm nhìn: hoa "Quận chúa", hoa "Vũ nữ", hoa "Thiên điểu". Có loài hoa tên gọi là "Bất tử" nom nó rất giống hoa Cúc Đồng Tiền nhưng rất nhiều màu sắc: đỏ , tím, vàng... quanh năm thắm màu tốt tươi. Hoa "óoc-tăng-xia", hoa "Mimoza" thì trông như những chùm bóng bay màu vàng tỏa hương thơm ngát. Hoa "Lồng đèn" trông tực chiếc đèn lồng màu đỏ lơ lửng trên nhành cây.

    (1) Hiện nay con người đã biết 230.000 loài hoa, trong đó có hơn 30.000 loài được sử dụng và 12.000 loài được vun trồng chăm bón. Riêng lan đã phát hiện được khoảng 750 chi với từ 20.000 đế 25.000 loài. Phong lan là họ lớn nhất trong lớp một lá mầm và là họ lớn thứ hai sau họ cúc (Asteraceae) trong ngành thực vật.
    (2) Từ "loài", "giống" dùng trong cuốn sách này chỉ là những từ ngữ dùng theo thói quen để chỉ sự biệt lập giữa cá thể này với cá thể khác, hoàn toàn không có ý nghĩa về phân loại.

    Vường Bích câu và những loài hoa quý
    Men theo bờ hồ Xuân Hương đi dọc đường Trần Quốc Tuấn, vượt qua chiếc cầu, từ đó nước hồ chảy vào suối Cam Ly, vòng bên phải lần theo đường Nguyễn Thái Học và tiếp đó là đường Bà Huyện Thanh Quan, đi miết lên phía bắc, vườn Bích Câu nằm cạnh một con suối nhỏ kẹp giữa hai ngọn đồi. Một bên là đồi Sân Cù, cao 1.508 mét và bên kia, ngọn đồi khác cao 1.503 mét. Trên đồi lúp xúp những lùm cây nhỏ xen một vài khóm thông thưa và đây đó những mảng rừng xanh còn sót lại. Vườn Bích Câu nằm chênh chếch ở chân đồi, nơi có con suối nhỏ đổ vào hồ.
    Vườn không rộng lắm nhưng có bao nhiêu là hoa đẹp. Bước vào công viên, dọc hai bên lối đi là những luống hoa Tú Cầu. Nó còn những tên gọi khác nôm na nhưng nghe rất hấp dẫn: hoa Bút Tiên, hoa Mâm xôi đang mùa nở rộ. Loài hoa, luôn thay đổi màu sắc có bông rất to. Mỗi bông là cả một chùm hoa lớn đến nỗi chiếc cành trở thành quá mảnh mai cứ chao đảo hoài trước mỗi làn gió thoảng. Dưới ánh sớm ban mai, những cụm hoa chen chúc làm sáng cả một mẩu vườn trông cứ như những nạm ngọc long lanh muôn ngàn tia sáng hồng, sắc tía. Tú cầu vừa rực rỡ muôn màu lại vừa mộc mạc đậm đà tràn đầy một sức sống tiềm tàng của nhựa đất, hương trời. Không phải chỉ có ở vườn Bích Câu mà Tú Cầu còn được trồng ở nhiều nơi: trong mỗi vườn, tại các câu lạc bộ. Hoa trồng trong các chậu cảnh đặt trước phòng khách của ủy ban, của Ty nông nghiệp, Chi cục thống kê, khách sạn Đà Lạt, Palace, Duy Tân, Ngọc Lan v.v... Tú Cầu được trồng rất nhiều ở trước nhà ga. Có lẽ không đâu bằng Đà Lạt, tú cầu được trồng rất nhiều và đẹp đến thế!
    Men theo một lối đi nhỏ, qua khỏi những căn nhà xinh xinh, có lẽ là nhà đón khách, núp bóng dưới rặng cây Hồng trà, một loại cây cảnh giống như cây liễu lả lướt xõa làn tóc mềm mại buông dài gần chấm đất đung đưa trước gió. Chẳng hiểu vì đâu loại cây này lại được gọi là "Hồng". Nom nó thật quá xa lạ với các loại Hồng mà ta thường gặp. Một dàn Mống rồng đầy hoa, chìa những cành vàng rực phe phẩy như vẫy gọi như mời chào du khách đừng vì quá vội đến khu vườn chính mà quên sự có mặt của chúng. Và lạ thay người nào đi qua cũng nâng khẽ cành hoa đưa sát vào mũi thơm nhẹ đài hoa rồi khẽ khàng buông cành rảo bước. Nhìn hoa lòng tôi chạnh nhớ tới mấy câu trong bài thơ ? Hoa Mống rồng mùa thu? của Võ Thanh An:

    • "Lại nhớ nhau khi mỗi lúc thu về *
    • Náo nức con đò *
    • Náo nức bờ đê *
    • Dòng nước xoáy cuốn theo bao bèo bọt *
    • Hoa Mống rồng chín ở đâu mà thơm như mít mật *
    • Hơn một lời thề hoa lại đến dâng hương..." *
      Trong vườn, những luống hoa dăng hàng thẳng tắp. Nào Trà Mi, Thông xà, nào Lồng đèn, Đỗ Quyên, nào Hồng, nào Cúc, Thược Dược, Lay- dơn, Xác pháo, Cốt mốt, Păng xê v.v.. Không sao kể xiết! Có những tên hoa nghe rất lạ: Britgit Bac dot, Vanda, Parisbii, Odorata, Côcơlicôv.v.. Côcơlicô mảnh mai óng ả, sắc hoa vàng tươi nom rất đẹp mắt chỉ nhìn thấy hoa đã những muốn nâng niu. Còn hoa Xu xi ở đây thì có đến mấy loại khác nhau. Có loại cánh đơn màu vàng nhạt, có loại màu đậm hơn cánh kép. Có những loại vừa mới nhập vào ta từ đất nước xa xôi. Đến đây hoa hòa nhập ngay với cuộc sống tốt lành của cao nguyên, đang đua sắc cùng bao loài hoa khác. Mỗi luống là một dòng hoa tất cả đều vươn cành khoe sắc. Thật khó có thể phân biệt được hoa nào đẹp hơn hoa nào. Tôi chợt nảy ra ý nghĩ so sánh và hỏi người bạn đi cùng:
    • Anh thích nhất loại hoa nào?
    • Bây giờ thì tôi chỉ thích có được bông Hồng vàng kia để tặng chị - Anh bạn tôi nói đùa và đưa tay chỉ mấy khóm hồng phía trước. Cô bạn gái đi cạnh, nghe vậy cũng góp vui: - còn em chỉ thích Hồng nhung, màu sắc của nó mới thắm rực làm sao. Tôi bỗng nhớ tới một câu phương ngôn không biết đọc được ở đâu ? Về sắc đẹp và khẩu vị không nên tranh cãi hơn thua?. Còn ở nước ta, Nguyễn Du cũng đã nói lời bất hủ ? Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?. Nghĩ vậy nên tôi bỏ ý định tìm hiểu xem hoa nào đẹp nhất. Quả vậy, tùy lứa tuổi và tùy tâm trạng ở mỗi lúc mỗi nơi mà người ta chọn để trao gởi cho nhau hoa này hay loài hoa khác. ở Hà Nội đã trở thành tục lệ, trong ngày cưới chú rể tặng cô dâu bó hoa Lay-dơn trắng. Khác với Hà Nội, ở Sài Gòn, Đà Lạt... cô dâu lại thích ôm bó Hồng bạch kết tua dài. Còn nếu như ở Hà Nội, các cụ coi việc sưu tầm hoa Phong Lan là niềm vui của tuổi già thì ngược lại ở Đà Lạt phần đông các cụ thích trồng và ngắm Địa Lan. Hoa Hồng biểu tượng của tình yêu và sắc đẹp được giới thanh niên ưa chuộng hơn cả. Còn các cụ thích Cúc và Lan. Không biết tự bao giờ mà nhân dân ta từ nam lên bắc bắc đều dùng hoa Huệ phúng viếng ma chay. Trong các đền chùa cổ kính, trên các bàn thờ tổ tiên bên cạnh bát hương, lư trầm bao giờ cũng có bó Huệ trắng trong một màu thanh khiết, hương thơm dịu, hắt hiu, gợi niềm nhớ tiếc dến nao lòng.
      Ở vườn Bích Câu, Thông xà, Trà mi trồng thành hàng. Hai loại cây này nghe đâu phải mất mười lăm, hai mươi năm mới cao được một, vài mét. Bán rất đắt tiền. Một bồn hoa, những người chịu chơi, dám bỏ hàng trăm "đô" để mua cho các quý phu nhân. Thường ở những nhà khách lớn và nơi giao tế người ta phải mua một chục ngàn đồng một gốc Hồng trà hoặc Bạch trà để trang trí. Lần đầu tiên ở Đà Lạt tôi được biết loại Trà mi đỏ. Còn Hồng thì có đến năm, bảy loại khác nhau: Hồng nhung, Hồng đào, Hồng phấn, Hồng bạch và thật dến ngỡ ngàng khi đứng trước vẻ đẹp lạ lẫm của những bông hồng đen, hồng tím. Có ai đó vừa ngắm hoa vừa thích thú ngâm nga, ghép thêm vần cho bài thơ "Thơ xuân nói chuyện hoa" của Tế Hanh:
      *"Không chỉ có hoa hồng - hồng *
      *Mà còn hoa hồng - đỏ *
      *Còn nữa hồng - trắng sữa *
      *Còn nữa hồng - vàng *
      *Vẫn còn... còn nữa. *
      *Đà Lạt còn có hồng - xanh *
      *Hồng - tím *
      *Hồng - đen" *
      Ở Việt Nam ta, có lẽ hồng nhung được ưa chuộng hơn cả. Hồng nhung Đà Lạt vừa to bông, hương thơm dịu. Mỗi ngày lễ, tết, mỗi bông giá hàng trăm đồng. Hồng vàng cũng đẹp lắm. Chả vậy mà vẫn thường nảy ra những cuộc tranh luận: hồng nhung và hồng vàng hoa nào dẹp hơn? Khách châu Âu thường chọn mua hồng vàng. Sắc màu vương giả, thanh cao của nó thường gợi niềm quý mộ. Còn hồng bạch ít khi thiếu mặt trong lễ cưới. Nó được dùng để kết vòng cho các cô dâu và cài lên ngực áo các chàng rể mới. Ở châu Âu người ta gọi hồng bạch là "Maries" có nghĩa là "cô dâu" là "hoa cưới". Trước đây, riêng hồng mỗi năm bán thu về hàng chục triệu dồng, đem lại nguồn lợi không nhỏ cho các gia đình trồng hoa. Chẳng biết đã có ai may mắn được dịp so sánh hoa hồng Đà Lạt với những bông hồng thuộc "xứ sở hoa hồng" hay chưa? Có điều chắc chắn nếu xét riêng về thời khí và đất đai của Đà Lạt, thì những đều kiện trồng hồng ở Đà Lạt không thua kém về bất cứ phương diện nào so với Bungari. ở đây còn một loài hoa nữa rất lạ mắt và đẹp gọi là cây lễ bạn. Trên chiếc cành rất thẳng, tròn vươn cao những chiếc lá hình lưỡi mác giống như một chùm sáng xanh tia ra các phía. Dưới vòm lá có năm bông hoa quây tròn, chúc ngược lên màu đỏ rực. Mỗi bông hoa có sáu tràng hoa đỏ, hằn lên đều đặn những dường gân mảnh màu vàng tươi tựa những chiếc đèn chùm bóng kính đỏ vàng. ở phần đáy phủ một lớp lông tơ màu huyết dụ có dính điểm ở những chấm sáng tròn lung linh như những ánh sao nhỏ xíu. Một chùm nhụy hoa vươn dài phóng ra tia vàng làm cho nhành hoa trở nên lộng lẫy rực sáng như cả bảy sắc cầu vồng đều quy tụ tại đây, trên một nhành hoa.
  • adminA

    **Sự tích các loài hoa **

    Ngoài sắc đẹp rực rỡ, layơn còn được yêu chuộng bởi một sự tích cảm động về lai lịch của nó. Tương truyền rằng:
    Ngày xưa tại thành Rôm-ma có viên tướng tài tên là Bec-ba Ga-lô. Trong một trận đánh chống người tơ-re-vơ, ông bắt được hai viên sĩ quan trẻ tuổi làm tù binh. Một người tên là Tê-rex còn người kia là Xêp-ta. Họ là những chàng trai phong nhã, tài ba. Ngoài tài thao lược họ còn tinh thông cả âm nhạc, hội họa, thơ ca. Và, thật là oái ăm cả hai người con gái của viên tướng đều đem lòng yêu thương các chàng trai. Biết được điều này Bec-ba Ga-lô vô cùng tức giận. Ông tìm cách giết hại các chàng trai trẻ bằng cách bắt họ đấu kiếm để giết hại lẫn nhau. Tê-rex và Xêp-ta không muốn bị làm nhục bèn cắm phập lưỡi kiếm xuống đất, thà chịu tội chết chứ quyết không đấu kiếm cùng nhau. Lập tức hai người bị chém đầu. Đầu hai chàng trai vừa rơi xuống đất thì lạ thay từ hai thanh kiếm vươn ra những chiếc lá dài sắc nhọn và ở mỗi nách lá đâm ra một bông hoa thắm màu rực rỡ. Đó là cây hoa Layơn quen thuộc ngày nay. Tiếng La-tinh gọi cây hoa này là Gia-dia-lus có nghĩa là cây hoa hình lưỡi kiếm.
    Đến vườn hoa trồng lay-dơn Đà Lạt những người không sành lắm về loài hoa cũng có thể phân biệt được hàng chục loài khác nhau. Có loại mà đỏ cờ, đỏ tía, hồng đào, hồng nhạt, có loại màu vàng, màu tím, màu trắng sữa? Nhờ có kỹ thuật lai ghép tạo giống tài tình và đôi tay vàng khéo léo của những nhà làm vườn mà mỗi giống hoa có thể tạo được nhiều thang màu đậm nhạt khác nhau. Dù chỉ một lần được đến thăm vườn Dơn Đà Lạt sẽ còn đọng mãi trong lòng ta sắc màu tươi thắm, tràn trề ánh sáng vui tươi ấm áp. Và sau đó cứ mỗi lần nghĩ lại đều thấy dâng lên niềm vui lâng lâng...
    Chúng ta vẫn quen nghĩ cây gì đẹp và quý đều hiếm và khó nuôi trồng. Vậy mà layơn Đà Lạt lại vô cùng phong phú. Từ các vườn hoa ở ấp Hà Đông đến ấp Trung Bắc, Đa Thiện, Lam Sơn, sang ấp Thái Phiên, Tây Hồ, vườn hoa nào cũng có layơn. Đến nỗi layơn mọc dại cả ở giữa nơi thanh thiên bạch nhật trên các khóm cỏ ở hai bên vệ đường. Chỉ có điều là layơn để giống khá công phu. Để có được hoa đẹp, cành dài, mẩy và to bông người ta phải chọn hạt giống ngay từ đầu ở những bụi hoa tốt nhất. Hạt gieo lần thứ nhất, cây lớn lên rồi tàn lụi đi, đào lấy củ, vặt sạch rễ và lớp lá khô bọc ngoài đem phơi héo. Sau đó đem trồng lần thứ hai. Cây sẽ trổ hoa nhưng phải ngắt bỏ hết lượt. Chờ cho cây rụi lá lần nữa, đào lên và đem trồng lần thứ ba. Lần này cây sẽ trổ bông to, đẹp, sắc thắm đượm, cánh dày. Về mặt thương mại, ở Đà Lạt layơn đứng đầu trong các loài hoa. Trong số vài, ba chục tấn hoa tươi xuất khẩu hàng năm. Layơn chiếm tỷ lệ cao nhất. Hoa vừa đẹp vừa dễ bảo quản lại bền. Nếu biết gìn giữ mỗi bình layơn có thể chơi được hàng tuần lễ. Bán ra thị trường thế giới layơn không bị tranh chấp quá khắt khe như hoa hồng. Một ưu điểm đáng kể nữa của layơn là mỗi năm có thể trồng liền hai, ba vụ. Đây cũng là điều trội hơn hẳn của Đà Lạt so với Hà Nội. Khách mua hoa trong và ngoài nước lúc nào cũng yêu chuộng layơn. Bởi vậy trong các vườn hoa gia đình thế nào cũng có trồng một vài luống hoa layơn.
    Layơn là biểu tượng của niềm vui và hy vọng, cho nên thường thường vào những dịp vui vẻ, lễ tết, nhất là vào những ngày tết nếu có được một bình Layơn vào những ngày đầu xuân này Layơn rất đắt. Nhiều gia đình vẫn cố mua mấy cành Dơn để "Lấy cái lộc đầu năm". Nếu không có được một bình toàn Layơn thì người ta cắm xen Dơn với một vài thứ hoa, lá khác. Cái vẻ rực rỡ, tràn đầy sắc màu trang trọng của Layơn mà đi với Vi-ô-lét tím biếc khiêm nhường thật là hợp. Chúng làm tăng vẻ đẹp cho nhau. Vài ba cành Dơn màu đỏ cờ hoặc trắng ngà với một bó nhỏ Vi-ô-lét trong một chiếc bình cao cổ đặt trên bàn có trải tấm khăn trắng giản dị là cả gian phòng toát lên không khí vui tươi, đầm ấm. Các gia đình cán bộ ở Hà Nội thích cắm kiểu hoa này. Nó vừa không quá đắt lại vừa đáp ứng yêu cầu ngày xuân.
    Ở các tỉnh phía Nam, các bà, các cô, lại thích cắm Layơn trong những chiếc bình rộng bằng thủy tinh hoặc bằng sành có những hình dáng khác. Chỉ cần vài ba cành Dơn nhỏ với một nhành Thiết mộc lan cắm xen với mấy bông cúc trắng hoặc cúc thạch thảo đặt trong phòng khách gia đình nom rất vui mắt mà vẫn thanh tao, trang nhã. Xúc động biết bao ! khi giữa những ngày châu Âu tuyết tràn trắng xóa, khi mà ở nước ta đang có chiến tranh ác liệt lại bắt gặp những nụ hồng, những bó lay-dơn thắm tươi của Đà Lạt. Từ tận nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn chúng ta dâng lên niềm rưng rưng xúc động. Từ sân bay Liên Khương, Tân Sơn Nhất, Lay-dơn cùng với hồng, huệ tây (lys) và nhiều loại hoa Lan theo cánh én bạc đến tận các miền băng giá châu Âu, mang niềm vui đến cho bao người trên thế giới.
    Để đưa hoa đi xa, người ta cắt những nhành hoa to bông, cuống khỏe, cứng cáp. Nếu là hồng và huệ tây bông hoa phải đang còn búp. Chọn những nụ hoa sắp nở, bóp thử thấy xốp mềm là được. Nếu là lay-dơn thì những bông dưới cùng phải vừa chúm chím hé nở. Cắt hoa về đem bọc thành từng bó nhỏ, bỏ vào túi ni lông rồi bơm hơi ẩm vào, xong dán kín để đưa lên máy bay. Đôi khi người ta không cần vẩy nước vào hoa mà chỉ khi nào cần cắm, dùng kéo cắt chéo cuống hoa, phun ít nước rồi đem cắm vào bình. Chỉ sau độ nửa giờ là hoa sẽ tươi lại và dần dần nở hết.

    Lay ơn hay là cây hoa lưỡi kiếm
    Ngoài sắc đẹp rực rỡ, layơn còn được yêu chuộng bởi một sự tích cảm động về lai lịch của nó. Tương truyền rằng:
    Ngày xưa tại thành Rôm-ma có viên tướng tài tên là Bec-ba Ga-lô. Trong một trận đánh chống người tơ-re-vơ, ông bắt được hai viên sĩ quan trẻ tuổi làm tù binh. Một người tên là Tê-rex còn người kia là Xêp-ta. Họ là những chàng trai phong nhã, tài ba. Ngoài tài thao lược họ còn tinh thông cả âm nhạc, hội họa, thơ ca. Và, thật là oái ăm cả hai người con gái của viên tướng đều đem lòng yêu thương các chàng trai. Biết được điều này Bec-ba Ga-lô vô cùng tức giận. Ông tìm cách giết hại các chàng trai trẻ bằng cách bắt họ đấu kiếm để giết hại lẫn nhau. Tê-rex và Xêp-ta không muốn bị làm nhục bèn cắm phập lưỡi kiếm xuống đất, thà chịu tội chết chứ quyết không đấu kiếm cùng nhau. Lập tức hai người bị chém đầu. Đầu hai chàng trai vừa rơi xuống đất thì lạ thay từ hai thanh kiếm vươn ra những chiếc lá dài sắc nhọn và ở mỗi nách lá đâm ra một bông hoa thắm màu rực rỡ. Đó là cây hoa Layơn quen thuộc ngày nay. Tiếng La-tinh gọi cây hoa này là Gia-dia-lus có nghĩa là cây hoa hình lưỡi kiếm.
    Đến vườn hoa trồng lay-dơn Đà Lạt những người không sành lắm về loài hoa cũng có thể phân biệt được hàng chục loài khác nhau. Có loại mà đỏ cờ, đỏ tía, hồng đào, hồng nhạt, có loại màu vàng, màu tím, màu trắng sữa? Nhờ có kỹ thuật lai ghép tạo giống tài tình và đôi tay vàng khéo léo của những nhà làm vườn mà mỗi giống hoa có thể tạo được nhiều thang màu đậm nhạt khác nhau. Dù chỉ một lần được đến thăm vườn Dơn Đà Lạt sẽ còn đọng mãi trong lòng ta sắc màu tươi thắm, tràn trề ánh sáng vui tươi ấm áp. Và sau đó cứ mỗi lần nghĩ lại đều thấy dâng lên niềm vui lâng lâng...
    Chúng ta vẫn quen nghĩ cây gì đẹp và quý đều hiếm và khó nuôi trồng. Vậy mà layơn Đà Lạt lại vô cùng phong phú. Từ các vườn hoa ở ấp Hà Đông đến ấp Trung Bắc, Đa Thiện, Lam Sơn, sang ấp Thái Phiên, Tây Hồ, vườn hoa nào cũng có layơn. Đến nỗi layơn mọc dại cả ở giữa nơi thanh thiên bạch nhật trên các khóm cỏ ở hai bên vệ đường. Chỉ có điều là layơn để giống khá công phu. Để có được hoa đẹp, cành dài, mẩy và to bông người ta phải chọn hạt giống ngay từ đầu ở những bụi hoa tốt nhất. Hạt gieo lần thứ nhất, cây lớn lên rồi tàn lụi đi, đào lấy củ, vặt sạch rễ và lớp lá khô bọc ngoài đem phơi héo. Sau đó đem trồng lần thứ hai. Cây sẽ trổ hoa nhưng phải ngắt bỏ hết lượt. Chờ cho cây rụi lá lần nữa, đào lên và đem trồng lần thứ ba. Lần này cây sẽ trổ bông to, đẹp, sắc thắm đượm, cánh dày. Về mặt thương mại, ở Đà Lạt layơn đứng đầu trong các loài hoa. Trong số vài, ba chục tấn hoa tươi xuất khẩu hàng năm. Layơn chiếm tỷ lệ cao nhất. Hoa vừa đẹp vừa dễ bảo quản lại bền. Nếu biết gìn giữ mỗi bình layơn có thể chơi được hàng tuần lễ. Bán ra thị trường thế giới layơn không bị tranh chấp quá khắt khe như hoa hồng. Một ưu điểm đáng kể nữa của layơn là mỗi năm có thể trồng liền hai, ba vụ. Đây cũng là điều trội hơn hẳn của Đà Lạt so với Hà Nội. Khách mua hoa trong và ngoài nước lúc nào cũng yêu chuộng layơn. Bởi vậy trong các vườn hoa gia đình thế nào cũng có trồng một vài luống hoa layơn.
    Layơn là biểu tượng của niềm vui và hy vọng, cho nên thường thường vào những dịp vui vẻ, lễ tết, nhất là vào những ngày tết nếu có được một bình Layơn vào những ngày đầu xuân này Layơn rất đắt. Nhiều gia đình vẫn cố mua mấy cành Dơn để "Lấy cái lộc đầu năm". Nếu không có được một bình toàn Layơn thì người ta cắm xen Dơn với một vài thứ hoa, lá khác. Cái vẻ rực rỡ, tràn đầy sắc màu trang trọng của Layơn mà đi với Vi-ô-lét tím biếc khiêm nhường thật là hợp. Chúng làm tăng vẻ đẹp cho nhau. Vài ba cành Dơn màu đỏ cờ hoặc trắng ngà với một bó nhỏ Vi-ô-lét trong một chiếc bình cao cổ đặt trên bàn có trải tấm khăn trắng giản dị là cả gian phòng toát lên không khí vui tươi, đầm ấm. Các gia đình cán bộ ở Hà Nội thích cắm kiểu hoa này. Nó vừa không quá đắt lại vừa đáp ứng yêu cầu ngày xuân.
    Ở các tỉnh phía Nam, các bà, các cô, lại thích cắm Layơn trong những chiếc bình rộng bằng thủy tinh hoặc bằng sành có những hình dáng khác. Chỉ cần vài ba cành Dơn nhỏ với một nhành Thiết mộc lan cắm xen với mấy bông cúc trắng hoặc cúc thạch thảo đặt trong phòng khách gia đình nom rất vui mắt mà vẫn thanh tao, trang nhã. Xúc động biết bao ! khi giữa những ngày châu Âu tuyết tràn trắng xóa, khi mà ở nước ta đang có chiến tranh ác liệt lại bắt gặp những nụ hồng, những bó lay-dơn thắm tươi của Đà Lạt. Từ tận nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn chúng ta dâng lên niềm rưng rưng xúc động. Từ sân bay Liên Khương, Tân Sơn Nhất, Lay-dơn cùng với hồng, huệ tây (lys) và nhiều loại hoa Lan theo cánh én bạc đến tận các miền băng giá châu Âu, mang niềm vui đến cho bao người trên thế giới.
    Để đưa hoa đi xa, người ta cắt những nhành hoa to bông, cuống khỏe, cứng cáp. Nếu là hồng và huệ tây bông hoa phải đang còn búp. Chọn những nụ hoa sắp nở, bóp thử thấy xốp mềm là được. Nếu là lay-dơn thì những bông dưới cùng phải vừa chúm chím hé nở. Cắt hoa về đem bọc thành từng bó nhỏ, bỏ vào túi ni lông rồi bơm hơi ẩm vào, xong dán kín để đưa lên máy bay. Đôi khi người ta không cần vẩy nước vào hoa mà chỉ khi nào cần cắm, dùng kéo cắt chéo cuống hoa, phun ít nước rồi đem cắm vào bình. Chỉ sau độ nửa giờ là hoa sẽ tươi lại và dần dần nở hết.

  • adminA

    Hoa lan và Hội những người trồng lan

    Vườn Bích câu vẫn chưa đại diện đầy đủ cái đẹp của hoa Đà Lạt. Nếu thăm hoa mà bỏ qua các vườn địa lan quả là một thiệt thòi. Mời bạn hãy đến các vườn lan gia đình. Từ rất sớm người Đà Lạt đã tập họp những người trồng lan vào một tổ chức gọi là "Hội những người trồng lan". Tổ chức của Hội là một tổ chức quần chúng rộng rãi có mối quan hệ quốc tế về hoạt động trồng lan và được coi là một thành viên của Hội lan quốc tế. Lan Đà Lạt đã có vinh dự tham dự triển lãm lan thế giới. Bằng con đường hoạt động của hội, kỹ thuật trồng lan, lai tạo giống mới, trao đổi giống với các nước vẫn được thực hiện thường xuyên. Các giống Móng hổ (Jade wine), Linh lan (Muguet), Vũ nữ (Antorium), Thiên điểu, Hài vệ nữ và nhiều giống hoa khác như hồng, cúc, thựơc dược đã được du nhập vào nước ta từ Honolulu, Pháp, Nhật Bản, Italia, Hồng Công, Băng Cốc... đã góp phần làm giàu thêm vườn hoa vốn đã phong phú của Đà Lạt. Ngay ở gần trung tâm thành phố, chênh chếch về phía đường Cô Giang có những gia đình trồng được hàng trăm loài địa lan. Trong đó những loài thuộc dòng lan Cymbidium, nữ hoàng của những loài lan chiếm một vị trí khá đặc biệt. Riêng tên của chúng, nếu viết đủ cả tên chữ La tinh và một vài đặc tả về nguồn gốc, màu sắc, hình dáng của chúng đã đủ để viết mấy quyển sách dày.
    Địa lan đựơc trồng trong những chậu cảnh bằng gốm, bằng sành hoặc bằng xi măng xếp san sát trong các sân nhà, trên hàng hiên và cả trên gác thượng. Tầng trên lớp dưới bao nhiêu là lan. Nào lan Hồ điệp, Linh lan, Trường kiếm, Bích ngọc, Bạch lạp, Bạch gầm, Đại kiều, Bút tiên, Hồng tuyến, Tử vân, Thanh lan, Lô hội, Gấm ngũ hồ, Xích ngọc, Mặc lan, Bạch hồng, Hồng lan... Mỗi loài mang một vẻ đẹp riêng rất độc đáo và thanh nhã. Ai đã có dịp tới thăm các vườn lan Đà Lạt đều không khỏi ngỡ ngàng, thích thú trước vẻ đẹp kỳ diệu mà thiên nhiên như cố tình dành riêng cho lan. Nhiều ?vườn? lan được đặt dưới một dàn phun vừa để tưới cho hoa vừa để che bớt ánh sáng mặt trời. Vốn thuộc dòng "quý tộc", địa lan không chịu được nóng nhiều và gió mạnh, ăn uống cũng rất kén cạnh. Bởi vậy ở ngoài vườn, các chậu lan thường được đặt dưới bóng râm của các cây thân gỗ. ánh mặt trời lọt qua màn lá thưa chỉ vừa đủ cho cây quang hợp.
    Cũng là người trồng cây, tạo ra những sản phẩm từ thực vật, vậy mà giữa những người trồng làn với những nhà nông quen thuộc mà ta vẫn cảm nhận xưa nay sao khác nhau nhiều thế. Gặp người làm vườn, trồng lan nào ta cũng tìm thấy ở họ một phong cách rất riêng. Bận bịu đấy nhưng vẫn khoan thai, rất lịch sự mà vẫn giản dị dễ gần. Nhìn họ, từ mái đầu hất ngược, đến bộ y phục đồng màu, cắt rất khéo, phong độ ung dung, động tác mềm mại khéo léo khiến ta liên tưởng nhiều đến hình ảnh người nghệ nhân hơn là một nhà nông. Mọi đồ vật trong nhà nhà từ chiếc tủ, cái bàn, chiếc lọ cắm hoa đến bộ ấm tra sạch bóng đến mỗi chậu hoa, mỗi bồn cây đâu đâu cũng thấy có bàn tay chăm chút của một năng khiếu thẩm mỹ tuyệt vời. Ngoài đôi tay vàng cắt tỉa tạo dáng cho hoa, những chủ hoa Đà Lạt còn nắm vững kỹ thuật trồng, thời vụ gieo hạt giống, cách hãm cho hoa nở theo ý muốn. Họ có kiến thức sâu rộng về nông học, về sinh vật học, nhạy bén về thị trường thương mại. Những nhà trồng lan ở Đà Lạt đã giải quyết tốt vấn đề tạo giống nuôi trồng thức ăn và tạo nên môi trường sống phù hợp với điều kiện sinh thái của mỗi loài lan. Trước đây nhiều nhà trồng lan đặt mua tạp chí của Hội lan quốc tế của Pháp, Nhật, Hà Lan v.v... Nhờ đó các luồng thông tin mới nhất về giá cả của các loài lan trên thị trường thế giới, các giống lan mới phát hiện hoặc mới lai tạo thành công, những tiến bộ mới trong kỹ thuật nuôi trồng lan kịp thời đến với mỗi gia đình.
    Những năm dài chiến tranh đã làm gián đoạn hoạt động của Hội. Nhưng đó chỉ là về mặt tổ chức. Trong thực tế những người trồng lan vẫn gắn bó với nhau bởi niềm say mê cái đẹp và yêu loài hoa quý. Nhờ vậy những giống lan quý hiếm đã không bị mai một mà có phần phong phú hơn xưa. Vô cùng cám ơn những nhà trồng hoa, những nghệ sĩ chơi hoa, người đã cho ta những giờ phút hoàn toàn thanh thản, thư thái. Đẹp biết bao nhiêu những người trồng hoa, những con người mà cả cuộc đời luôn luôn chăm lo vun trồng cái đẹp. Hôm đó, vào một buổi sáng, nắng vàng chan chứa, bác phó chủ tịch thành phố dẫn chúng tôi đến nhà ông V. Để tranh thủ thời gian bác phó chủ tịch vào đầu câu chuyện và xin phép miễn dùng trà. Hình như rất quen với sự đột nhật của những vị khách "không mời mà đến" như thế này nên ông bà V. không có vẻ gì băn khoăn mà vui vẻ bắt tay chúng tôi rồi đưa luôn ra "vườn hoa". Các chậu hoa được xếp trên một sàn xi măng rộng. Có thể xưa kia, đây là một sân chơi của gia đình này được dùng để đặt chậu hoa. Mỗi loài hoa xếp riêng ra một khoảnh sân để tiện việc chăm sóc. Bác chủ nhà đưa chúng tôi đến khoang hoa dành riêng cho Hài vệ nữ (Cypripedicideal). Có người gọi đây là loại hoa "quận chúa" là "bà hoàng" của các loại lan. Loại hoa này có nhiều giống khác nhau. Mỗi giống một sắc màu riêng và đều tỏa ra làn hương mát ngọt ngây ngất thoang thoảng mùi thơm của một loại phấn hoa đắt tiền. Xen giữa những chiếc lá xanh, vươn dài giống hình những chiếc lá láng nhưng ngắn hơn, nghiêng mình duyên dáng xòe rộng bộ y phục màu xanh. Ở giữa điểm một nhành hoa chỉ có một bông độc nhất. Bông hoa có ba tràng cánh màu vàng lốm đốm những chấm tím to nhỏ không đều nhau. Có loại cả ba cánh hoa khum khum nghiêng về một bên, khiến cho dù đứng ở góc độ nào ta cũng thấy hình một con ong lớn màu vàng, lốm đốm tím đang dang cánh. Có loại cả ba cánh hoa xòe rộng ra cả ba phía tạo nên một hình sao ba cánh đều đặn. Khi nở, cánh hoa vặn xoắn 180 độ làm cho cánh môi được đưa ra phía trước tạo nên một cấu trúc rất kỳ lạ và đẹp mắt. Ở giữa, một cánh hoa màu vàng có tia những đường gân sẫm màu, hai mép khép cuốn vào nhau, cánh đài dưới vặn ngược lên đỉnh giống hệt một chiếc hài nhỏ xíu tuyệt đẹp. Gót chiếc hài đính giữa núm cuống hoa, còn mũi chúc xuống ra phía ngoài. Giữa lòng đế hài, hơi nhích về phía gót, một cụm nhụy vàng với những chiếc vòi nhỏ vươn dài, khiến cho bông hoa vừa giống một chiếc hài màu vàng có đính những hạt cườm màu tím sẫm xen giữa những đường gân như những đường thêu lại vừa na ná hình một con ong.
    Ngắm nhìn những chiếc hài được kết bằng hoa đủ màu, chúng ta không khỏi xao xuyến, bùi ngùi nhớ tới chiếc hài của cô Tấm ngày xưa. Hòa cùng trí tưởng tượng đang đưa ta trở lại một thời thật xa xưa, trong bước đi chầm chậm thẫn thờ, chợt mắt ta bắt gặp bầy "tiên nữ" xuất hiện trong bộ xiêm y vàng óng, lộng lẫy trong tư thế một điệu ba lê uyển chuyển sắp bước ra từ những tràng nhung tím đỏ của cánh hoa Vũ nữ (Antorium) tuyệt đẹp. Tràng hoa màu nhung đỏ hình lá đề dựng nghiêng chênh chếch. Mép dưới có tia những đường gân trắng mờ trông xa giống một dải đăng ten sáng màu. Giữa tràng hoa nổi rõ đám nhụy vàng óng mượt giống hệt mũ vũ nữ ba lê. Có thể vì lẽ đó mà nó được mọi người gọi một cách thân thiết là hoa Vũ nữ.
    Chia tay với các "Vũ nữ" ta hãy đến với các chú "chim trời". Tiếng La tinh gọi là Geranium. Đó là loài hoa Thiên điểu. Bông hoa có cánh vàng, sắc tía tựa hồ một con hạc đậu trên một nhành cây cắm giữa vòm lá xanh đang chấp chới định bay.
    Còn đây, loài hoa Begonia Rex nhập vào nước ta chưa bao lâu. Giống lấy từ Italia. lá của nó đỏ thắm màu huyết dụ, lốm đốm những chấm đỏ vàng, trên có phủ lớp lông tơ mượt như nhung. Hoa có đủ màu, có ba khía trông tựa những cánh sao, hương thơm thoang thoảng, phảng phất mùi trầm hương luẩn quất đó đây trong mỗi góc vườn.
    Ở Đà Lạt không phải chỉ có địa lan, tuy không nhiều song nhà trồng hoa nào cũng có hoa phong lan* Nào tai trâu, nào Giáng hương, Phi điệp, Quế lan hương, nào Huyết nhung, Kiều đạm thanh, nào Trầm mộng, Tức mạc, Hạc đinh v.v... Loài nào cũng thơm cũng đẹp. Các dò lan đong đưa dưới các dàn có dây leo hoặc được treo trên những nhành cây. Nghe nói trước đây Đà Lạt có nhiều phong lan lắm. Trong đó có nhiều loài lan hoang dại kể cả những loài quý hiếm trên thế giới cũng tìm thấy trong các khu rừng của Lâm Đồng Đà Lạt. Hiện nay không hiểu vì sao trong các vườn lan của Đà Lạt có bao nhiêu gốc bỏ không. Lần đó tôi cứ thắc thỏm không yên mà vẫn chưa tiện hỏi, mãi về sau mới được biết là do thiếu gỗ, thiếu dây thép làm dàn, thiếu cả những tố chất để biến thức ăn cho lan. Ngoài ra còn có lý do thương mại nào nữa hay không? Đây cũng là vấn đề cần được suy nghĩ.
    Ở Đà Lạt, Tai trâu nở sớm lắm. Mới cuối tháng mười một, đầu tháng chạp hoa đã bắt đầu nở. Khác hẳn với Hà Nội mãi đến tiết xuân, vào những ngày giáp tết, Tai trâu mới bắt đầu nở hoa. Chùm hoa buông to bản, cánh hoa màu tím đỏ có những đốm vàng lấm tấm trong tựa một chiếc đai kết bằng châu ngọc mà các bậc vương tôn vẫn mang trên lễ phục. Có lẽ vì thế, nên ngoài cái tên Tai trâu nôm na, dân giã, loài hoa này còn một tên tự gọi là Đai châu. Mỗi dò Tai trâu thường có vài ba chùm hoa. Khi hoa bắt đầu nở, người ta thường chọn một vài dò đẹp nhất đem treo vào trong hiên nhà hoặc cắt cành cắm bình để ngày ngày chiêm ngưỡng sắc đẹp và hương hoa. Cái độc đáo của Tai trâu là mùi hương của nó. Hoa tỏa làn hương ngan ngát, nồng đượm. Càng về trưa hương thơm càng nồng. Hoa hào phóng, dẻo dai, suốt nửa đầu mùa xuân hoa dâng hiến cho đời toàn bộ sắc hương tuyệt diệu của mình mà không đòi hỏi một thứ gì. ít thấy có loại hoa phong lan nào bền, đẹp như Tai trâu, màu sắc rực rỡ, hương thơm, bền nở đúng vào những ngày đầu xuân lại dễ nuôi trồng.
    Quế lan hương, Phi điệp... cũng thuộc hoa lâu tàn, tuy nhiên chúng không bền bằng Tai trâu. Phi điệp có hoa màu tím hơi giống tai trâu, song mọc thưa hơn và nở vào đầu mùa hạ, cành hoa dài hơn Tai trâu. Mỗi dò Phi điệp có thể nở hàng chục cành hoa buông dài óng mượt như một suối tóc kết bằng hoa thả loà xòa. Còn quế lan hương cũng đẹp lắm hương thơm mát ngọt khiến ta liên tưởng tới một phòng trà bên tách cà phê bốc khói và chiếc bánh ngọt thơm dòn.
    Lan với vẻ kiều diễm thần tiên của nó đã được loài người biết đến từ rất sớm. Sử sách còn ghi lại rằng ở Trung Quốc từ hai ngàn năm trước công nguyên, trong một bộ sách thuốc "bản thảo" đã đề cập đến một số loài lan có dược tố như Hoàng thảo (Dendrobium), Bạch cập (Bletille Hyacinthina). Đến cuối thế kỷ thứ VI trước công nguyên, dưới thời Khổng Tử (551-479TCN) nhiều loài lan đã đi vào thơ ca, hội họa. Tầng lớp nho sĩ thời ấy coi phong lan như một biểu tượng của chí khí và tâm hồn thanh bạch của mình. Họ chơi lan, săn tìm các loài lan quý, tạo ra cho cây cái dáng tao nhã, bình dị đầy chất thơ và trữ tình. Việc thưởng thức các chậu lan Trầm mộng, Tức mạc, Hạc đinh, các dò Tai trâu, Phi điệp... đã từng là cái thú chơi phổ biến. Cho đến ngày nay, ở miền Bắc nước ta vẫn giữ còn giữ lại được nhiều phong cách chơi lan "thời thượng" này. Đây chính là chỗ khác nhau với cách chơi lan, trồng lan ở Đà Lạt. ở Đà Lạt, lan không chỉ là hiện thân của hương sắc tuyệt vời góp phần tạo nên cái đẹp cho tâm hồn con người mà nó còn là một sản phẩm hàng hóa thực sự mang lại nguồn lợi kinh tế đáng kể. Ở những nước có nghề trồng lan phát triển như Mỹ, Pháp, Tây Đức, Hà Lan, Tiệp Khắc, Hung-ga-ri, Đài Loan, Thái Lan, Nhật Bản... lãi suất hàng năm do lan đem lại không dưới ba mươi vạn đô-la. Riêng Thái Lan, hàng năm có số lần xuất khẩu là 20 triệu đô-la. Ngày nay, người ta trồng lan theo phương pháp hiện đại mang tính công nghệ cao. Lan được nhân giống bằng phương pháp cấy mô hoặc gieo hạt trên môi trường vô trùng nhằm giảm giá thành và nhanh chóng tạo nhiều mặt hàng để đưa ra thị trường. Để cho sản phẩm hoa đồng đều về quy cách phẩm chất, từ khâu chọn hạt, nhân giống làm giàn che, làm giá thể, trồng cây chắn gió đến khâu chăm sóc cho hoa trong mỗi giai đoạn phát triển, các nhà trồng lan đều phải thực hiện nghiêm ngặt những quy trình kỹ thuật thống nhất cho từng loại lan.

    (*) Tùy theo cây lan sống ở đâu, đất, hốc đá hoặc mọc trên vỏ các cây gỗ khác hoặc sống hoại, ký trên các loại cây, trên mùn xác thực vật trong rừng mà người ta phân biệt ra là phong lan hay địa lan, thạch lan.

Chia sẻ
Đang online
Hết trang — Đà Lạt Hoa
Nhật ký cộng đồng · Powered by NodeBB