Về hay ở - Tập Thơ Nguyễn Khuyến.
-
N Ngoại tuyếnToa 21
Chơi chợ trời Hương Tích - Nguyễn Khuyến
Chơi chợ trời Hương Tích
Ai đi Hương Tích chợ trời đi!
Chợ họp quanh năm cả bốn thì.
Đổi chác người tiên cùng khách bụt,
Bán buôn gió chị lại trăng dì.
Yến anh chào khách nhà mây tỏa,
Hoa quả bày hàng điếm cỏ che.
Giá áo, lợn, tằm, tiền, gạo đủ.
Bán mua mặc ý muốn chi chi.tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 22
Chơi núi Non Nước (1) - Nguyễn Khuyến
**Chơi núi Non Nước (1) **
Chom chỏm trên sông đá một hòn,
Nước trôi sóng vỗ biết bao mòn?
Phơ đầu đã tự đời Bàn Cổ, (2)
Bia miệng còn đeo tiếng trẻ con.
Rừng cúc tiền triều (3) trơ mốc thếch,
Hồn câu Thái phó (4) tảng rêu tròn.
Trải bao trăng gió xuân già giặn,
Trời dẫu già, nhưng núi vẫn non.- Núi Non Nước, một thắng cảnh nằm ven bờ sông Đáy ở thị xã Ninh Bình.
- Bàn Cổ: Ông Bàn Cổ sinh từ lúc mới có trời đất.
- Tiền triều: triều vua thời trước.
- Hòn câu thái phó: tảng đá mà thái phó Trương Hán Siêu đã ngồi câu cá.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 23
Than mùa hè - Nguyễn Khuyến
**Than mùa hè **
Tháng tư đầu mùa hạ,
Tiết trời thực oi ả,
Tiếng dế kêu thiết tha,
Đàn muỗi bay tơi tả.
Nỗi ấy ngỏ cùng ai,
Cảnh này buồn cả dạ.
Biếng nhắp năm canh chầy,
Gà đã sớm giục giã.tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 24
Vịnh mùa hè - Nguyễn Khuyến
**Vịnh mùa hè
**
Biếng trông trời hạ nước non xa,
ý khí ngày thường nghĩ đã trơ.
Cá vượt khóm rau lên mặt nước,
Bướm len lá trúc lượn rèm thưa.
Thơ Đào (1) cửa miệng đưa câu rượu
Xóm Liễu (2) quanh khe chịu tiếng khờ.
Nhân hứng cũng vừa toan cất chén,
Sấm đông rầm rập gió nồm đưa.(Tác giả tự dịch bài "Họ nhật ngẫu hứng")
- Đào tức là Đào Tiềm đời Tấn.
- Liễu Tôn Nguyên bị vua bắt tội, phải về quê, tự cho mình là ngu dại.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 25
Thu vịnh - Nguyễn Khuyến
Thu vịnh
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. (1)- Ông Đào: Đào Tiềm.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 26
Thu điếu - Nguyễn Khuyến
**Thu điếu
**
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối, buông cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 27
Thu ẩm - Nguyễn Khuyến
Thu ẩm
Năm gian nhà cỏ thấp le te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy.
Độ năm ba chén đã say nhè.tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 28
Thầy đồ ve gái góa - Nguyễn Khuyến
Thầy đồ ve gái góa
Người bảo rằng thầy yêu cháu đây,
Thầy yêu mẹ cháu có ai hay!
Bắc cầu, câu cũ (1) không hờ hững,
Cầm kính, tình xưa (2) vẫn đắng cay.
ở góa thế gian nào mấy mụ?
Đi ve thiên hạ thiếu chi thầy?
Yêu thầy cũng muốn cho thầy dạy,
Dạy cháu nên rồi mẹ cháu ngây.(Tác giả tự dịch bài "Thiền sư")
- Do câu ca dao:
"Muốn sang thì bắc cầu kiều..." - Do câu ca dao:
"Trách người quân tử vô tình,
Có gương mà để bên mình không soi"
ý nói: người đàn bà goá chê thầy đồ nhát gan, không dám mạnh bạo hơn trong việc ve gái.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
- Do câu ca dao:
-
N Ngoại tuyếnToa 29
Muốn lấy chồng - Nguyễn Khuyến
Muốn lấy chồng
Bực gì bằng gái trực phòng không?
Tơ tưởng vì chung một tấm chồng.
Trên gác rồng mây ngao ngán đợi,
Bên trời cá nước ngẩn ngơ trông.
Mua vui, lắm lúc cười cười gượng,
Giả dại, nhiều khi nói nói bông.
Mới biết có chồng như có cánh,
Giang sơn gánh vác nhẹ bằng lông.tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 30
Mừng ông nghè mới đỗ - Nguyễn Khuyến
**Mừng ông nghè mới đỗ
**
Anh mừng cho chú đỗ ông Nghè,
Chẳng đỗ thì trời cũng chẳng nghe.
Ân tứ (1) dám đâu coi rẻ rúng,
Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe.
Rượu ngon ả nọ khôn đường tránh, (2)
Hoãn (3) đẹp nàng này khó nhẽ che.
Hiển quí đến nay đà mới rõ,
Rõ từ những lúc tổng chưa đe. (4)- Ân tứ: ơn vua ban.
- Câu này rút ý câu ca dao:
Em là con gái đồng trinh
Em đi bán rượu qua dinh ông nghè.
Ông nghè sai lính ra ve,
- Trăm lạy ông nghè, tôi đã có con.
- Có con thì mặc có con.
Thắt lưng cho giòn mà lấy chồng quan.
- Hoãn: một loại hoa tai vàng.
- Câu này rút ý câu tục ngữ:
Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 31
Hỏi thăm quan tuần mất cướp - Nguyễn Khuyến
Hỏi thăm quan tuần mất cướp
Tôi nghe khẻ cướp nó lèn ông,
Nó lại lôi ông đến giữa đồng.
Lấy của đánh người quân tệ nhỉ!
Thân già da cóc có đau không?
Bây giờ mới khẽ sầy da trán,
Ngày trước đi đâu mất mảy lông.
Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa.
Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 32
Tặng đốc Hà Nam - Nguyễn Khuyến
Tặng đốc Hà Nam
Ai rằng ông dại với ông điên,
Ông dại sao ông biết lấy tiền?
Cậy cái bảng vàng treo nhị giáp,
Khoét thằng mặt trắng (1) lấy tam nguyên (2)
Dấu nhà vừa thoát sừng trâu đỏ,
Phép nước xin chừa móng lợn đen (3)
Chỉ cốt túi mình cho nặng chặt,
Trăm năm mặc kệ tiếng chê khen.- Thằng mặt trắng: do câu "Bạch diện thư sinh" chỉ người học trò.
- Tam nguyên: ba đồng bạc; còn đồng âm với chữ "Tam nguyên" là đỗ đầu luôn ba khoa: thi hương, thi hội và thi đình.
- Móng lợn đen: ám chỉ việc ông đốc học này đã có lần bị Tây đá đít.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 33
Đĩ cầu Nôm - Nguyễn Khuyến
**Đĩ cầu Nôm (1) **
Thiên hạ bao giờ cho hết đĩ?
Trời sinh ra cũng để mà chơi!
Dễ mấy khi làm đĩ gặp thời,
Chơi thủng trống long dùi âu mới thích
Đĩ bao tử càng chơi càng lịch,
Tha hồ cho khúc khích chị em cười:
Người ba đấng, của ba loài,
Nếu những như ai thì đĩ mốc.
Đĩ mà có tàn, có tán, có hương án, có bàn độc (2)
Khá khen thay làm đĩ có tông (3)
Khắp giang hồ chẳng chốn nào không.
Suốt Nam Bắc Tây Đông đều biết tiếng.
Đĩ mười phương chơi cho đủ chín,
Còn một phương để nhịn lấy chồng.
Chém cha cái kiếp đào hồng, (4)
Bạn với kẻ anh hùng cho đứng số.
Vợ bợm, chồng quan, danh phận đó,
Mai sau ngày giỗ có văn nôm.
Cha đời con Đĩ Cầu Nôm.- Cầu Nôm thuộc làng Đại Đồng ở Hải Hưng.
- Có lẽ ở đây nhà thơ nói đến Tư Hồng, một nhân vật lúc ấy làm đĩ lấy Tây.
- Có tông: có nòi.
- Kiếp hồng đào: Kiếp trăng hoa.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 34
Mừng đốc học Hà Nam - Nguyễn Khuyến
Mừng đốc học Hà Nam
Ông làm đốc học bấy lâu nay,
Gần đó mà tôi vẫn chửa hay.
Tóc bạc răng long chừng đã cụ,
Khăn thâm áo thụng cũng ra thầy.
Học trò kẻ chợ trầu dăm miếng,
Khảo khóa ngày xưa quyển một chầy. (1)
Bổng lộc như ông không mấy nhỉ?
Ăn tiêu nhờ được chiếc lương Tây.-
Một chầy: tức một tiền. Ngày xưa, mỗi thí sinh khi vào nộp quyển khảo thi, phải nộp kèm theo một tiền (60 đồng kẽm).
Mừng đốc học Hà Nam
Ông làm đốc học bấy lâu nay,
Gần đó mà tôi vẫn chửa hay.
Tóc bạc răng long chừng đã cụ,
Khăn thâm áo thụng cũng ra thầy.
Học trò kẻ chợ trầu dăm miếng,
Khảo khóa ngày xưa quyển một chầy. (1)
Bổng lộc như ông không mấy nhỉ?
Ăn tiêu nhờ được chiếc lương Tây. -
Một chầy: tức một tiền. Ngày xưa, mỗi thí sinh khi vào nộp quyển khảo thi, phải nộp kèm theo một tiền (60 đồng kẽm).
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
-
N Ngoại tuyếnToa 35
Hội Tây - Nguyễn Khuyến
Hội Tây
Kìa hội thăng bình (1) tiếng pháo reo:
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.
Bà quan tênh nghếch xem bơi trải,
Thằng bé lom khom nghé hát chèo.
Cậy sức cây đu nhiều chị nhún,
Tham tiền cột mỡ lắm anh leo.
Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu!- Hội thăng bình: hội mừng được thái bình, vui vẻ. ở đây ý nói hội mừng cách mạng tư sản Pháp thành công.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 36
Hoài cổ (1) - Nguyễn Khuyến
**Hoài cổ (1)
**
Nghĩ chuyện đời xưa cũng nực cười,
Sự đời đến thế, thế thời thôi!
Rừng xanh núi đỏ hơn ngàn dặm,
Nước độc ma thiêng mấy vạn người.
Khoét rỗng ruột gan trời đất cả,
Phá tung phên giậu hạ di (2) rồi.
Thôi thôi đến thế thời thôi nhỉ,
Mấy trắng về đâu nước chảy xuôi. (3)- Bài này tuy đầu đề là "hoài cổ" nhưng thực ra nhà thơ muốn nói lên cảnh thực dân Pháp bắt dân ta đi phu khai mỏ ở miền núi, đắp đường xe lửa v.v... bị chết nhiều.
- ý nói đất nước ta.
- ý nói: vận mệnh của đất nước hồi bấy giờ chẳng khác nào như mây trôi dạt, nước chảy xuôi
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 37
Cuốc kêu cảm hứng - thơ Nguyễn Khuyến
**Cuốc kêu cảm hứng
**Khắc khoải đưa sầu giọng lửng lơ,
ấy hồn Thục đế thác bao giờ?
Năm canh máu chảy đêm hè vắng,
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ.
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi,
Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ.
Thâu đêm ròng rã kêu ai đó.
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ.tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 38
Chốn quê -thơ Nguyễn Khuyến
**Chốn quê **
Năm nay cày cấy vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.
Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.
Sớm chưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.
Tằn tiện thế mà không khá nhỉ?
Nhờ trời rồi cũng mấy gian kho.tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 39
Than nợ - thơ Nguyễn Khuyến
Than nợ
Quản chi công nợ có là bao!
Nay đã nên to đến thế nào?
Lãi mẹ lãi con sinh đẻ mãi,
Chục năm chục bảy tính nhiều sao?
Ra đường kẻ cả dừng chân hỏi, (1)
Vào cửa người sang ngửa mặt chào. (2)
Quyết chí phen này trang trải sạch,
Cho đời rõ mặt cái thằng tao.- Câu này ý nói: vay nợ của nhiều người nên ra đường ai gặp cũng hỏi nợ.
- Câu này ý nói: vì có nợ nên khi vào nhà chủ nợ phải tỏ thái độ vồn vã, kính trọng.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 40
Nước lụt Hà Nam - thơ Nguyễn Khuyến
**Nước lụt Hà Nam
**Quai Mễ Thanh Liêm đã lở rồi,
Vùng ta thôi cũng lụt mà thôi
Gạo dăm ba bát cơ còn kém,
Thuế một vài nguyên dáng vẫn đòi.
Tiếng sáo vo ve chiều nước vọng.
Chiếc thuyền len lỏi bóng trăng trôi.
Đi đâu cũng thấy người ta nói,
Mười chín năm nay lại cát bồi.tác giả: ( Nguyễn Khuyến )