Về hay ở - Tập Thơ Nguyễn Khuyến.
-
Ngoại tuyếnToa 14
Mừng con dựng được nhà - Nguyễn Khuyến
Mừng con dựng được nhà
**Nghĩ ta, ta cũng sướng ru mà,
Mừng thấy con ta dựng được nhà
Năm mới lệ thường thêm tuổi một,
Cỗ phe ngôi đã chốc bàn ba. (1)Rượu ngon đến bữa nghiêng bầu dốc,
Chữ "dại" đầu năm xổ túi ra. (2)
Một khóm thủy tiên năm bảy cụm,
Xanh xanh như sắp thập thò hoa.**- Bữa tiệc do phe giáp, một tổ chức nhỏ trong làng, làm lễ mừng thọ các bậc bô lão. ở đây ý nói nhà thơ cũng đã vào bậc bô lão 60 tuổi trở lên rồi.
- ý nói ngâm vịnh nhiều.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
Ngoại tuyếnToa 15
Vịnh tiến sĩ giấy - Nguyễn Khuyến
**Vịnh tiến sĩ giấy
****IRõ chú hoa man (1) khéo vẽ trò,
Bỡn ông mà lại dứ thằng cu.
Mày râu mặt đó chừng bao tuổi,
Giấy má nhà bay đáng mấy xu?
Bán tiếng mua danh thây lũ trẻ,
Bảng vàng bia đá vẫn nghìn thu.
Hỏi ai muốn ước cho con cháu,
Nghĩ lại đời xưa mấy kiếp tu.II
Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai.
Cũng gọi ông nghè có kém ai.
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, (2)
Nét son điểm rõ mặt văn khôi. (3)
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh thế mới hời! (4)
Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ,
Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!**- Hoa man: người thợ làm nghề hàng mã.
- Giáp bảng: bảng đề tên từ học vị tiến sĩ trở lên.
- Văn khôi: đầu làng văn. ở đây chỉ người có đỗ đạt cao.
- Hời: giá rẻ.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
Ngoại tuyếnToa 16
Lời vợ anh phường chèo - Nguyễn Khuyến
**Lời vợ anh phường chèo
**
Xóm bên đông có phường chèo trọ,
Đương nửa đêm gọi vợ chuyện trò:
Rằng: "ta thường làm quan to,
Sao người coi chẳng ra trò trống chi?"
Vợ giận lắm mắng đi mắng lại:
"Tuổi đã già sao dại như ri?
Đêm hôm ai chẳng biết chi,
Người ta biết đến thiếp thì hổ thay!
ở đời có hai điều nên sợ:
Sống chết người, quyền ở trong tay.
Thế mà chàng đã chẳng hay.
Còn ai sợ đến phường này nữa chăng?
Vả chàng vẫn lăng nhăng túng kiết,
Cuộc sinh nhai chèo hát qua thì,
Vua chèo còn chẳng ra gì,
Quan chèo vai nhọ (1) khác chi thằng hề".- Vai nhọ: người đóng trò bôi mặt lem nhem.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
Ngoại tuyếnToa 17
Bồ tiên thi - Nguyễn Khuyến
**Bồ tiên thi (1)
**Chú huyện Thanh Liêm khéo giở trò,
"Bồ tiên thi" lại lấy vần bồ.
Nghênh ngang võng lọng nhờ ông sứ,
Ngọng nghẹo văn chương giở giọng ngô.
Bồ chứa miệng dân chừng bật cạp,
Tiên (2) là ý chú muốn vòi xu!
Từ vàng sao chẳng luôn từ bạc,
Không khéo mà roi nó phết cho.- Bồ tiên: cái roi bằng cỏ bồ mà Lưu Khoan, một ông quan đời Hán nổi tiếng nhân từ, dùng để đánh tội nhân. Dựa vào điển này, tên tri huyện đã mở cuộc thi thơ và ra đầu đề là "bồ tiên thi" ngầm ý khoe mình là người biết thương dân.
- Tiên: "tiên" nghĩa là cái roi, đồng âm với chữ "tiên" nghĩa là đồng xu.
tác giả ( Nguyễn Khuyến )
-
Ngoại tuyếnToa 18
Vịnh núi An Lão - Nguyễn Khuyến
**Vịnh núi An Lão
**
Mặt nước mênh mông nổi một hòn,
Núi già nhưng tiếng vẫn còn non, (1)
Mảnh cây thưa thớt đầu như trọc,
Ghềnh đá long lanh ngấn chửa mòn.
Một lá (2) về đâu xa thẳm thẳm,
Nghìn nhà trông xuống bé con con.
Dẫu già đã hẳn hơn ta chửa?
Chống gậy lên cao gối chẳng chồn!- Tác giả chơi chữ, tên núi là An Lão (lão: già) nhưng người ta thường nói "núi non".
- Lá: con thuyền.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
Ngoại tuyếnToa 19
Nhớ cảnh chùa Đọi - Nguyễn Khuyến
**Nhớ cảnh chùa Đọi **
**Già yếu xa xôi bấy đến nay, **
Làng chơi loáng thoáng lại buồn thay!
Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá.
Sư cụ nằm chung với khói mây
Dặm thế ngõ đâu tầng trúc ấy,
Thuyền ai khách đợi bến đâu đây?
Chuông trưa vẳng tiếng người không biết,
Trâu thả sườn non ngủ gốc cây.(Tác giả tự dịch bài "ức Long Đội Sơn")
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
Ngoại tuyếnToa 20
Chợ Đồng - Nguyễn Khuyến
**Chợ Đồng
**
Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng,
Năm nay chợ họp có đông không?
Dở trời, mưa bụi còn hơi rét.
Nếm rượu, tường đền (1) được mấy ông?
Hàng quán người về nghe xáo xác,
Nợ nần năm hết hỏi lung tung.
Dăm ba ngày nữa tin xuân tới.
Pháo trúc (2) nhà ai một tiếng đùng.- Chợ Đồng họp ngay ở bên cạnh một ngôi đền. Xung quanh đền lại đắp tường đất dày bao bọc, gọi là tường đền.
- Pháo trúc: trúc đốt trong lửa, có tiếng nổ to.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
Ngoại tuyếnToa 21
Chơi chợ trời Hương Tích - Nguyễn Khuyến
Chơi chợ trời Hương Tích
Ai đi Hương Tích chợ trời đi!
Chợ họp quanh năm cả bốn thì.
Đổi chác người tiên cùng khách bụt,
Bán buôn gió chị lại trăng dì.
Yến anh chào khách nhà mây tỏa,
Hoa quả bày hàng điếm cỏ che.
Giá áo, lợn, tằm, tiền, gạo đủ.
Bán mua mặc ý muốn chi chi.tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
Ngoại tuyếnToa 22
Chơi núi Non Nước (1) - Nguyễn Khuyến
**Chơi núi Non Nước (1) **
Chom chỏm trên sông đá một hòn,
Nước trôi sóng vỗ biết bao mòn?
Phơ đầu đã tự đời Bàn Cổ, (2)
Bia miệng còn đeo tiếng trẻ con.
Rừng cúc tiền triều (3) trơ mốc thếch,
Hồn câu Thái phó (4) tảng rêu tròn.
Trải bao trăng gió xuân già giặn,
Trời dẫu già, nhưng núi vẫn non.- Núi Non Nước, một thắng cảnh nằm ven bờ sông Đáy ở thị xã Ninh Bình.
- Bàn Cổ: Ông Bàn Cổ sinh từ lúc mới có trời đất.
- Tiền triều: triều vua thời trước.
- Hòn câu thái phó: tảng đá mà thái phó Trương Hán Siêu đã ngồi câu cá.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
Ngoại tuyếnToa 23
Than mùa hè - Nguyễn Khuyến
**Than mùa hè **
Tháng tư đầu mùa hạ,
Tiết trời thực oi ả,
Tiếng dế kêu thiết tha,
Đàn muỗi bay tơi tả.
Nỗi ấy ngỏ cùng ai,
Cảnh này buồn cả dạ.
Biếng nhắp năm canh chầy,
Gà đã sớm giục giã.tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
Ngoại tuyếnToa 24
Vịnh mùa hè - Nguyễn Khuyến
**Vịnh mùa hè
**
Biếng trông trời hạ nước non xa,
ý khí ngày thường nghĩ đã trơ.
Cá vượt khóm rau lên mặt nước,
Bướm len lá trúc lượn rèm thưa.
Thơ Đào (1) cửa miệng đưa câu rượu
Xóm Liễu (2) quanh khe chịu tiếng khờ.
Nhân hứng cũng vừa toan cất chén,
Sấm đông rầm rập gió nồm đưa.(Tác giả tự dịch bài "Họ nhật ngẫu hứng")
- Đào tức là Đào Tiềm đời Tấn.
- Liễu Tôn Nguyên bị vua bắt tội, phải về quê, tự cho mình là ngu dại.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
Ngoại tuyếnToa 25
Thu vịnh - Nguyễn Khuyến
Thu vịnh
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. (1)- Ông Đào: Đào Tiềm.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
Ngoại tuyếnToa 26
Thu điếu - Nguyễn Khuyến
**Thu điếu
**
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối, buông cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
Ngoại tuyếnToa 27
Thu ẩm - Nguyễn Khuyến
Thu ẩm
Năm gian nhà cỏ thấp le te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy.
Độ năm ba chén đã say nhè.tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
Ngoại tuyếnToa 28
Thầy đồ ve gái góa - Nguyễn Khuyến
Thầy đồ ve gái góa
Người bảo rằng thầy yêu cháu đây,
Thầy yêu mẹ cháu có ai hay!
Bắc cầu, câu cũ (1) không hờ hững,
Cầm kính, tình xưa (2) vẫn đắng cay.
ở góa thế gian nào mấy mụ?
Đi ve thiên hạ thiếu chi thầy?
Yêu thầy cũng muốn cho thầy dạy,
Dạy cháu nên rồi mẹ cháu ngây.(Tác giả tự dịch bài "Thiền sư")
- Do câu ca dao:
"Muốn sang thì bắc cầu kiều..." - Do câu ca dao:
"Trách người quân tử vô tình,
Có gương mà để bên mình không soi"
ý nói: người đàn bà goá chê thầy đồ nhát gan, không dám mạnh bạo hơn trong việc ve gái.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
- Do câu ca dao:
-
Ngoại tuyếnToa 29
Muốn lấy chồng - Nguyễn Khuyến
Muốn lấy chồng
Bực gì bằng gái trực phòng không?
Tơ tưởng vì chung một tấm chồng.
Trên gác rồng mây ngao ngán đợi,
Bên trời cá nước ngẩn ngơ trông.
Mua vui, lắm lúc cười cười gượng,
Giả dại, nhiều khi nói nói bông.
Mới biết có chồng như có cánh,
Giang sơn gánh vác nhẹ bằng lông.tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
Ngoại tuyếnToa 30
Mừng ông nghè mới đỗ - Nguyễn Khuyến
**Mừng ông nghè mới đỗ
**
Anh mừng cho chú đỗ ông Nghè,
Chẳng đỗ thì trời cũng chẳng nghe.
Ân tứ (1) dám đâu coi rẻ rúng,
Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe.
Rượu ngon ả nọ khôn đường tránh, (2)
Hoãn (3) đẹp nàng này khó nhẽ che.
Hiển quí đến nay đà mới rõ,
Rõ từ những lúc tổng chưa đe. (4)- Ân tứ: ơn vua ban.
- Câu này rút ý câu ca dao:
Em là con gái đồng trinh
Em đi bán rượu qua dinh ông nghè.
Ông nghè sai lính ra ve,
- Trăm lạy ông nghè, tôi đã có con.
- Có con thì mặc có con.
Thắt lưng cho giòn mà lấy chồng quan.
- Hoãn: một loại hoa tai vàng.
- Câu này rút ý câu tục ngữ:
Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
Ngoại tuyếnToa 31
Hỏi thăm quan tuần mất cướp - Nguyễn Khuyến
Hỏi thăm quan tuần mất cướp
Tôi nghe khẻ cướp nó lèn ông,
Nó lại lôi ông đến giữa đồng.
Lấy của đánh người quân tệ nhỉ!
Thân già da cóc có đau không?
Bây giờ mới khẽ sầy da trán,
Ngày trước đi đâu mất mảy lông.
Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa.
Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
Ngoại tuyếnToa 32
Tặng đốc Hà Nam - Nguyễn Khuyến
Tặng đốc Hà Nam
Ai rằng ông dại với ông điên,
Ông dại sao ông biết lấy tiền?
Cậy cái bảng vàng treo nhị giáp,
Khoét thằng mặt trắng (1) lấy tam nguyên (2)
Dấu nhà vừa thoát sừng trâu đỏ,
Phép nước xin chừa móng lợn đen (3)
Chỉ cốt túi mình cho nặng chặt,
Trăm năm mặc kệ tiếng chê khen.- Thằng mặt trắng: do câu "Bạch diện thư sinh" chỉ người học trò.
- Tam nguyên: ba đồng bạc; còn đồng âm với chữ "Tam nguyên" là đỗ đầu luôn ba khoa: thi hương, thi hội và thi đình.
- Móng lợn đen: ám chỉ việc ông đốc học này đã có lần bị Tây đá đít.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
Ngoại tuyếnToa 33
Đĩ cầu Nôm - Nguyễn Khuyến
**Đĩ cầu Nôm (1) **
Thiên hạ bao giờ cho hết đĩ?
Trời sinh ra cũng để mà chơi!
Dễ mấy khi làm đĩ gặp thời,
Chơi thủng trống long dùi âu mới thích
Đĩ bao tử càng chơi càng lịch,
Tha hồ cho khúc khích chị em cười:
Người ba đấng, của ba loài,
Nếu những như ai thì đĩ mốc.
Đĩ mà có tàn, có tán, có hương án, có bàn độc (2)
Khá khen thay làm đĩ có tông (3)
Khắp giang hồ chẳng chốn nào không.
Suốt Nam Bắc Tây Đông đều biết tiếng.
Đĩ mười phương chơi cho đủ chín,
Còn một phương để nhịn lấy chồng.
Chém cha cái kiếp đào hồng, (4)
Bạn với kẻ anh hùng cho đứng số.
Vợ bợm, chồng quan, danh phận đó,
Mai sau ngày giỗ có văn nôm.
Cha đời con Đĩ Cầu Nôm.- Cầu Nôm thuộc làng Đại Đồng ở Hải Hưng.
- Có lẽ ở đây nhà thơ nói đến Tư Hồng, một nhân vật lúc ấy làm đĩ lấy Tây.
- Có tông: có nòi.
- Kiếp hồng đào: Kiếp trăng hoa.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )