Về hay ở - Tập Thơ Nguyễn Khuyến.
-
N Ngoại tuyếnToa 1
-
N Ngoại tuyếnToa 2
Uống rượu ở vườn Bùi - Nguyễn Khuyến
**Uống rượu ở vườn Bùi
***Tuý Ông (1) ý chẳng say về rượu,
Say vì đâu, nước thẳm với non cao.
Non lặng ngắt, nước tuôn ào,
Tôi với bác xưa nay cùng thích thế.
Đời trước thánh hiền đều vắng vẻ,
Có người say rượu tiếng còn nay.
Cho nên say, say khướt cả ngày,
Say mà chẳng biết rằng say ngã đùng.Chu Bá Nhân (2) thuở trước sang sông.
Chỉ tỉnh rượu ba ngày không phải ít.
Kêu gào thế cười chi cho mệt,
Chớ buồn chi nghe tiếng hát làng say
Xin người gắng cạn chén này.***(Tác giả tự dịch bài "Bùi viên đối ẩm" trích cú ca)
(1) Tuý Ông: "Ông say" tên hiệu của Âu Dương Tu đời Tống.
(2) Chu Bá Nhân: Chu Nghị.tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 3
Nghe hát đêm khuya - Nguyễn Khuyến
**Nghe hát đêm khuya
**
**Một khúc đêm khuya tiếng đã chầy,
Nửa chen mặt nước, nửa từng mây.
Nghĩ mình vườn cũ vừa lui bước,
Ngán kẻ phương trời chẳng đứt dây.Bẻ liễu thành Đài thôi cũng xếp, (1)
Trồng lan ngõ tối ngát nào hay?
Từ xưa mặt ngọc ai là chẳng,
Chén rượu bên đèn luống tỉnh say.**(1) Bẻ liễu thành đài: tác giả dẫn điển Hán Hoành đời Đường, lấy một danh kĩ là Liễu thị ở phố Chương Đài, Trường An, sau đi làm quan xa, để liễu thị ở lại đó ba năm, không đón đi được, nên làm bài "Chương Đài liễu" để thăm.
tác giả ( Nguyễn Khuyến ) -
N Ngoại tuyếnToa 4
Tự trào - Nguyễn Khuyến
**Tự trào
**
**Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang,
Chẳng gầy, chẳng béo chỉ làng nhàng,
Cờ đương dở cuộc không còn nước,
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng.
Mở miệng nói ra gàn bát sách,
Mềm môi chén mãi tít cung thang.
Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ,
**Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng.tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 5
Tự thuật - Nguyễn Khuyến
**Tự thuật
**
Tháng ngày thấm thoát tựa chim bay,
Ông ngẫm mình ông, nghĩ cũng hay.
Tóc bạc bao giờ không biết nhỉ?
Răng long ngày trước hãy còn đây.
Câu thơ được chửa, thưa rằng được.
Chén rượu say rồi, nói chửa say.
Kẻ ở trên đời lo lắng cả,
Nghĩ ra ông sợ cái ông này.tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 6
Ngày xuân dặn các con - Nguyễn Khuyến
**Ngày xuân dặn các con
**
Tuổi thêm, thêm được tóc râu phờ,
Nay đã năm mươi có lẻ ba.
Sách vở ích gì cho buổi ấy,
áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già.
Xuân về ngày loạn càng lơ láo,
Người gặp khi cùng cũng ngất ngơ.
Lẩn thẩn lấy chi đền tấc bóng,
Sao con đàn hát vẫn say sưa?(Tác giả tự dịch bài "Xuân nhật thị chư nhi")
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 7
Lên lão - Nguyễn Khuyến
**Lên lão **
Ông chẳng hay ông tuổi đã già,
Năm lăm ông cũng lão đây mà.
Anh em làng xóm xin mời cả,
Xôi bánh, trâu heo cũng gọi là.
Chú Đáo bên làng lên với tớ,
Ông Từ xóm chợ lại cùng ta.
Bây giờ đến bậc ăn dưng nhỉ, (1)
Có rượu thời ông chống gậy ra.(1) Ăn dưng: ăn không.
tác giả ( Nguyễn Khuyến ) -
N Ngoại tuyếnToa 8
Ông phỗng đá - Nguyễn Khuyến
**Ông phỗng đá
**
**Ông đứng làm chi đó hỡi ông?
Trơ trơ như đá, vững như đồng.
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?
**Non nước đầy vơi có biết không.tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 9
Ðề: Ông phỗng đá - Nguyễn Khuyến
**Ông phỗng đá
**
Người đâu tên họ là gì?
Khéo thay chích chích chi chi (1) nực cười.
Dang tay ngửa mặt lên trời,
Hay còn lo tính sự đời chi đây?
Thấy phỗng đá lạ lùng muốn hỏi.
Cớ làm sao len lỏi đến chi đây?
Hay tưởng trông cây cỏ nước non này,
Chí cũng rắp dan tay vào hội lạc (2)
Thanh sơn tự tiếu đầu tương hạc,
Thượng hải thùy tri ngã diệc âu. (3)
Thôi cũng đừng chấp chuyện đâu đâu,
Túi vũ trụ mặc đàn sau gánh vác.
Duyên hội ngộ là duyên tuổi tác,
Chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác,
Cuộc tỉnh say, say tỉnh một vài câu.
Nên chăng đá cũng gật đầu!(1) Chích chích chi chi: ngây ngô, khờ khạo.
(2) Hội lạc: một hội hưởng vui của một số nhà thơ về đời Tống.
(3) Câu này và câu trên ý nói: ta tự cười đầu đã bạc phơ như đầu chim hạc trong chốn núi xanh, ai có hay đâu ta cũng như con chim âu, ung dung nơi bãi biển xanh.tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 10
Lời gái goá - Nguyễn Khuyến
**Lời gái goá
**
**Chàng chẳng biết gái này gái goá,
Buồn nằm suông, suông cả áo cơm.
Khéo thay cái mụ tá ơm. (1)
Đem chàng trẻ tuổi ép làm lứa đôi.
Chàng tuổi trẻ chơi bời quên nhọc,
Gái già này sức vóc được bao?
Muốn sao, chiều chẳng được sao.
Trước tuy sum họp, sau nào được lâu?Lấy chồng vốn nhờ câu ăn mặc,
Chẳng ngờ rằng đói rách hổ ngươi;
Vốn xưa cha mẹ dặn lời,
Tư bôn (2) lại phải kẻ cười người chê.
Hỡi mụ hỡi, thương chi thương thế?
Thương thì hay, nhưng kế chẳng hay.
Thương thì gạo vải cho vay,
Lấy chồng thì gái goá này xin van!**(Tác giả tự dịch bài "Li phụ hành")
- Mụ tá ươm: chỉ người mai mối.
- Tư bôn: chỉ người con gái chốn nhà đi theo trai.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 11
Anh giả điếc - Nguyễn Khuyến
**Anh giả điếc
**
Trong thiên hạ có anh giả điếc,
Khéo ngơ ngơ ngác ngác, ngỡ là ngây!
Chẳng ai ngờ "sáng tai họ, điếc tai cày",
Lối điếc ấy sau này em muốn học.
Toạ trung đàm tiếu, nhân như mộc
Dạ lí phan viên, nhĩ tự hầu. (1)
Khi vườn sau, khi ao trước; khi điếu thuốc, khi miếng trầu.
Khi chè chuyên năm bảy chén, khi Kiều lẩy một đôi câu;
Sáng một chốc, lâu lâu rồi lại điếc
Điếc như thế ai không muốn điếc?
Điếc như anh dễ bắt chước ru mà!
Hỏi anh, anh cứ ậm à.- Hai câu chữ Hán ý nói: khi mọi người ngồi nói chuyện và cười cợt thì ngây ra như gỗ, nhưng đêm khuya leo trèo thì lanh lẹn như con khỉ.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 12
Chế ông đỗ Cự Lộc - Nguyễn Khuyến
**Chế ông đỗ Cự Lộc
**
Văn hay chữ tốt ra tuồng,
Văn dai như chão, chữ vuông như hòm.
Vẻ thầy như vẻ con tôm,
Vẻ tay ngoáy cám, vẻ mồm húp tương.
Vẻ lịch sự ai bằng thầy Cự Lộc,
Vẻ cô đầu nói móc có vài câu:
Anh chẳng sang, mà cũng chẳng giàu.
Hầu bao ních, rận bâu quanh chiếu;
Khăn nhuộm lờ lờ mùi nước điếu,
Nón sơn không méo cũng không tròn.
Quần vải thô, ngại giặt ngả màu son,
Giày cóc gặm, nhặt dây đàn khâu lấy.
Phong lưu ấy, mà tình tính ấy,
Đến cô đầu, vẫn thấy lả lơi bông,
Xinh thay diện mạo anh hùng!tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 13
Mẹ mốc - Nguyễn Khuyến
**Mẹ mốc
**
So danh giá ai bằng mẹ Mốc,
Ngoài hình hài, gấm vóc chẳng thêm ra; (1)
Tấm hồng nhan đem bôi lấm xoá nhoà,
Làm thế để cho qua mắt tục.
Ngoại mạo bất cầu như mĩ ngọc,
Tâm trung thường thủ tự kiên kim (2)
Nhớ chồng con muôn dặm xa tìm,
Giữ son sắt êm đềm một tiết. (3)
Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết,
Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ,
Đắp tai ngảnh mặt làm ngơ,
Rằng khôn cũng kệ, rằng khờ cũng thây.
Khôn kia dễ bán dại này!- Mẹ Mốc điên, xé quần xé áo, nên chỉ trơ có tấm thân không che đậy.
- Câu này và câu trên đại ý nói: mặt ngoài không cần đẹp như ngọc, nhưng trong lòng hằng giữ bền như vàng.
- Tiết: khí tiết.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 14
Mừng con dựng được nhà - Nguyễn Khuyến
Mừng con dựng được nhà
**Nghĩ ta, ta cũng sướng ru mà,
Mừng thấy con ta dựng được nhà
Năm mới lệ thường thêm tuổi một,
Cỗ phe ngôi đã chốc bàn ba. (1)Rượu ngon đến bữa nghiêng bầu dốc,
Chữ "dại" đầu năm xổ túi ra. (2)
Một khóm thủy tiên năm bảy cụm,
Xanh xanh như sắp thập thò hoa.**- Bữa tiệc do phe giáp, một tổ chức nhỏ trong làng, làm lễ mừng thọ các bậc bô lão. ở đây ý nói nhà thơ cũng đã vào bậc bô lão 60 tuổi trở lên rồi.
- ý nói ngâm vịnh nhiều.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 15
Vịnh tiến sĩ giấy - Nguyễn Khuyến
**Vịnh tiến sĩ giấy
****IRõ chú hoa man (1) khéo vẽ trò,
Bỡn ông mà lại dứ thằng cu.
Mày râu mặt đó chừng bao tuổi,
Giấy má nhà bay đáng mấy xu?
Bán tiếng mua danh thây lũ trẻ,
Bảng vàng bia đá vẫn nghìn thu.
Hỏi ai muốn ước cho con cháu,
Nghĩ lại đời xưa mấy kiếp tu.II
Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai.
Cũng gọi ông nghè có kém ai.
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, (2)
Nét son điểm rõ mặt văn khôi. (3)
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh thế mới hời! (4)
Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ,
Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!**- Hoa man: người thợ làm nghề hàng mã.
- Giáp bảng: bảng đề tên từ học vị tiến sĩ trở lên.
- Văn khôi: đầu làng văn. ở đây chỉ người có đỗ đạt cao.
- Hời: giá rẻ.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 16
Lời vợ anh phường chèo - Nguyễn Khuyến
**Lời vợ anh phường chèo
**
Xóm bên đông có phường chèo trọ,
Đương nửa đêm gọi vợ chuyện trò:
Rằng: "ta thường làm quan to,
Sao người coi chẳng ra trò trống chi?"
Vợ giận lắm mắng đi mắng lại:
"Tuổi đã già sao dại như ri?
Đêm hôm ai chẳng biết chi,
Người ta biết đến thiếp thì hổ thay!
ở đời có hai điều nên sợ:
Sống chết người, quyền ở trong tay.
Thế mà chàng đã chẳng hay.
Còn ai sợ đến phường này nữa chăng?
Vả chàng vẫn lăng nhăng túng kiết,
Cuộc sinh nhai chèo hát qua thì,
Vua chèo còn chẳng ra gì,
Quan chèo vai nhọ (1) khác chi thằng hề".- Vai nhọ: người đóng trò bôi mặt lem nhem.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 17
Bồ tiên thi - Nguyễn Khuyến
**Bồ tiên thi (1)
**Chú huyện Thanh Liêm khéo giở trò,
"Bồ tiên thi" lại lấy vần bồ.
Nghênh ngang võng lọng nhờ ông sứ,
Ngọng nghẹo văn chương giở giọng ngô.
Bồ chứa miệng dân chừng bật cạp,
Tiên (2) là ý chú muốn vòi xu!
Từ vàng sao chẳng luôn từ bạc,
Không khéo mà roi nó phết cho.- Bồ tiên: cái roi bằng cỏ bồ mà Lưu Khoan, một ông quan đời Hán nổi tiếng nhân từ, dùng để đánh tội nhân. Dựa vào điển này, tên tri huyện đã mở cuộc thi thơ và ra đầu đề là "bồ tiên thi" ngầm ý khoe mình là người biết thương dân.
- Tiên: "tiên" nghĩa là cái roi, đồng âm với chữ "tiên" nghĩa là đồng xu.
tác giả ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 18
Vịnh núi An Lão - Nguyễn Khuyến
**Vịnh núi An Lão
**
Mặt nước mênh mông nổi một hòn,
Núi già nhưng tiếng vẫn còn non, (1)
Mảnh cây thưa thớt đầu như trọc,
Ghềnh đá long lanh ngấn chửa mòn.
Một lá (2) về đâu xa thẳm thẳm,
Nghìn nhà trông xuống bé con con.
Dẫu già đã hẳn hơn ta chửa?
Chống gậy lên cao gối chẳng chồn!- Tác giả chơi chữ, tên núi là An Lão (lão: già) nhưng người ta thường nói "núi non".
- Lá: con thuyền.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 19
Nhớ cảnh chùa Đọi - Nguyễn Khuyến
**Nhớ cảnh chùa Đọi **
**Già yếu xa xôi bấy đến nay, **
Làng chơi loáng thoáng lại buồn thay!
Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá.
Sư cụ nằm chung với khói mây
Dặm thế ngõ đâu tầng trúc ấy,
Thuyền ai khách đợi bến đâu đây?
Chuông trưa vẳng tiếng người không biết,
Trâu thả sườn non ngủ gốc cây.(Tác giả tự dịch bài "ức Long Đội Sơn")
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 20
Chợ Đồng - Nguyễn Khuyến
**Chợ Đồng
**
Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng,
Năm nay chợ họp có đông không?
Dở trời, mưa bụi còn hơi rét.
Nếm rượu, tường đền (1) được mấy ông?
Hàng quán người về nghe xáo xác,
Nợ nần năm hết hỏi lung tung.
Dăm ba ngày nữa tin xuân tới.
Pháo trúc (2) nhà ai một tiếng đùng.- Chợ Đồng họp ngay ở bên cạnh một ngôi đền. Xung quanh đền lại đắp tường đất dày bao bọc, gọi là tường đền.
- Pháo trúc: trúc đốt trong lửa, có tiếng nổ to.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )