
Ông Lương Văn Ngự - Phó Giám đốc Sở TN-MT cho hay, ở tỉnh ta hiện đang có tới 5 nguyên nhân làm ô nhiễm và cạn kiệt nguồn tài nguyên nước. Đó là:
Rừng và đa dạng sinh học đang giữ vai trò điều tiết nước vào mùa kiệt và giảm lũ vào mùa mưa, hạn chế tình trạng xói lở và rữa trôi đất xuống sông suối. Việc thi công nhiều công trình thủy lợi, thủy điện có dung tích lớn như Đa Nhim (160 triệu m3), Đại Ninh (317 triệu m3), Hàm Thuận - Đa Mi (695 triệu m3 trước đây, và các hồ thủy điện lớn đang thi công hiện nay như Đồng Nai 3 (1,4 tỷ m3), Đồng Nai 4 (337 m3)… đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển KT-XH , nhưng lại đang làm giảm diện tích rừng tự nhiên và chuyển nước của các hệ thống sông của tỉnh “sang các lưu vực khác”. Mặc dù độ che phủ của rừng đến nay vẫn chiếm tỷ lệ trên 61,2% diện tích toàn tỉnh, song do diện tích, chất lượng rừng và đa dạng sinh học của rừng ngày càng giảm đã làm ảnh hưởng lớn đến tài nguyên nước. Đây là nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng sông suối cạn kiệt nước vào mùa khô và ngập úng trên diện rộng vào mùa mưa hàng năm.
Tốc độ đô thị hóa ngày càng có chiều hướng gia tăng nhất là ở các khu vực trung tâm thành phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc và các thị trấn huyện đang là áp lực lớn cho môi trường chung của tỉnh, trong đó có môi trường nước. Theo điều tra của Sở TN-MT, hiện nay bình quân mỗi ngày các thành phố, thị xã, thị trấn của tỉnh đã thải ra môi trường 800 tấn rác thải (Đà Lạt 180-200 tấn, Bảo Lộc 140-150 tấn, Liên Nghĩa - Đức Trọng 45-50 tấn, Lộc Thắng - Bảo Lâm 10 tấn/ngày). Do chưa được xử lý tốt, các chất độc hại từ chất thải đang tự do xâm nhập vào môi trường làm ô nhiễm các nguồn nước - kể cả nước ngầm.
Sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp cũng đang là nguy cơ làm ô nhiễm các nguồn nước. Do ngày càng xuất hiện nhiều loại dịch hại trên cây trồng, nên thuốc BVTV đã được sử dụng trên khoảng 80-90% diện tích đất nông nghiệp và thị trường thuốc BVTV ngày càng đa dạng rất khó kiểm soát; trong khi đó nông dân lại sử dụng thuốc chủ yếu theo thói quen và khá tùy tiện, nên hiệu quả thấp và lượng thuốc tồn dư trong đất đã xâm nhập vào nguồn nước. Việc sử dụng phân bón hóa học bón cho cây trồng của nông dân cũng đang trong tình trạng tương tự. Theo đánh giá của Sở NN-PTNT, chuyển từ sản xuất nông nghiệp theo phương thức truyền thống sang sản xuất nông nghiệp theo công nghệ cao, những năm gần đây, việc sử dụng hóa chất BVTV và phân bón vô cơ của nông dân đã có nhiều chuyển biến tích cực; cụ thể trong thời gian 9 tháng đầu năm nay, qua khảo sát của sở thì chỉ còn 16,8% số hộ nông dân sử dụng thuốc BVTV sai nồng độ và 7,59% số mẫu nông sản có dư lượng thuốc BVTV và dư lương nitorát vượt ngưỡng cho phép, song việc nguồn nước bị ô nhiễm do các loại hóa chất phục vụ sản xuất nông nghiệp vẫn còn ở một số khu vực sản xuất rau hoa.
Với địa hình đồi núi có độ dốc cao và nông dân chủ yếu sản xuất nông nghiệp và gần đây còn kèm theo việc gia tăng khai thác khoáng sản trên đất dốc đang làm cho đất ngày càng bị xói mòn, rửa trôi làm bồi lấp sông suối, ao hồ (Qua điều tra của Sở TN-MT, ở hệ thống sông Krông Nô, dòng chảy bùn cát do đất bị xói mòn lên tới 150-160 g/m3 nước).
Ngoài các nguyên nhân chính này, nguồn tài nguyên nước của Lâm Đồng còn bị tác động xấu từ việc khoan nước ngầm lấy nước đang xảy ra phổ biến ở nhiều địa phương trong tỉnh. Ở các huyện Đức Trọng, Đơn Dương, Di Linh… nhiều hộ nông dân và một số doanh nghiệp đã tự động khoan giếng lấy nước tưới cho cây trồng, phục vụ chế biến nông sản với khối lượng lớn đang làm cạn kiệt nguồn nước ngầm dẫn tới hiện tượng sạt lở đất kéo dài.
Tại Hội thảo về Quản lý tài nguyên nước do Sở NN-PTNT tổ chức mới đây, hầu hết những người tham gia - trong đó có nhiều chuyên gia về quản lý tài nguyên nước đều thống nhất với khẳng định “Tài nguyên nước ở Việt Nam nói chung và Lâm Đồng nói riêng trong những năm gần đây đã không còn dồi dào, dẫn tới khó khăn trong việc đáp ứng cho nhu cầu dùng nước”. Để bảo vệ nguồn tài nguyên nước, đã đến lúc Lâm Đồng cần phải tăng cường quản lý lưu vực nước theo quy hoạch; tăng cường hiệu quả của công tác cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép sử dụng tài nguyên nước; thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước trên toàn địa bàn từ các khâu xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách bảo vệ, khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên; phòng chống và khắc phục hậu quả do nước gây ra như khô hạn vào mùa khô, ngập úng vào mùa mưa, kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ tài nguyên rừng.