<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/" xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom" version="2.0"><channel><title><![CDATA[Lịch Sử và thông tin TP Đà Lạt]]></title><description><![CDATA[<p dir="auto"><strong>Mình muốn chia sẽ với tất cả các bạn một số thông tin về quá trình hình thành và phát triển của Thành Phố Ngàn Hoa</strong></p>
<p dir="auto"><strong>Đà Lạt</strong> là một thành  phố trực thuộc tỉnh và tỉnh lị tỉnh Lâm Đồng, nằm trên cao nguyên Lâm Viên, ở độ cao 1.500 m so với mặt nước biển và diện tích tự  nhiên: 393,29 km². Đà Lạt được Thủ  tướng chính phủ Việt Nam công nhận là đô thị loại 1 vào ngày  24 tháng 3 năm 2009. Đây là một trong 4 đô thị loại 1 thuộc tỉnh cùng với Huế, Nha Trang và Vinh.</p>
<p dir="auto">Với nhiều cảnh quan đẹp, Đà Lạt là một trong những thành phố du lịch nổi tiếng nhất của Việt Nam. Trong thời Pháp  thuộc, tên tiếng Latin Dat Aliis Laetitiam Aliis  Temperiem có nghĩa là "cho những người này niềm vui, cho những người khác sự  mát mẻ"[2].  Đà Lạt được mệnh danh là: thành phố hoa, thành phố tình yêu, thành phố mùa xuân,  thành phố sương mù, đặc biệt nhất là biệt danh : thành phố ma</p>
<p dir="auto"><strong>Địa lý</strong></p>
<p dir="auto"><strong>Vị trí</strong></p>
<p dir="auto">Thành phố Đà Lạt nằm trong cao nguyên Lang Biang, phía Bắc tỉnh Lâm Đồng, Về  phía Bắc, Đà Lạt giáp với huyện Lạc Dương, về phía Đông và Đông Nam giáp với  huyện Đơn Dương, về phía Tây và Tây Nam giáp với hai huyện Lâm Hà và Đức  Trọng.<br />
<img src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/thumb/8/89/Hoa_%C4%90%C3%A0_L%E1%BA%A1t_3.JPG/100px-Hoa_%C4%90%C3%A0_L%E1%BA%A1t_3.JPG" alt="" class=" img-fluid img-markdown" /></p>
<p dir="auto">Một số  loài hoa Đà Lạt</p>
<p dir="auto"><img src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/thumb/6/60/H%E1%BB%93ng_Sa_M%E1%BA%A1c.JPG/100px-H%E1%BB%93ng_Sa_M%E1%BA%A1c.JPG" alt="" class=" img-fluid img-markdown" /></p>
<p dir="auto">Hồng  sa mạc, loại hoa đẹp của Đà Lạt</p>
<p dir="auto"><img src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/thumb/8/8e/C%C3%BAc_L%C3%A1_Nho_2_-_Hoa_%C4%90%C3%A0_L%E1%BA%A1t.JPG/100px-C%C3%BAc_L%C3%A1_Nho_2_-_Hoa_%C4%90%C3%A0_L%E1%BA%A1t.JPG" alt="" class=" img-fluid img-markdown" /></p>
<p dir="auto">Cúc lá nho- loại hoa đẹp của Đà Lạt</p>
<p dir="auto"><img src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/thumb/c/cd/C%C3%BAc_L%C3%A1_Nho_-_Hoa_%C4%90%C3%A0_L%E1%BA%A1t.JPG/100px-C%C3%BAc_L%C3%A1_Nho_-_Hoa_%C4%90%C3%A0_L%E1%BA%A1t.JPG" alt="" class=" img-fluid img-markdown" /></p>
<p dir="auto">Một màu khác của cúc lá nho - loại hoa đẹp của Đà  Lạt</p>
<p dir="auto">Hàng trăm năm trước đây, Đà Lạt là địa bàn cư trú của người  Lạch, vốn là cư dân của toàn bộ cao nguyên Lang Biang. Đà Lạt có diện tích  hơn 400 km², bao bọc bởi các đỉnh núi cao và dãy núi liên tiếp:</p>
<ul>
<li>Phía Bắc và Tây Bắc giới hạn bởi dãy Chorơmui, Yộ Đa Myut (1.816 m), Tây Bắc  dựa vào chân dãy núi Chư Yang Kae (1.921 m), thuộc quần sơn Lang Biang mà đỉnh  cao nhất là Chư Yang Sinh (1.408 m).</li>
<li>Phía Đông là chân dãy núi Bi Doup (2.278 m) dốc xuống cao nguyên Dran.</li>
<li>Phía Đông Nam chắn bởi dãy Cho Proline (1.629 m).</li>
<li>Phía Nam và Tây Nam có dãy núi Voi (1.754 m) và Yàng Sơreng bao bọc.</li>
</ul>
<p dir="auto">** Hành chính**</p>
<p dir="auto">Thành phố Đà Lạt có 12 phường (được đánh số từ 1 đến 12) và 4 xã: Tà Nung,  Xuân Trường, Xuân Thọ, Trạm Hành.</p>
<p dir="auto"><strong>Địa hình</strong></p>
<p dir="auto">Cao trung bình so với mặt biển là 1.500 m. Nơi cao nhất trong trung tâm thành  phố là Nhà Bảo Tàng (1.532 m), nơi thấp nhất là thung  lũng Nguyễn Tri Phương (1.398,2 m).<br />
Bên trong cao nguyên, địa hình Đà Lạt phân thành hai bậc rõ rệt:</p>
<ul>
<li>Bậc địa hình thấp là vùng trung tâm có dạng như một lòng chảo bao gồm các  dãy đồi đỉnh tròn, dốc thoải có độ cao tương đối 25-100 m, lượn sóng nhấp nhô,  độ phân cắt yếu, độ cao trung bình khoảng 1.500 m.</li>
<li>Bao quanh khu vực lòng chảo này là các đỉnh núi với độ cao khoảng 1.700 m  tạo thành vành đai che chắn gió cho vùng trung tâm. Phía Đông Bắc có hai núi  thấp: hòn Ông (Láp Bê Bắc 1.738 m) và hòn Bộ (Láp Bê Nam 1.709 m). Ở phía Bắc,  ngự trị cao nguyên Lang Biang là dãy núi Bà (Lang Biang) hùng vĩ, cao 2.169 m,  kéo dài theo trục Đông Bắc - Tây Nam từ suối Đa Sar (đổ vào Đa Nhim) đến Đa Me  (đổ vào Đạ Đờng). Phía Đông án ngữ bởi dãy núi đỉnh Gió Hú (1.644 m). Về phía  Tây Nam, các dãy núi hướng vào Tà Nung giữa dãy Yàng Sơreng mà các đỉnh cao tiêu  biểu là Pin Hatt (1.691 m) và You Lou Rouet (1.632 m).</li>
</ul>
<p dir="auto">Bên ngoài cao nguyên là các dốc núi từ hơn 1.700 m đột ngột đổ xuống các cao  nguyên bên dưới có độ cao từ 700 m đến 900 m.</p>
<p dir="auto">** Khí hậu**</p>
<p dir="auto">Do ảnh hưởng của độ cao và rừng thông bao bọc, Đà Lạt mang nhiều đặc tính của  miền ôn đới. Nhiệt  độ trung bình 18–21°C, nhiệt độ cao nhất chưa bao giờ quá 30°C và thấp nhất  không dưới 5°C.<br />
<img src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/thumb/8/8a/Th%C3%B4ng_%C4%90%C3%A0_L%E1%BA%A1t.JPG/150px-Th%C3%B4ng_%C4%90%C3%A0_L%E1%BA%A1t.JPG" alt="" class=" img-fluid img-markdown" /></p>
<p dir="auto">Chính thông Đà Lạt giúp cho Đà Lạt thêm phần mát  mẻ</p>
<p dir="auto">Đà Lạt có hai mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa  nắng từ tháng 11 đến tháng 4. Mùa hè thường có mưa vào buổi chiều, đôi khi  có mưa đá.<br />
Lượng  mưa trung bình năm là 1562 mm và độ ẩm 82%.<br />
Đà Lạt không bao giờ có bão, chỉ có gió lớn do ảnh hưởng bão từ biển thổi vào  vì sườn đông không có núi che chắn.</p>
<p dir="auto"><strong>Lịch sử</strong></p>
<p dir="auto">Cao nguyên Lang  Biang trước năm 1893 là địa bàn cư trú  của các tộc người Thượng. Người Việt  đầu tiên có ý định khám phá vùng rừng núi Nam Trung Bộ là Nguyễn Thông,  nhưng do nhiều lí do nên cho tới cuối đời ông vẫn không thực hiện được ý định  của mình. Vào hai năm 1880 và 1881, bác sĩ hải quân Paul Néis và trung úy Albert Septans  có những chuyến thám hiểm đầu tiên vào vùng người Thượng ở Đông Nam Bộ  và Nam Trung Bộ, và họ được coi là hai nhà thám hiểm đầu tiên đã tìm ra cao  nguyên Lang Biang. Hành trình của Paul Néis và Albert Septans mở đường cho nhiều  chuyến đi khác như A. Gautier (năm 1882), L. Nouet (1882), thiếu tá Humann  (1884).</p>
<p dir="auto">Ngày 3 tháng 8 năm 1891, bác sĩ Alexandre Yersin thực hiện chuyến thám hiểm  đầu tiên với ý định tìm đường núi từ Nha Trang vào Sài Gòn, nhưng chuyến đi này bất thành. Từ 28 tháng 3 đến 9 tháng 6 năm 1892, Yersin thực hiện một cuộc thám hiểm từ Nha Trang,  băng qua vùng cao nguyên Đắk Lắk để đến Stung Treng, nằm  bên bờ sông Mê Công (thuộc địa phận Campuchia).<br />
Tháng 1 1893, Yersin nhận nhiệm vụ từ toàn  quyền Jean  Marie Antoine de Lanessan, khảo sát một tuyến đường bộ từ Sài Gòn xuyên sâu  vào vùng người Thượng và kết thúc ở một địa điểm thuận lợi trên bờ biển Trung Kỳ. Yersin còn phải tìm  hiểu về tài nguyên trong vùng: lâm sản, khoáng sản, khả năng chăn nuôi... Từ  ngày 8 tháng 4 đến ngày 26 tháng 6 năm 1893, Yersin đã thực hiện ba chuyến đi quan trọng. Và  15h30 ngày 21 tháng 6,  Yersin đã phát hiện ra cao nguyên Lang Biang, trong nhật ký hành trình, ông ghi  vắn tắt "3h30: grand plateau dénudé mamelonné" (3h30: cao nguyên lớn trơ trụi,  gò đồi nhấp nhô).</p>
<p dir="auto">Với nhu cầu tìm một vùng đất có khí hậu ôn hòa, gần giống với châu Âu để xây dựng khu nghỉ  mát, trạm điều dưỡng, toàn quyền Paul Doumer viết một bức thư hỏi ý kiến của Yersin,  và Yersin đã trả lời là cao nguyên Lang Biang. Tháng 3 năm 1899, Yersin cùng toàn quyền Doumer thực hiện một chuyến  đi lên cao nguyên Lang Biang và chuyến đi này có ý nghĩa quyết định về việc  thành lập một trạm điều dưỡng ở đây.</p>
<p dir="auto">Ngày 1 tháng 11 năm 1899, Doumer ký nghị định thành lập ở Trung Kỳ  tỉnh Đồng Nai Thượng  (<em>Haut-Donnai</em>) và hai trạm hành chính được thiết lập tại Tánh Linh và trên cao nguyên  Lang Biang. Đó có thể được xem là văn kiện chính thức thành lập trạm điều dưỡng  trên cao nguyên Lang Biang – tiền thân của thành phố Đà Lạt sau này.</p>
<p dir="auto">Ngày 20 tháng 4 năm 1916, vua Duy Tân đã ra đạo dụ thành lập thị tứ, tức thị xã (<em>centre  urbain</em>) Đà Lạt, tỉnh lị tỉnh Lâm Viên. Đạo dụ này được Khâm sứ J.E.  Charles chuẩn y ngày 30 tháng  5 năm 1916.</p>
<p dir="auto">Trong hai thập niên 1900 và 1910, người  Pháp đã xây dựng hai tuyến đường từ Sài Gòn và từ Phan Thiết lên Đà Lạt. Hệ thống giao  thông thuận lợi giúp Đà Lạt phát triển nhanh chóng. Vào năm 1893, vùng Đà  Lạt ngày nay hầu như hoang vắng. Đến đầu năm 1916, Đà Lạt vẫn còn là một khu thị tứ nhỏ với độ 8 căn  nhà gỗ tập trung hai bên bờ dòng Cam Ly, chỉ có 9 phòng khách sạn phục vụ du  khách, đến cuối năm này mới nâng lên được 26 phòng. Cuối năm 1923, đồ án thiết kế đầu tiên hoàn thành, Đà Lạt đã có  1.500 dân.</p>
<p dir="auto">Ngày 31 tháng 10 năm  1920, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định  chuẩn y đạo dụ ngày 11  tháng 10 cùng năm của vua Khải Định về việc thành lập  thành phố (<em>commune</em>- thành phố loại 2) Đà Lạt cùng với việc tỉnh Đồng Nai  Thượng được tái lập. Nhằm biến Đà Lạt thành một trung tâm nghỉ mát ở Đông Dương,  Nha giám đốc các sở nghỉ mát Lâm Viên và du lịch Nam Trung Kỳ được thành lập.  Đứng đầu thành phố là một viên Đốc lý, đại diện của Toàn quyền Đông Dương. Năm  1928 chuyển tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai Thượng về  Đà Lạt. Năm 1936 một Hội đồng thành phố được  bầu ra. Năm 1941, Đà Lạt trở thành tỉnh lỵ  tỉnh Lâm Viên (Lang Bian) mới tái lập. Thị trưởng Đà Lạt kiêm chức Tỉnh trưởng  tỉnh Lâm Viên.</p>
<p dir="auto">Trong thời gian Thế chiến thứ hai,  những người Pháp không thể về chính  quốc nên họ tập trung lên nghỉ ở Đà Lạt. Nhiều nhu cầu rau ăn, hoa quả của  người Pháp cũng được Đà Lạt cung cấp.<br />
Ngày 10 tháng 11 năm 1950, Bảo Đại ký Dụ số 4-QT/TD ấn định  địa giới thị xã Đà Lạt.<br />
Theo Địa phương chí Đà Lạt (<em>Monographie de Dalat</em>), năm 1953, thị xã Đà  Lạt là thủ phủ của Hoàng triều Cương thổ, có diện tích là 67 km², dân số: 25.041  người.</p>
<p dir="auto">Sau Hiệp định Genève năm  1954, dân số Đà Lạt tăng nhanh bởi lượng  người di cư từ Bắc vào Nam. Dưới chính quyền miền Nam,  Đà Lạt được phát triển như một trung tâm giáo dục và khoa học.</p>
<p dir="auto">Năm 1957, Đà Lạt trở thành tỉnh lỵ tỉnh  Tuyên Đức. Thị  xã Đà Lạt có 10 khu phố.<br />
Nhiều trường học và trung tâm nghiên cứu được thành lập: Viện Đại học  Đà Lạt (1957), Trường  Võ bị Quốc gia Đà Lạt (1959), Thư  viện Đà Lạt (1960), trường Đại học Chiến tranh Chính trị (1966), trường Chỉ  huy và Tham mưu (1967)... Các công trình phục vụ du lịch được tiếp tục xây dựng  và sửa chữa, hàng loạt biệt thự do các quan chức Sài Gòn, nhiều chùa chiền, nhà  thờ, tu viện được xây dựng... Đà Lạt cũng là một điểm hấp dẫn với giới văn nghệ  sĩ.<br />
Sau 1975, với sự rút đi của quân đội và  bộ máy chính quyền miền Nam, nhưng được bổ sung bởi lượng cán bộ và quận đội  miền Bắc, dân số Đà Lạt ổn định ở con số khoảng 86 ngàn người. Du lịch Đà Lạt  hầu như bị lãng quên. Những năm cuối thập niên 1980, đầu thập niên  1990, hàng loạt khách sạn, nhà hàng được sửa chữa, nhiều biệt thự được đưa  vào phục vụ du lịch... Đà Lạt trở thành một thành phố du lịch quan trọng của  Việt Nam với nhiều lễ hội được tổ chức.<br />
Cuối năm 1975 Bộ Chính trị Ban Chấp hành  Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định Đà Lạt sẽ trở thành 1 trong 4 thành  phố trực thuộc Trung ương, nhưng ngay sau đó đã điều chỉnh lại. Tháng 2 năm 1976 Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa  miền Nam Việt Nam ra Nghị định hợp nhất tỉnh Tuyên Đức, tỉnh Lâm Đồng và thị  xã Đà Lạt thành tỉnh Lâm Đồng. Thị xã Đà Lạt trở thành thành phố tỉnh lỵ tỉnh  Lâm Đồng.</p>
<p dir="auto"><strong>Dân cư</strong></p>
<p dir="auto">** Phát triển dân số**</p>
<p dir="auto">Dân số 188.467 người (2004), mật độ 469  người/km² [2]<br />
Trước Thế chiến thứ hai,  dân số Đà Lạt rất ít, ngoài dân cư bản địa chỉ có một số ít người châu Âu làm  công tác. Số người Kinh định cư đầu tiên ở Đà Lạt là những tù nhân, thay vì phải  lưu đày ở Côn Đảo  thì bị đưa lên Đà Lạt để khai phá đất hoang, xây dựng nhà cửa. Trong khoảng thời  gian từ năm 1933 đến 1938 nhiều công trình giao thông được hoàn thành. Bắt đầu  từ thời gian này dân số Đà Lạt bắt đầu tăng nhanh từ 1.500 người (1923) lên đến 9.000 người năm 1928 rồi 11.500 người vào năm 1936. Và đến cuối năm 1942, Đà Lạt đã đạt con số hai vạn dân.</p>
<blockquote>
<p dir="auto">Khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, các viên chức Pháp không có khả năng trở về  quê hương nên đổ xô lên Đà Lạt nghỉ mát. Dân số tăng nhanh trong thời kỳ này:  13.000 người năm 1940, 20.000 người (1942) và lên đến 25.000 người năm 1944. Trong thời gian kháng chiến 9 năm (1945-1954) dân số Đà  Lạt chựng lại ở vào khoảng 25.000 người. Vào cuối năm 1954 dân số tăng lên đến  52.000 người và giữa năm 1955 là 53.390 người do người dân miền Bắc di cư vào  Nam. Từ đấy dân số Đà Lạt tăng 73.290 người vào năm 1965, 89.656 người (1970) và đến năm 1982  dân số Đà Lạt đã vượt qua con số 100.000 người. Năm 1999, dân số Đà Lạt là 129.400 người.<br />
<strong>Kinh tế</strong></p>
</blockquote>
<p dir="auto">Kinh tế Đà Lạt có thế mạnh về du lịch, trồng hoa và rau. Phần lớn diện tích  trồng hoa chuyên nghiệp của tỉnh Lâm Đồng tập trung tại Đà Lạt. Tổng cộng diện  tích canh tác nông nghiệp của Đà Lạt vào khoảng 9.978 ha. Sản lượng rau hằng năm  vào khoảng 170.000 tấn, trong đó có 35.000 tấn được xuất khẩu sang các nước Đông  Bắc châu Á và ASEAN. Sản  lượng hoa Đà Lạt hằng năm vào khoảng 540 triệu cành, trong đó xuất khẩu vào  khoảng 33,3 triệu cành hoa. (Nguồn: [3]).</p>
<p dir="auto"><strong>Kiến trúc</strong></p>
<p dir="auto">"Tòa nhà" đầu tiên ở Đà Lạt là một đồn binh lợp lá vào năm 1898, tiếp theo đó là nhà bằng gỗ lợp tôn của viên công sứ  Pháp năm 1900. <em>Hotel du Lac</em> mở cửa  vào năm 1907. Năm 1916 người Pháp cho xây dựng thêm Hotel du Langbian  Palace. ([4]). Đà Lạt thật  sự trở thành thành phố khi người Pháp xây dựng thành phố theo đồ án thiết kế  tổng thể của kiến trúc sư Ernest Hébrard. Năm 1933 kiến trúc sư Pineau trình bày một công trình nghiên  cứu chỉnh trang và mở rộng Đà Lạt. Đến năm 1940 kiến trúc sư Mondet thiết lập một đồ án mới, quay về  với ý tưởng của Hébrard là bố trí các khu vực hành chánh và dân cư quanh hồ. Thế  nhưng dự án này không được duyệt.</p>
<p dir="auto">Đà Lạt có nhiều công trình xây dựng đặc sắc, phần nhiều mang đặc trưng của  kiến trúc kiểu Pháp. Trong thời gian vừa qua toàn cảnh kiến trúc đô thị của  thành phố Đà Lạt đã bị phá vỡ vì xây dựng thiếu quy hoạch đồng bộ, lấn chiếm làm  nhà ở và cơi nới, xây cất vô lối ngay trong biệt thự. Nếu so với nhiều thành phố  khác trong cả nước, Đà Lạt vẫn là một thành phố trẻ, nhưng đó lại là một thành  phố có đồ án thiết kế theo kiểu cách phương Tây. Đà Lạt trước kia là một thành  phố do người Pháp xây dựng cho người Pháp, và các đồ án thiết kế đều phải do Phủ  toàn quyền quyết định, các kỹ sư, kiến trúc sư, các đoàn lên Đà Lạt nghiên cứu  về việc chỉnh trang, xây dựng đều được tuyển chọn kỹ lưỡng và nhất thiết phải có  trình độ chuyên môn giỏi.</p>
<p dir="auto"><strong>Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt</strong></p>
<p dir="auto"><img src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/thumb/8/88/GrandLycee.jpg/280px-GrandLycee.jpg" alt="" class=" img-fluid img-markdown" /></p>
<p dir="auto">Trường Cao  đẳng Sư phạm Đà Lạt</p>
<p dir="auto">Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt (trước kia là trường <em>Grand Lycée  Yersin</em>) là kiến trúc được Hội  Kiến trúc sư thế giới (UIA) công nhận là một trong số 1.000 công trình xây  dựng độc đáo của thế giới trong thế kỷ 20. Trường được người Pháp  thành lập năm 1927, do kiến trúc sư Moncet  thiết kế và chỉ đạo xây dựng, dành cho con em người Pháp và một số gia đình  người Việt giàu có. Năm 1932 trường <em>Petit  Lycée Dalat</em> được đổi tên thành <em>Grand Lycée de Dalat</em> và đến năm 1935 trường có tên là <em>Lycée Yersin</em> để  tưởng niệm bác sĩ Alexandre Yersin. Dãy lớp học được xây hình  vòng cung, gạch xây trường là gạch trần đỏ được chở từ châu Âu sang, mái được lợp bằng ngói làm từ  nước Pháp. Hiện nay các tấm ngói lợp đã  được thay thế do các tấm ngói cũ đã không còn sử dụng được nữa. Điểm nhấn của  dãy nhà hình vòng cung là tháp chuông. Phía bên ngoài tháp chuông trước đây có 1  đồng hồ nhưng có lẽ đã bị tháo dỡ, du khách chỉ có thể thấy vết tích của chiếc  đồng hồ lớn còn in lại trên nền gạch. Bên trên tháp chuông cũng không còn chuông  do có lẽ đã bị tháo dỡ trong thời chế độ cũ.</p>
<p dir="auto"><strong>Chợ Đà Lạt</strong></p>
<p dir="auto">Ngôi chợ đầu tiên của Đà Lạt được xây vào năm 1929. Chợ được xây bằng cây, lợp mái tôn, vì thế mà còn  được gọi là "Chợ Cây". Năm 1931 "Chợ Cây" bị  cháy rụi, đến năm 1937 Công ty SIDEC xây  dựng một ngôi chợ mới thay thế "Chợ Cây" (nay là rạp 3/4. Ngoài bưu điện Đà Lạt,  rạp 3/4 cũng được xem là 1 tâm điểm của thành phố).</p>
<p dir="auto">Chợ Đà Lạt ngày nay (trước đây gọi là chợ mới) được khởi công xây dựng vào  năm 1958 trên 1 thung lũng sình lầy ngay  dưới chân đồi của chợ cũ, do kiến trúc sư Nguyễn  Duy Đức thiết kế. Sau khi ở nước ngoài về, kiến trúc sư Ngô Viết  Thụ có tham gia chỉnh trang về quy hoạch và kiến trúc. Chợ được hoàn thành  vào năm 1960, là một trong những ngôi chợ  lầu đầu tiên ở Việt Nam. Năm 1993, nhân dịp  kỷ niệm 100 nam tìm ra Đà Lạt, chợ đã được khởi công cải tạo nâng cấp.</p>
<p dir="auto"><strong>Ga Đà Lạt</strong></p>
<p dir="auto"><img src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/thumb/a/ad/GaDaLat.jpg/250px-GaDaLat.jpg" alt="" class=" img-fluid img-markdown" /></p>
<p dir="auto">Nhà ga xe lửa  Đà Lạt</p>
<p dir="auto"><strong>Ga Đà Lạt</strong> cho đến nay là ga duy nhất của Việt Nam được công nhận là di  tích lịch sử văn hóa quốc gia. Nhà ga được kiến trúc sư người Pháp Moncet cùng  với đồng nghiệp là Revenron thiết kế và lãnh đạo thi công. Công trình khởi công  năm 1932 đến năm 1936 thì hoàn thành. Các kiến trúc sư đã thể hiện hình  tượng dãy núi Langbian  qua 3 vòm mái của nhà ga. Tuyến đường sắt từ Đà Lạt đi Tháp Chàm (Phan Rang) đã là tuyến đường sắt  răng cưa duy nhất của Việt Nam từ trước đến nay. Rất tiếc là hệ thống răng cưa  này đã bị tháo dỡ bán sắt vụn gần hết sau năm 1975. Cây  cầu sắt dành cho tuyến tàu hỏa bắt qua sông Đa Nhim tại địa phận thị  xã Dran cũng đã được chính quyền địa phương quyết định tháo dỡ vào năm 2004.  Ga Đà Lạt hiện nay chỉ còn một chiếc đầu máy xe hỏa hơi nước chạy bằng than củi,  2 chiếc khác đã được Bảo  tàng Xe lửa Thụy Sĩ mua lại. Ga Đà Lạt hiện nay là điểm tham quan du lịch,  hằng ngày có các chuyến tàu chở du khách đi từ ga đến Trại Mát.</p>
<p dir="auto"><strong>Thiền viện và chùa</strong></p>
<p dir="auto"><img src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/thumb/6/61/ChuaTau_DaLat.jpg/250px-ChuaTau_DaLat.jpg" alt="" class=" img-fluid img-markdown" /></p>
<p dir="auto">Chùa Thiên  Vương Cổ Sát</p>
<ul>
<li>Thiền viện Trúc  Lâm là thiền viện lớn nhất Việt Nam, khánh thành năm 1994, là một trong những công trình xây dựng Phật giáo lớn  nhất sau năm 1975. Chùa tọa lạc bên cạnh hồ  Tuyền Lâm trên một khu đất rộng 25 ha. Thiền viện Trúc Lâm hiện nay được nối với  Trung tâm thành phố Đà Lạt (đồi Robin) bằng hệ thống cáp treo, chuyên chở khách  đến Thiền viện và quay về.Hồ Tuyền Lâm năm 2005 được chính quyền tỉnh Lâm Đồng  xây dựng thành một khu du lịch lớn, thu hút khoảng khoảng 30 nhà đầu tư.</li>
<li>Chùa Linh Phước còn được gọi  là Chùa Ve Chai vì trong sân có con rồng dài 49 m được làm bằng 12.000 vỏ chai,  sành sứ. Chùa là một kiến trúc khảm sành độc đáo của Đà Lạt. Chùa tọa lạc tại  Trại Mát, cách trung tâm thành phố 10 km về phía Đông.</li>
<li><strong>Chùa Linh Sơn</strong> được xây dựng từ năm 1938 đến năm 1940 do  sự đóng góp của các Phật tử, nhất là ông Nguyễn Văn Tiến và Võ Đình Dung, người  đã nhận thầu hầu hết các công trình kiến trúc thời bấy giờ.</li>
<li><strong>Chùa Thiên Vương Cổ Sát</strong> được khởi xây năm 1958, cách trung tâm Đà Lạt vào khoảng 5 km, nằm trên một  đồi thông. Chính điện chùa có 3 tượng Phật cao 4 m thỉnh từ Hồng Kông, phía sau  chùa, trên đồi thông là tượng Thích Ca Phật Đài cao 20 m. Chùa còn được gọi là  <em>Chùa Tàu</em>, theo hệ phái Phật giáo Huê Nghiêm của Trung Quốc.</li>
<li><strong>Chùa Linh Phong</strong> tọa lạc tại đường Hoàng Hoa Thám, được xây dựng năm  1944. Trong chùa chỉ có sư nữ tu nên chùa còn được gọi là <em>Chùa Sư Nữ</em>.</li>
<li><strong>Chùa Linh Quang</strong>, ngôi tổ đình đầu tiên của Đà Lạt, tọa lạc trên đường  Hai Bà Trưng do hòa thượng Thích Nhân Thứ tạo lập năm 1931.</li>
</ul>
<p dir="auto"><strong>Nhà thờ</strong></p>
<p dir="auto"><img src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/thumb/d/df/NhaThoDomaine02_DaLat.jpg/180px-NhaThoDomaine02_DaLat.jpg" alt="" class=" img-fluid img-markdown" /></p>
<p dir="auto">Khuôn viên  bên trong của nhà thờ Domain de Marie</p>
<p dir="auto"><strong>Nhà  thờ chánh tòa Đà Lạt</strong> thường được gọi là Nhà thờ Con gà vì có hình con gà  trên nóc, biểu tượng cho thánh Phê-rô. Nhà thờ được khởi công xây dựng từ năm 1931, đến năm 1942 thì hoàn thành. Nhà thờ là một trong những kiến trúc  tiêu biểu và cổ xưa của Đà Lạt.</p>
<p dir="auto">Ngoài ra Đà Lạt còn có nhiều nhà thờ khác như <strong>Nhà thờ Domaine de  Marie</strong> với kiến trúc kiểu Pháp rất đẹp, trong nhà thờ còn có một vườn hoa  tuyệt đẹp với 2 cây Tùng trên 75 năm tuổi, <strong>nhà thờ Du Sinh</strong> có kiến trúc  cổ truyền Việt Nam với mái cong và rồng. <strong>Nhà thờ Cam Ly</strong> được xây dựng từ  năm 1960 đến 1968 theo kiểu nhà rông Tây Nguyên.</p>
<p dir="auto"><strong>[sửa]  Dinh thự</strong></p>
<p dir="auto">Đà Lạt có nhiều dinh thự và biệt thự đẹp như:</p>
<ul>
<li>Dinh I: đã  từng là văn phòng quốc trưởng của Bảo Đại, nay được Công ty K'Gim -  Hàn Quốc đầu tư thành khu khách sạn,giải trí cao cấp.</li>
<li>Dinh II:  từng là biệt thự nghỉ mát của toàn quyền Decoux, rồi sau đó là của Ngô Đình  Diệm và Nguyễn Cao Kỳ. Sau năm 1975 là  nhà khách UBND tỉnh Lâm Đồng.</li>
<li>Dinh III: còn gọi là dinh Bảo  Đại, xây dựng từ năm 1933, nằm ở đường Triệu  Việt Vương, gần Viện vacxin và các chế phẩm sinh học Đà Lạt. Từ năm 1949, Đà Lạt là thủ phủ của Hoàng triều cương  thổ, vua Bảo Đại sống với gia đình và làm việc tại đây. Hiện nay còn lưu giữ lại  nguyên trạng 25 phòng và một số hiện vật của ông vua cuối cùng triều Nguyễn,  hoàng hậu Nam Phương, các hoàng tử và công chúa. Vườn hoa trước biệt điện được  chăm sóc công phu.</li>
<li>Biệt thự Long Mỹ Quận Công Nguyễn Hữu Hào (cha của Nam Phương Hoàng  Hậu Nguyễn Hữu Thị Lan - vợ vua Bảo Đại).</li>
<li>Biệt thự Thống đốc Nam kỳ, nay là trụ sở UBND tỉnh Lâm Đồng.</li>
<li>Biệt thự Hằng Nga.</li>
</ul>
<p dir="auto">Ngoài ra còn hàng trăm biệt thự cổ khác nằm rải rác, nhiều căn bị bỏ hoang  lâu ngày.</p>
<p dir="auto"><strong>Du lịch</strong></p>
<p dir="auto">Được ví như một Tiểu Paris, Đà Lạt từng mộng mơ và nên thơ nhờ cái lạnh cao  nguyên ban đêm, sương mù buổi sớm và những dải rừng thông bao quanh thành phố.  Không gian này tuy vậy đã phần nào bị mất đi cái chất Pháp trong các kiến trúc  biệt thự thiếu chăm sóc hay bị sửa đổi không phù hợp.<br />
Du lịch tuy là một thế mạnh song cũng là yếu tố làm thay đổi Đà Lạt theo  hướng đô thị hóa.</p>
<p dir="auto"><strong>Đồi Cù</strong></p>
<p dir="auto"><img src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/thumb/0/03/Doi_Cu_Da_Lat.jpg/180px-Doi_Cu_Da_Lat.jpg" alt="" class=" img-fluid img-markdown" /></p>
<p dir="auto">Đồi Cù bên bờ  Hồ Xuân Hương</p>
<p dir="auto">Đồi Cù nằm giữa trung tâm thành phố Đà Lạt nằm kế bên là Hồ Xuân Hương do vậy  thường được nhắc đến như một địa danh dính liền nhau - nhiều người cho rằng Đà  Lạt sẽ kém phần mỹ lệ nếu thiếu Đồi Cù và hồ Xuân Hương. Năm 1942, khi thiết kế  đồ án quy hoạch thành phố Đà Lạt, kiến trúc sư Lagisquet đã khoanh vùng Đồi Cù  như một khu vực bất khả xâm phạm nhằm tạo một tầm nhìn thoáng đãng cho Đà Lạt.  Về sau, một kiến trúc sư người Anh đã thiết kế biến Đồi Cù thành sân golf 9 lỗ khá nổi tiếng của vùng Đông Nam Á và hiện  nay Đồi Cù đã được nâng cấp thành sân golf 18 lỗ. Tên Đồi Cù không rõ có từ bao  giờ, và vì sao gọi là "Đồi Cù" lại có hai hướng lý giải, có người cho rằng những  quả đồi thoai thoải nơi đây khi nhìn từ xa giống như tấm lưng trần của những con  cù khổng lồ nên đã ví von gọi là "Đồi Cù"; cũng có người giải thích sở dĩ có tên  "Đồi Cù" vì nơi đây là một địa điểm chơi golf hay còn gọi là đánh cù.</p>
<p dir="auto">** Hồ Xuân Hương**</p>
<p dir="auto"><img src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/55/Ho_Xuan_Huong.PNG/180px-Ho_Xuan_Huong.PNG" alt="" class=" img-fluid img-markdown" /></p>
<p dir="auto">Hồ Xuân  Hương</p>
<p dir="auto">Hồ Xuân Hương nằm ngay trung tâm thành phố Đà Lạt và bên cạnh Đồi Cù. Hồ thực  chất là hồ nhân tạo được xây dựng vào năm 1919 do sáng kiến của Cunhac. Để tạo  thành hồ, người ta đắp một cái đập chắn dòng suối chảy qua thung lũng, hồ có  diện tích mặt nước rộng 25 ha, chu vi dài 5,1 km. Xung quanh hồ nhiều kiến trúc  độc đáo có giá trị nghệ thuật, thẩm mỹ cao được xây dựng như khách sạn Palace,  thao trường Lâm Viên, nhà nghỉ Công Đoàn, Nhà hàng Thanh Thủy, Thủy Tạ... Trước  kia hồ có tên gọi Grand Lac (hồ lớn). Vào buổi sáng sớm sương mù hiện lên rất  đẹp và thơ mộng.</p>
<p dir="auto">** Hồ Suối Vàng**</p>
<p dir="auto">Hồ Suối Vàng là hồ nước ngọt lớn nhất tại Đà Lạt, cung cấp nước sinh hoạt cho  thành phố qua đập tràn của công ty cấp nước Đà Lạt. Thung lũng Suối Vàng còn là  điểm đến du lịch nổi tiếng với vườn hoa và rừng thông.</p>
<p dir="auto">** Công viên hoa Đà Lạt**</p>
<p dir="auto"><img src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/3/34/Da_Lat_flower_park.PNG/180px-Da_Lat_flower_park.PNG" alt="" class=" img-fluid img-markdown" /></p>
<p dir="auto">Công viên hoa  Đà Lạt</p>
<p dir="auto">Công viên hoa Đà Lạt nằm quanh trên bờ phía Bắc của hồ Xuân Hương, trên thung  lũng của Đồi Cù. Trước đây công viên hoa Đà Lạt có tên là Bích Câu, hiện nay  diện tích của công viên hoa được mở rộng tới 7000 m², với cách bố trí thoáng  đãng, tạo ấn tượng cho người chợt ghé. Các loại hoa và cây cảnh nổi tiếng của Đà  Lạt được trồng tỉa chăm sóc chu đáo, cảnh sắc tươi mát, phong phú bốn mùa. Hàng  năm thường tổ chức lễ hội hoa và là thông điệp nhằm mời gọi, thu hút các nhà đầu  tư trong nước và nước ngoài phát triển Đà Lạt và các vùng phụ cận trở thành  trung tâm sản xuất, xuất khẩu hoa của cả nước và khu vực Đông Nam Á.</p>
<p dir="auto"><strong>Những điều thú vị về Đà Lạt</strong></p>
<ul>
<li>Thành phố duy nhất không có xích lô.</li>
<li>Thành phố duy nhất không có cửa hàng bán quạt và máy lạnh.[3]</li>
<li>Thành phố duy nhất rất ít đèn giao thông (thời Pháp thuộc hoàn toàn không  có).[4]</li>
<li>Thành phố duy nhất không có cảnh sát giao thông ở các giao lộ (thời Pháp  thuộc hoàn toàn không có cảnh sát giao thông).)[5]</li>
<li>Phụ nữ Đà Lạt thấp, da trắng hồng, mập mạp chính là phụ nữ gốc Đà Lạt.[6]</li>
</ul>
<p dir="auto"><strong>Chú thích</strong></p>
<p dir="auto">[<em>]<strong>^</strong> “Đà Lạt thành đô thị loại 1”.<br />
[</em>]<strong>^</strong> Từ Đà Lạt nghĩ về Hà Nội<br />
[<em>]<strong>^</strong> Mang tính chất hiện tại,  khả năng tương lai sẽ có.<br />
[</em>]<strong>^</strong> Đã xuất hiện, tuy còn rất  ít<br />
[<em>]<strong>^</strong> Hiện nay đã có dù còn ít<br />
[</em>]<strong>^</strong> Trên cơ sở người bản địa</p>
]]></description><link>https://dalathoa.com/topic/4284/lich-su-va-thong-tin-tp-da-lat</link><generator>RSS for Node</generator><lastBuildDate>Fri, 19 Jun 2026 01:15:11 GMT</lastBuildDate><atom:link href="https://dalathoa.com/topic/4284.rss" rel="self" type="application/rss+xml"/><pubDate>Thu, 18 Jun 2026 17:56:03 GMT</pubDate><ttl>60</ttl><item><title><![CDATA[Reply to Lịch Sử và thông tin TP Đà Lạt on Thu, 18 Jun 2026 17:56:03 GMT]]></title><description><![CDATA[<p dir="auto">đúng rồi đó bạn, đó là những đặc trưng của thành phố ngàn hoa.</p>
]]></description><link>https://dalathoa.com/post/17961</link><guid isPermaLink="true">https://dalathoa.com/post/17961</guid><dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator><pubDate>Thu, 18 Jun 2026 17:56:03 GMT</pubDate></item><item><title><![CDATA[Reply to Lịch Sử và thông tin TP Đà Lạt on Thu, 18 Jun 2026 17:56:03 GMT]]></title><description><![CDATA[<p dir="auto">mấy thông tin này quen quen, giống trên bách khoa nhỉ?</p>
]]></description><link>https://dalathoa.com/post/17960</link><guid isPermaLink="true">https://dalathoa.com/post/17960</guid><dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator><pubDate>Thu, 18 Jun 2026 17:56:03 GMT</pubDate></item><item><title><![CDATA[Reply to Lịch Sử và thông tin TP Đà Lạt on Thu, 18 Jun 2026 17:56:03 GMT]]></title><description><![CDATA[<p dir="auto">Nhớ hùi trước DL chỉ có 12 phường, 3 xã thôi mà ta, ủa zậy là mới có thêm<br />
"xã Trạm Hành" hả bạn. <img src="https://dalathoa.com/assets/plugins/nodebb-plugin-emoji/emoji/android/1f61b.png?v=949c31d9b7c" class="not-responsive emoji emoji-android emoji--stuck_out_tongue" style="height:23px;width:auto;vertical-align:middle" title=":P" alt="😛" /><br />
tại sao lại kiu là "có rất ít đèn giao thông" nghe lạ àh,mình chỉ bik là: ko có đèn đỏ (đèn giao thông) thôi, ở những nơi có đèn giao thông thì CSGT sẽ đứng đó, còn ở dl thì hok có đèn nên sẽ hok có csgt đứng ngay mí cái giao lộ.<br />
và DL còn có thêm 1 cái khác là "quê hương ai cũng có 1 dòng sông" còn DL thì hok có con sông nào hết.<br />
Nhưng chủ íu người ta nhắc tới DL có 3 cái không là: ko xích lô, ko đèn đỏ và ko có sông.</p>
]]></description><link>https://dalathoa.com/post/17959</link><guid isPermaLink="true">https://dalathoa.com/post/17959</guid><dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator><pubDate>Thu, 18 Jun 2026 17:56:03 GMT</pubDate></item><item><title><![CDATA[Reply to Lịch Sử và thông tin TP Đà Lạt on Thu, 18 Jun 2026 17:56:03 GMT]]></title><description><![CDATA[<p dir="auto">cuibapwa <img src="https://dalathoa.com/assets/plugins/nodebb-plugin-emoji/emoji/android/1f604.png?v=949c31d9b7c" class="not-responsive emoji emoji-android emoji--smile" style="height:23px;width:auto;vertical-align:middle" title=":D" alt="😄" /> &gt;:)</p>
]]></description><link>https://dalathoa.com/post/17958</link><guid isPermaLink="true">https://dalathoa.com/post/17958</guid><dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator><pubDate>Thu, 18 Jun 2026 17:56:03 GMT</pubDate></item></channel></rss>