Về hay ở - Tập Thơ Nguyễn Khuyến.
-
N Ngoại tuyếnToa 56
Cáo quan về ở nhà - Tập Thơ Nguyễn Khuyến
Cáo quan về ở nhà
Ngần ấy năm nay vẫn ở nhà,
Nghĩ ta, ta lại chỉ thương ta.
Bóng hiên thêm ngán hơi nồng nhỉ,
Ngọn gió không nhường tóc bạc a!
Thửa mạ rạch ròi chân (1) xấu tốt,
Đấu lương đo đắn tuổi non già. (2)
Khi buồn chén rượu say không biết,
Ngửa mặt lờ mờ ngọn núi xa.(Tác giả tự dịch bài "Mạn Hứng")
(1) Chân: tức chân ruộng.
(2) Đong thóc sành sỏi.tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 57
Phú Đắc (1) - Tập Thơ Nguyễn Khuyến
**Phú Đắc (1)
****Bà già đã bảy mươi tư,
Ngồi trong cửa sổ gửi thư lấy chồng.Đã trót sinh ra kiếp má đào,
Bảy mươi tư tuổi có là bao?
Xuân xanh xấp xỉ hàng răng rụng,
Ngày vắng ân cần mảnh giấy trao.
Chữ nhất nhi chung (2) đành đã vậy,
Câu tam bất hiếu (3) nữa làm sao?
May mà chim được ông chồng trẻ,
Họa có sinh ra được chút nào?**- Phú đắc là lối trình bày sự việc cụ thể.
- Nhất nhi chung: nói người phụ nữ chỉ lấy một người chồng cho đến khi chết.
- Tam bất hiếu: do câu "bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại" (Mạnh Tử) nghĩa là bất hiếu có ba điều, không có con là điều lớn nhất.
tác giả ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 58
Đại lão (1) - Tập Thơ Nguyễn Khuyến
**Đại lão (1)
**Năm nay tớ đã bảy mươi tư,
Rằng lão, rằng quan tớ cũng ừ.
Lúc hứng, uống thêm dăm chén rượu,
Khi buồn ngâm láo một câu thơ.
Bạn già lớp trước nay còn mấy?
Chuyện cũ mười phần chín chẳng như. (2)
Cũng muốn sống thêm dăm tuổi nữa,
Thử xem trời mãi thế này ư?- Đại lão: ý nói già lắm.
- Chín chẳng như: đời mười phần không vừa ý mình đến tám, chín phần.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 59
Di chúc (1) - Tập Thơ Nguyễn Khuyến
Di chúc (1)
Kém hai tuổi xuân đầy chín chục.
Số thầy sinh phải lúc dương cùng. (2)
Đức thầy đã mỏng mòng mong,
Tuổi thầy lại sống hơn ông cụ thầy.
Học chẳng có rằng hay chi cả.
Cưỡi đầu người kể đã ba phen; (3)
Tuổi là tuổi của gia tiên,
Cho nên thầy được hưởng niên lâu ngày.ấy thuở trước ông mày chẳng đỗ, (4)
Hóa bây giờ cho bố làm nên;
Ơn vua chửa chút báo đền,
Cúi trông hổ đất, ngửa lên thẹn trời.
Sống không để tiếng đời ta thán,
Chết được về quê quán hương thôn;
Mới hay trăm sự vuông tròn,
Sống lâu đã trải, chết chôn chờ gì?
Đồ khâm liệm chớ nề xấu tốt,
Kín chân tay đầu gót thời thôi;
Cỗ đừng to lắm con ơi,
Hễ ai chạy lại, con mời người ăn.
Tế đừng có viết văn mà đọc,
Trướng đối đừng gấm vóc làm chi;
Minh tinh (5) con cũng bỏ đi,
Mời quan đề chủ (6) con thì không nên.Môn sinh (7) chớ bổ tiền đặt giấy,
Bạn của thầy cũng vậy mà thôi;
Khách quen chớ viết thiếp mời.
Ai đưa lễ phúng con thời chớ thu.
Chẳng qua nợ để cho người sống,
Chết đi rồi còn ngóng vào đâu!
Lại mang cái tiếng to đầu,
Khi nay bày biện, khi sau chê bàn.
Cờ biển của vua ban ngày trước,
Khi đưa thầy con rước đầu tiên;
Lại thuê một lũ phường kèn,
Vừa đi vừa thổi mỗi bên dăm thằng.
Việc tống táng nhung nhăng qua quýt,
Cúng cho thầy một ít rượu hoa;
Đề vào mấy chữ trong bia,
Rằng: "Quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu".- Theo ý kiến một số cụ già ở địa phương nhà thơ, thì bài này là do cụ Trần Tán Bính dịch trong buổi lễ đưa ma cụ Nguyễn Khuyến.
- Dương cùng: ý nói nhà thơ đã đến ngày tận số.
- ý nói: nhà thơ qua ba kì thi đều đỗ đầu bảng (tam nguyên).
- Ông cụ thân sinh nhà thơ thuở trước cũng là chân học khoa cử, nhưng không đỗ đạt cao.
- Minh tinh: một mảnh lụa, mảnh vải hoặc mảnh giấy đề tên hiệu, tên thụy, tuổi và chức tước, địa vị người chết trong khi đưa đám ma.
- Đề chủ: viết tên và hiệu người chết vào. Việc viết này thường được coi là tôn trọng, nên phải mời người có chức tước làm.
- Môn sinh: học trò cùng học một thầy.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 60
Đêm thu đứng trên núi trông - Tập Thơ Nguyễn Khuyến
Đêm thu đứng trên núi trông
Mắt thu tám mặt xóm làng quanh,
Chót vót non cao đứng một mình
Gió nhẹ bóng trăng vờn khói bạc,
Mù quang chuôi đẩu gác mây xanh.
Một trời cảnh vật vàng tô vẻ,
Bốn mặt giang sơn ngọc chuốt hình.
Hòa với tiếng thu, sương thánh thót,
Âu Dương (1) phú ấy gợi bao tình.Hoàng Tạo dịch
- Âu Dương Tu đời Tống, có bài phú "Tiếng thu".
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 61
Mối cảm đêm thu - Tập Thơ Nguyễn Khuyến
Mối cảm đêm thu
Bốn mặt non sông vắng lặng tờ,
Phòng văn tựa ghế ngắm gương nga.
Lá thu một chiếc bay trong gió,
Khêu gợi bao nhiêu nỗi nhớ nhà.Hoàng Tạo dịch
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 62
Núi Tam Điệp - Tập Thơ Nguyễn Khuyến
Núi Tam Điệp (1)
Thanh Hoa sông núi đế vương xưa,
Gươm sách đường quen lại vẫn ta.
Phóng mắt đầu non Tam Điệp rõ,
Ngoảnh đầu dòng nước Cửu Long xa.
Xanh pha sườn núi màu cây lẫn,
Trắng lộn chân mây mặt bể mờ.
Những muốn ăn thề cùng suối đá.
Biết dâu suối đá có tin mà?
Hoàng Tạo dịch- Núi Tam Điệp: dãy núi ở giữa hai tỉnh Ninh Bình Và Thanh Hoá.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 63
Núi Dục Thuý - Tập Thơ Nguyễn Khuyến
Núi Dục Thuý (1)
Non xanh muôn thuở xanh cao,
Mà tên Dục Thuý năm nào đặt ra?
Thành côi ngàn bậc trên xa,
Ngôi chùa ven núi nhô ra nửa dòng.
Tìm đâu Tuệ Viễn sư ông,
Bia am Thăng Phủ rêu phong vẫn còn.
Chim chiều đôi tiếng véo von,
Tình xưa gửi với nước non bóng tà!Hoàng Tạo dịch
- Núi Dục Thuý: ở gần Ninh Bình, trên bờ sông Đáy.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 64
Đền trên núi Dạ - Tập Thơ Nguyễn Khuyến
Đền trên núi Dạ (1)
Chiến tranh tàn cuộc tự năm nào?
Lầu gác còn trơ lưng núi cao.
Thành ốc thịnh, suy cơ định trước,
Móng Rùa còn mất chuyện không đâu.
Mai đưa khách lạ, đàn công dạn,
Tùng gội mưa hôm, cái quạ rầu.
Vương bá ngàn thu đâu sự nghiệp?
Khói cây non Dạ một rừng sâu.Hoàng Tạo dịch
- Núi Dạ: tức là núi Mộ Dạ thuộc tỉnh Nghệ An.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )
-
N Ngoại tuyếnToa 65
Thạch Hãn Giang (1) - Tập Thơ Nguyễn Khuyến
Thạch Hãn Giang (1)
Khua ngang dòng Hãn một con chèo,
Lấp loáng non xa nhuộm nắng chiều.
Trách trận gió tây tung cát bụi,
Chẳng còn như trước nước trong veo.Hoàng Tạo dịch
- Sông Thạch Hãn thuộc Quảng Trị.
tác giả: ( Nguyễn Khuyến )