<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/" xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom" version="2.0"><channel><title><![CDATA[Bài thơ tình hay nhất thế kỷ 20]]></title><description><![CDATA[<p dir="auto">**MÀU TÍM HOA SIM ***là một bài thơ rất nổi tiếng của nhà thơ **Hữu Loan **được sáng tác năm 1949 tại Thanh Hóa, vào thời điểm được cho là sau khi người vợ đầu tiên của tác giả qua đời. *</p>
<p dir="auto"><img src="http://4.bp.blogspot.com/_hZ5Z4u7lVlw/S6NaigYI8CI/AAAAAAAAAY4/E2pp8NTeW1s/s320/Hoa+sim.JPG" alt="" class=" img-fluid img-markdown" /></p>
<p dir="auto"><strong>Nhà Thơ Hữu Loan và mối tình mang "Màu tím hoa Sim"</strong><br />
Vào một ngày cuối năm 2003, dưới tán lá cây bồ đề  trong vườn nhà ông, dưới chân núi Văn Lỗi của làng Văn Hoan (xã Nga  Lĩnh, huyện Nga Sơn, cách TP Thanh Hóa chừng 50 km), bên chiếc chõng tre  cũ kỹ, nhà thơ Hữu Loan đã kể cho tôi nghe về mối tình lãng mạn nhưng  cũng hết sức bi thương của ông - mối tinh đã làm nên bài thơ nổi tiếng  “màu tím hoa sim”.</p>
<p dir="auto">Hữu Loan sinh năm 1914, trong một gia đinh tá điền. Không được đến  trường, chỉ học bữa được bữa không tại nhà do người cha dạy dỗ. Bù lại,  ông có tư chất rất thông minh. Người làng Văn Hoan kể rằng vào khoảng  năm 1938, Hữu Loan vác lều chõng ra Hà Nội đua tài. Số đỗ kỳ thi ấy thật  hiếm hoi. Cung đỗ với Hữu Loan còn có Nguyễn Đinh Thi, Hồ Trọng Gin,  Trịnh Văn Xuân, Đỗ Thiện… Năm 24 tuổi. Hữu Loan rời quê nhà lên TP Thanh  Hóa dạy học. Lúc bấy giờ, ở TP Thanh Hóa có cửa hàng bán vải và sách  của bà Tham Kỳ (tên thật là Đại Thị Ngọc Chất, vợ của ông Lê Đỗ Kỳ - kỹ  sư canh nông, có thời làm Tổng Thanh tra canh nông Đông Dương, sau này  là đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa).  Hữu Loan thường lại xem và mua sách, rồi trở thành gia sư cho người con  trai cùng cô con gái yêu của gia đinh bà là Lê Đỗ Thị Ninh, lúc ấy mới  tám tuổi.</p>
<p dir="auto">Hữu Loan kể: Lần đầu tiên tôi tới nhà, bà Chất phải gọi mãi cô bé Ninh  mới chịu ra khoanh tay chào thầy, miệng nói lí nhí: Con chào thầy ạ!?.  Chào xong cô bé bất ngờ mở to mắt nhin thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen  láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã in sâu vào tâm trí tôi, theo tôi  suốt cả cuộc đời. Thế là từ hôm ấy, tôi dạy em đọc, viết. Em là một cô  bé thông minh, it nói và mỗi lần mở miệng là giống y như một bà cụ. Có  lần tôi kể chuyện này cho hai người anh của em nghe. Không ngờ câu đùa  ấy đến tai em. Thế là em dỗi! Suốt một tuần liền, em nằm lì ở buồng  trong, không chịu học hành. Trước đó, hằng ngày em vẫn chăm sóc tôi một  cách rất thầm kín. Lúc thì đặt vào góc mâm chỗ tôi ngồi ăn một vài quả  ớt đỏ au em vừa hái ở vườn, lúc thì quả chanh mọng nước… Những buổi trưa  hè, khi tôi ngủ trưa, em lén lấy chiếc ao sơ mi trắng của tôi treo ở  góc nhà đem ra giếng giặt”.</p>
<p dir="auto">Một hôm, em nằng nặc đòi tôi đưa em  lên khu rừng thông. Tôi sợ em lại dỗi nên đành liều xin với ông bà Tổng  Thanh tra cho đưa em lên núi chơi. Xe kéo chạy chừng một giờ mới tới  được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc. Tôi đuổi theo em đến  đứt cả hơi. Lên tới đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi: Thầy ngồi xuống  đi!. Tôi ngồi xuống bên em. Chúng tôi cứ ngồi thế và chẳng nói gì. Bất  chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tít tận chân trời. Không hiểu  lúc đó em nghĩ gì. Bỗng em hỏi tôi: Thầy có thích ăn sim không??. Tôi  nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên và đi xuống sườn  đồi. Tôi mệt quá và nằm thiếp đi trên thảm cỏ. Khi tỉnh dậy, tôi thấy em  đang ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen nhánh,  chín mọng. Thầy ăn đi!. Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng. Ngọt  quá!- Tôi trầm trồ. Tôi sinh ra trong một gia đình nông dân. Quả sim đối  với tôi chẳng lạ lẫm gì nhưng thú thật chưa bao giờ tôi được ăn những  quả sim ngọt đến thế. Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này tới quả khác. Tôi  ngước nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi, hai bên má tím  đỏ một màu… sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười …</p>
<p dir="auto">Cuối mùa đông  năm ấy, tôi lên đường đi kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em cứ theo ra mãi  tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… Lên đến bờ đê, nhìn  xuống đầu làng, em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ  xíu như chiếc lá sim vẫy tôi. Tôi đi… Tôi quay đầu nhìn lại… Tôi lại đi  và nhìn lại cho tới khi không còn thấy em nữa.</p>
<p dir="auto">Những năm tháng ở  chiến khu, thỉnh thoảng tôi có nhận được tin tức từ quê lên, tôi biết  em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Tám năm sau, tôi trở lại nhà… Về Nông Cống  tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều nhưng em không  nói, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn là cô học trò  Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã 16 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp. Một  tuần sau đó, chúng tôi kết hôn. Đám cưới thật đơn sơ:</p>
<p dir="auto">Tôi mặc đồ quân nhân<br />
đôi giày đinh<br />
bết bụi đất hành quân<br />
nàng cười xinh xinh<br />
bên anh chồng độc đáo?.</p>
<p dir="auto">Khỏi  phải nói chúng tôi hạnh phúc như thế nào. Hai tuần phép của tôi trôi đi  nhanh quá. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi tám năm  về trước em đã đứng. Chỉ có điều giờ đây em không còn là cô bé Ninh nữa  mà đã là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi đi, tôi lại quay đầu nhin  lại… Nếu như tám năm về trước tôi đi, tôi nhin lại và chỉ cảm thấy một  nỗi buồn man mác thì lần này tôi thực sự đau buồn. Đôi chân tôi như quỵ  xuống… Em cũng như quỵ xuống…</p>
<p dir="auto">Ba tháng sau, tôi nhận được tin  dữ: Vợ tôi qua đời. Em chết thật thảm thương! Hôm đó là ngày 29-5 âm  lịch năm 1948. Em đưa quần áo ra giặt ở sông Chuông (thuộc ấp Thị Long,  Nông Cống). Đang giặt em trượt chân. Con nước lớn đã cuốn em vào lòng  nó, cướp đi của tôi người bạn đời tri kỷ, để lại cho tôi nỗi đau không  gì có thể bù đắp nổi. Nỗi đau ấy, hơn 60 năm qua, vẫn nằm sau thẳm trong  trái tim tôi…</p>
<p dir="auto">Nỗi đau ấy tôi phải giấu kín trong lòng. Tôi như  một cái xác không hồn. Dường như nỗi đau càng bị kìm nén thì càng dữ dội  hơn. May sao sau đó có đợt chỉnh huấn. Cấp trên bảo ai có tâm tư gì thì  cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong tôi được dịp bung  ra. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những chuyện mộc mạc cứ trao ra:</p>
<p dir="auto">Nàng có ba người anh đi bộ đội<br />
Những em nàng<br />
có em chưa biết nói<br />
Khi tóc nàng xanh xanh…<br />
Tôi về<br />
không gặp nàng…?.</p>
<pre><code>                                                  Sưu tầm
</code></pre>
<p dir="auto"><img src="http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/A3/16/ahuuloan.jpg" alt="" class=" img-fluid img-markdown" /></p>
<p dir="auto"><em>Chân dung Nhà Thơ Hữu Loan</em></p>
<p dir="auto">Vào năm 2004 nó được mua bản quyền với giá 100 triệu đồng tiền Việt Nam trở thành một kỷ lục Việt Nam.<br />
Năm 1990 bài thơ được in lần đầu trong một tập thơ, đó cũng là tập thơ đầu tiên được xuất bản của Hữu Loan: <em>Màu tím hoa sim</em>.</p>
<h3><strong>MÀU TÍM HOA SIM</strong></h3>
<p dir="auto">Nàng có ba người anh đi bộ đội<br />
Những em nàng<br />
Có em chưa biết nói<br />
Khi tóc nàng xanh xanh<br />
Tôi người Vệ quốc quân<br />
xa gia đình<br />
Yêu nàng như tình yêu em gái<br />
Ngày hợp hôn<br />
nàng không đòi may áo mới<br />
Tôi mặc đồ quân nhân<br />
đôi giày đinh<br />
bết bùn đất hành quân<br />
Nàng cười xinh xinh<br />
bên anh chồng độc đáo<br />
Tôi ở đơn vị về<br />
Cưới nhau xong là đi<br />
Từ chiến khu xa<br />
Nhớ về ái ngại<br />
Lấy chồng thời chiến binh<br />
Mấy người đi trở lại<br />
Nhỡ khi mình không về<br />
thì thương<br />
người vợ chờ<br />
bé bỏng chiều quê…<br />
Nhưng không chết<br />
người trai khói lửa<br />
Mà chết<br />
người gái nhỏ hậu phương<br />
Tôi về<br />
không gặp nàng<br />
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối<br />
Chiếc bình hoa ngày cưới<br />
thành bình hương<br />
tàn lạnh vây quanh<br />
Tóc nàng xanh xanh<br />
ngắn chưa đầy búi<br />
Em ơi giây phút cuối<br />
không được nghe nhau nói<br />
không được trông nhau một lần<br />
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím<br />
áo nàng màu tím hoa sim<br />
Ngày xưa<br />
một mình đèn khuya<br />
bóng nhỏ<br />
Nàng vá cho chồng tấm áo<br />
ngày xưa…<br />
Một chiều rừng mưa<br />
Ba người anh trên chiến trường đông bắc<br />
Được tin em gái mất<br />
trước tin em lấy chồng<br />
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông<br />
Đứa em nhỏ lớn lên<br />
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị<br />
Khi gió sớm thu về<br />
cỏ vàng chân mộ chí<br />
Chiều hành quân<br />
Qua những đồi hoa sim<br />
Những đồi hoa sim<br />
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết<br />
Màu tím hoa sim<br />
tím chiều hoang biền biệt<br />
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa<br />
Áo anh sứt chỉ đường tà<br />
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu<br />
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau<br />
Chiều hoang tím có chiều hoang biết<br />
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết<br />
Nhìn áo rách vai<br />
Tôi hát trong màu hoa<br />
Áo anh sứt chỉ đường tà<br />
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…<br />
Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm<br />
Tím tình ơi lệ ứa<br />
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành<br />
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn<br />
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím<br />
Tôi ví vọng về đâu<br />
Tôi với vọng về đâu<br />
Áo anh nát chỉ dù lâu…<br />
<em>(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)</em></p>
<p dir="auto"><em>Trích...</em><br />
*... Bước thăng trầm của ông bắt đầu từ cuối năm 1957. Một  đêm Hà Hội nhiều sương muối, buốt giá, ông và nhạc sĩ Văn Cao trắng đêm  dạo quanh hồ Thiền Quang. Đến sáng thì Văn Cao tiễn ông ra bến xe để ông  trở về quê Nga Sơn kiếm kế sinh nhai.<br />
Bấy giờ Nga Sơn, Thanh Hóa quê ông nghèo lắm. Ông lại  tay trắng dắt vợ con về, biết sống sao đây. Buổi chiều đầu tiên về thôn  Vân Hoàn, thay vì đi thăm hỏi láng giềng ông cắp be rượu lên núi đá đầu  thôn.<br />
Bạn ông, người cùng thời, nhà thơ Trần Dần có câu thơ làm ông sởn gai ốc: **Cuối phố có ngọn đèn thắt cổ / Hãy chỉ cho tôi chỗ nào tôi đổ bớt tôi đi.  Trần Dần đổ nỗi buồn thi nhân thăm thẳm vào đâu, ông chưa hình dung ra,  nhưng với ông, ở Nga Sơn này, ông chỉ còn biết đổ lên đá mà càm cắp vợ  con qua cơn giáp hạt.<br />
Vốn có sức như trai lực điền, lại ở bước cùng, không  thể ngồi ngâm thơ nhìn các con hết gạo, ông tưới rượu lên mặt đá mà thề  sẽ bám đá để sống.<br />
Một chiếc xe cút kít. Một đôi quang sắt. Một xà  beng. Một cuốc chim. Một chiếc đòn gánh bằng cả khúc tre ngâm. Ông nạy  từng khối đá đưa lên chiếc xe cút kít thô sơ đem đi bán ở các lò thợ làm  cối, làm thớt, làm  kê chân cột và làm vật liệu xây dựng.<br />
Bán cả chục xe đá mới kiếm đủ ngày hai bữa cơm dưa muối  cho đàn con. Đã thế, nhiều khi ế ẩm, đá chất đầy vườn, cả tháng không  ai hỏi mua. Một năm, hai năm, ba năm...<br />
Hữu Loan trở thành người thợ đá da đen như sừng, chân  tay sần sẹo, tua tủa tóc rễ tre, đi đứng nói năng mạnh mẽ. Cặm cụi vật  lộn với núi đá ông nuôi cả mười đứa con khôn lớn.<br />
Đến giờ cả mười  đứa con đã có chín  nên vợ nên chồng, sinh cho ông đàn cháu 37 đứa. Chỉ còn cậu út là chưa lập gia đình.<br />
Hữu Loan thôi bám núi đá đã mười năm nay. Ông lui về  nhà, trải chiếu trên thềm, ngày ngày ngồi uống rượu, ngắm rượu và ngóng  đợi con cháu về thăm nhà, ngóng đợi những chuyển động đổi thay của làng  xóm, của gia đình mình, của phận mình.<br />
Dằng dặc ngóng đợi, vận may cũng đã đôi lần gõ cửa nhà ông. Bắt đầu là toà soạn báo **Văn nghệ, cơ quan ông công tác gần bốn mươi năm trước đưa đến tận nhà cho ông sổ hưu, với mức lương gần hai trăm ngàn đồng/tháng.<br />
Rồi chờ thêm vài năm nữa ông được xuất bản tập thơ đầu tiên trong đời, tập **Màu tím hoa sim với mười bài thơ ông viết từ thời kháng chiến.<br />
Lại đợi, ông được trời ban phúc, con trai út, chú bé ra  đời trên lèn đá tốt nghiệp Đại học Kiến trúc Hà Nội. Cậu út kiến trúc  sư đang tham gia quy hoạch Dự án bảo tồn khu di tích Bác Hồ ở Kim Liên,  Nghệ An.<br />
Nghe tin con thành đạt ông cứ ngẩn ngơ tiếc nuối, giá  còn sức như ngày nào, ông sẽ chở một xe cút kít đá  ở cái núi đá từng  nuôi sống gia đình ông về tận Kim Liên mà góp cho dự án bảo tồn một vài  viên đá lát đường.<br />
Không biết có còn vận may nào đến nữa không, Hữu Loan  vẫn chờ. Cái chỗ bao nhiêu năm ngồi uống rượu, ngắm rượu và chờ đợi, mồ  hôi thấm lên tường hình một bờ vai. Hình bờ vai lún dần, lún dần xuống  thấp, có dễ không lâu nữa ngả hẳn xuống gần mặt chiếu.<br />
Tôi ghé sát tai ông:</p>
<ul>
<li>Thưa bác, bác có làm thơ nữa không?<br />
Hữu Loan vẫn nhìn chén rượu:</li>
<li>Có. Nhưng toàn thơ đểu - Bỗng nhiên ông cất tiếng cười, cười khà khà, mãn nguyện.</li>
<li>Bác thử đọc vài câu thơ đểu cho con nghe với nào ?<br />
Hữu Loan ngồi im. Lát sau ông nói :</li>
<li>Đọc Đèo Cả thì đọc, chứ đọc thơ đểu phí rượu.<br />
Rồi ông như người bất ngờ vùng tỉnh dậy sau giấc ngủ  dài, tinh nhanh, hoạt bát hẳn ra, giọng vang và còn sáng. Ông đọc hết  Đèo Cả không hề vấp váp. Đọc xong, ông vơ lấy chén rượu, nhưng không  uống, chỉ nhìn mà nước mắt rơi.<br />
<strong>Hà Đình Cẩn</strong></li>
</ul>
<p dir="auto"><strong>Nhân vật trong bài</strong>*   *</p>
<p dir="auto">Trong bài ngoài 2 nhân vật chính là anh lính và người vợ, còn có 3 người anh:*   *<br />
Một chiều rừng mưa** ba người anh, **từ chiến trường Đông Bắc <strong>được tin em gái mất</strong> trước khi em lấy chồng Ba người anh cũng là nhân vật có thật: người anh cả là ông Lê Đỗ Khôi, làm Chính trị viên tiểu đoàn, hy sinh trên đồi Him Lam chỉ vài giờ trước khi trận Điện Biên Phủ kết thúc. Người anh thứ hai là ông Lê Đỗ Nguyên, tức Trung tướng Phạm  Hồng Cư, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị còn người anh thứ ba là  ông Lê Đỗ An, tên công tác là Nguyễn Tiên Phong, nguyên Bí thư Trung  ương Đoàn - Phó Ban dân vận Trung ương. Lúc đó cả ba người anh đều đang ở chiến trường Đông Bắc, do thư từ thời  đó vận chuyển khó khăn nên họ nhận được tin em gái chết trước khi nhận  được thư nhà báo tin em lấy chồng.</p>
<ul>
<li></li>
</ul>
<p dir="auto">Sự nổi tiếng của bài thơ còn được góp công phần nào bởi các nhạc sĩ: Dũng Chinh, Phạm Duy, Anh Bằng và Duy Khánh...  là những người đã phổ nhạc dựa trên ý thơ của bài. Riêng bài "Những đồi  hoa sim" của Dzũng Chinh và "Áo anh sứt chỉ đường tà" của Phạm Duy, một  bi ca, một hùng ca, cho đến nay vẫn là những tác phẩm nổi tiếng nhất  dựa trên nền bài thơ Mầu tím hoa sim.</p>
<p dir="auto">**Áo anh sứt chỉ đường tà (Nhạc: Phạm Duy)<br />
**<br />
<a href="https://youtube.com/watch?v=5uiITXE9msk" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow ugc">https://youtube.com/watch?v=5uiITXE9msk</a></p>
<p dir="auto">**Màu Tím Hoa Sim (Nhạc: Anh Bằng)<br />
**<br />
<a href="https://youtube.com/watch?v=oV8GM2jUZAs" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow ugc">https://youtube.com/watch?v=oV8GM2jUZAs</a></p>
<p dir="auto"><strong>Những Đồi Hoa Sim (Nhạc: Dzũng Chinh)</strong></p>
<p dir="auto"><a href="https://youtube.com/watch?v=kr88FMBtzZs" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow ugc">https://youtube.com/watch?v=kr88FMBtzZs</a></p>
]]></description><link>https://dalathoa.com/topic/10321/bai-tho-tinh-hay-nhat-the-ky-20</link><generator>RSS for Node</generator><lastBuildDate>Fri, 19 Jun 2026 05:24:39 GMT</lastBuildDate><atom:link href="https://dalathoa.com/topic/10321.rss" rel="self" type="application/rss+xml"/><pubDate>Thu, 18 Jun 2026 19:17:46 GMT</pubDate><ttl>60</ttl></channel></rss>